Khảo sát nghiên cứu mô hình tổ chức, chính
sách, cơ chế hoạt động của bảo hiểm y tế ở
việt nam và một số nớc trên thế giới
MụC LụC
đặt vấn đề....................................................................................................1
PHầN 1: TổNG QUAN....................................................................................3
1.1 Nguồn gốc và sự ra đời của Bảo hiểm.....................................
1.2 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của Bảo hiểm......................
1.3 Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm y tế....................................
1.3.1 Vai trò của Bảo hiểm y tế trong xã hội.................................
1.3.2 Mối quan hệ tay ba trong thị trờng Bảo hiểm y tế......................
1.4 Sơ lợc tình hình thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế trên thế giới.
1.4.1 Các phơng thức chi trả Bảo hiểm y tế.......................................
1.4.2 Chính sách Bảo hiểm y tế một số nớc trên thế giới......................
1.5 Bảo hiểm y tế trong mối liên hệ với Bảo hiểm xã hội......................
1.6 Sự hình thành và phát triển của chính sách Bảo hiểm y tế ở Việt Nam
1.6.1 Giai đoạn 1992- 1998.................................................................
1.6.2 Giai đoạn 1998 -2002..............................................................
1.6.3 Giai đoạn từ năm 2002- tới nay ..............................................
PHầN 2:. KếT QUả khảo sát Và BàN LUậN ...........................................
2.1 Đối tuợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu.................................................................
2.1.2 Nội dung nghiên cứu ................................................................
2.1.3 Phơng pháp nghiên cứu.............................................................
2.1.4 Phơng pháp xử lý dữ liệu...........................................................
2.2 Kết quả khảo sát và bàn luận
2.2.1 Hệ thống tổ chức Bảo hiểm y tế .
2.2.2 Phạm vi bao phủ của Bảo hiểm y tế .
2.2.3 Mức phí và phơng thức đóng Bảo hiểm ..
2.2.4 Quản lý và sử dụng quỷ Bảo hiểm y tế
2.2.5 Phơng thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh
Năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ra lời tuyên bố Alma-Ata:
Sức khoẻ cho mọi ngời, đợc xem là cơng lĩnh hành động cho mỗi quốc gia
trên thế giới: Phải chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng.
Từ khi thành lập nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, Đảng và
Nhà nớc ta luôn luôn quan tâm, chú trọng đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ cho nhân dân. Trong thời kỳ bao cấp, mọi ngời dân đợc chăm sóc sức
khoẻ miễn phí, do ngân sách nhà nớc cấp. Tuy nhiên, do sự gia tăng về chi phí y
tế, mô hình bệnh tật ngày càng đa dạng, giá thuốc tăng, việc áp dụng các kỹ
thuật mới vào chẩn đoán và điều trị nên nguồn ngân sách nhà n ớc cấp không
đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.
Từ sau Đại hội VI của Đảng, đất nớc ta bớc vào thời kỳ đổi mới. Ngành Y
tế cũng có nhiều thay đổi trong quản lý và trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân. Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nớc cấp, Chính phủ còn cho phép
thu một phần viện phí tại các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời tìm các nguồn
4
4
tài chính khác nhằm đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh trong điều kiện xoá
bỏ bao cấp, tiến tới thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, nâng cao tính
cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Điều này chỉ có thể thực hiện
đợc thông qua chính sách Bảo hiểm y tế.
Sau 3 năm thí điểm ở một số địa phơng, Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính
phủ) đã ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế kèm theo Nghị định số 299/ HĐBT
ngày 15 tháng 8 năm 1992, chính thức khai sinh ra chính sách Bảo hiểm y tế ở
Việt Nam . Sự ra đời của Bảo hiểm y tế là khách quan và cần thiết, phù hợp với
quá trình đổi mới và phát triển của đất nớc nói chung, của ngành y tế nói riêng,
đáp ứng đợc nhu cầu của xã hội. Bảo hiểm y tế thể hiện tính nhân đạo và công
bằng xã hội trong khám chữa bệnh, đồng thời góp phần đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế y tế. Bảo hiểm y tế đã từng bớc trở thành một nhu cầu tất yếu của xã hội.
Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động của bảo
hiểm y tế ở Việt Nam và một số nớc trên thế giới, chúng tôi tiến hành đề tài:
6
6
hiểm mới do sự xuất hiện của nhiều loại rủi ro mới nh máy bay, xe cơ giới.
Năm 1945 Bảo hiểm xã hội ra đời ở Pháp bao gồm: Bảo hiểm bệnh tật (Bảo
hiểm y tế), Bảo hiểm già yếu, Bảo hiểm tai nạn lao động.
Tại Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội đã có mầm mống dới thời phong kiến Pháp
thuộc. Sau cách mạng tháng tám năm 1945, Chính phủ nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà, đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL ngày 12 tháng 3 năm 1947 thực hiện
Bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí. Bảo hiểm thơng mại Việt Nam
chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1 năm 1965.
Nh vậy, Các hoạt động mang tính chất bảo hiểm phát triển dần theo sự phát
triển của xã hội loài ngời, do sự tồn tại khách quan của các loại rủi ro mà con
ngời cần đến hoạt động dự trữ, bảo hiểm để giảm thiểu và khắc phục hậu quả
của các rủi ro.
I.2. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm.
Trong chơng trình quản lí rủi ro của các tổ chức và cá nhân, bảo hiểm là
một phần rất quan trọng. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm
là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Còn theo quan điểm xã hội, bảo
hiểm không chỉ là sự chuyển giao rủi ro mà còn là sự chia sẽ rủi ro giữa các
thành viên. Bảo hiểm là công cụ có hiệu quả nhất để đối phó với hậu quả tổn
thất do rủi ro gây ra.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động bảo hiểm, định nghĩa
sau đây đợc xem là mang tính chung nhất của bảo hiểm, đợc nhiều ngời chấp
nhận: Bảo hiểm là hoạt động thể hiện ngời bảo hiểm cam kết bồi thờng ( theo
qui luật thống kê) cho ngời tham gia bảo hiểm với điều kiện ngời tham gia
nộp một khoản phí bảo hiểm cho anh ta hoặc ngời ngời thứ ba . Bảo hiểm là
đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó
mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có
tham gia bảo hiểm. Lợi ích này thể hiện trên các mặt sau:
7
8
Còn đối với mỗi cá nhân ai cũng muốn sống khoẻ mạnh, ấm no và hạnh
phúc. Tuy nhiên những rủi ro nh ốm đau, bệnh tật có thể xảy ra bất cứ lúc nào,
không loại trừ ai và không đoán biết trớc đợc. Điều này gây ra các khó khăn về
kinh tế cho bản thân họ và gia đình, đặc biệt là những ngời có thu nhập thấp,
ngời già, trẻ em ...là những ngời bị ảnh hởng nhiều hơn. Do phải chi trả các chi
phí trong quá trình khám chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Gánh nặng về chi phí
chăm sóc sức khoẻ có thể trở thành cái Bẩy nghèo đói cho nhiều ngời .
Do đó để có nguồn tài chính đầy đủ và ổn định dành cho việc chăm sóc
sức khoẻ cho nhân dân, đòi hỏi phải huy động sự đóng góp của các thành viên
trong xã hội nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nớc và củng chính là
phục vụ cho bản thân khi gặp rủi ro. Sự đóng góp này đợc thực hiện thông qua
quỹ bảo hiểm y tế. Tham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất đối với mỗi ngời dân
để chủ động về kinh tế trong khám chữa bệnh khi rủi ro ốm đau xẩy ra.
Nh vậy: Bảo hiểm y tế ra đời góp phần ổn định đời sống của các nhân và
gia đình họ khi gặp rủi ro, ốm đau. Nó đáp ứng đợc đòi hỏi của ngời dân, vừa
phù hợp với yêu cầu chung của xã hội.
Trong khuôn khổ đề tài này, khái niệm Bảo hiểm y tế đợc xem xét dới góc
độ là một phần của chính sách an sinh xã hội trong lĩnh vực y tế, đảm bảo cho
mọi tầng lớp nhân dân, kể cả ngời nghèo, ngời có thu nhập thấp đều đợc chăm
sóc sức khỏe. Do đó Bảo hiểm y tế còn gọi là Bảo hiểm y tế xã hội ( Social
health insurance). Bên cạnh chính sách Bảo hiểm y tế xã hội còn có các loại
hình Bảo hiểm y tế thơng mại, hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thờng đợc
cung cấp bởi các công ty bảo hiểm thơng mại. Sự khác nhau cơ bản giữa hai
loại hình này đợc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa Bảo hiểm y tế xã hội và Bảo hiểm y tế thơng
mại
9
9
BHYT x hộiã
động
Vì chính sách an sinh
xã hội, không kinh
doanh, không hoạt động
vì lợi nhuận
Kinh doanh, họat động
vì mục đích lợi nhuận
I.3.1 Vai trò của bảo hiểm y tế trong xã hội.
Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm y tế cho thấy từ lâu bảo hiểm
y tế đã trở thành một bộ phận có vai trò quan trọng trong xã hội, là một phần
của chính sách an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế đợc coi là một công cụ nhằm đạt
10
10
các mục tiêu của chính sách y tế. Bảo hiểm y tế là một phần không thể thiếu đ-
ợc của xã hội. Vai trò của Bảo hiểm y tế thể hiện ở các điểm sau:
- Thứ nhất: Đảm bảo quyền lợi về chăm sóc y tế và nâng cao chất lợng
khám chữa bệnh cho ngời tham gia Bảo hiểm y tế khi họ bị ốm đau bệnh tật
- Thứ hai: Ngời tham gia Bảo hiểm y tế đợc chia sẻ gánh nặng tài chính cá
nhân khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
- Thứ ba: Bảo hiểm y tế góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nớc,
tạo nguồn tài chính ổn định cho chăm sóc sức khỏe.
- Thứ t: Bảo hiểm y tế góp phần thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực
y tế và tái phân phối thu nhập giữa mọi ngời.
- Thứ năm: Bảo hiểm y tế nâng cao tính cộng đồng và gắn bó giữa các
thành viên trong xã hội.
I.3.2 Mối quan hệ tay ba trong thị trờng bảo hiểm y tế.
Trong thị trờng bảo hiểm y tế thờng thực hiện thanh toán tay ba: ngời tham
gia Bảo hiểm y tế khi sử dụng dịch vụ không trực tiếp thanh toán cho ngời cung
cấp dịch vụ ( hoặc chỉ thanh toán một phần nhỏ trong trờng hợp đồng chi trả ).
,
b
a
o
p
h
ủ
B
H
Y
T
Người sử dụng
dịch vụ CSSK
Y
ê
u
c
ầ
u
c
h
i
t
r
Người mua dịch vụ
CSSK (vd BHYT)
Người cung cấp
dịch vụ CSSK
Đ
i
ề
u
t
i
ế
t
Đ
i
ề
u
t
i
ế
t
Đ
i
ề
u
t
i
ế
(từ năm 1922); nhiều nớc khác trong khu vực hiện nay đã thực hiện khá thành
công Bảo hiểm y tế toàn dân.
Cho đến nay, trên thế giới đã có hơn 100 nớc thực hiện chính sách bảo
hiểm y tế. Tuỳ theo từng nớc mà có sự khác nhau về hình thức, quy mô, phạm
vi, đối tợng thực hiện, nhng đều có bản chất giống nhau là huy động sự đóng
góp của cá nhân, tập thể hay cộng đồng xã hội để lập ra một quỹ chung. Qua đó
hỗ trợ một phần chi phí y tế cho mọi ngời khi khám chữa bệnh.
Phần lớn các nớc đều có hệ thống bảo hiểm y tế hoạt động độc lập hoặc
nằm trong bảo hiểm xã hội đợc nhà nớc tổ chức và thực hiện, không mang tính
14
14
kinh doanh. Bên cạnh đó còn có hệ thống bảo hiểm y tế của t nhân tạo nên sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các hệ thống bảo hiểm y tế.
Trong những năm qua chi phí y tế của các nớc trên thế giới tăng nhanh.
Chính vì sự gia tăng của chi phí y tế, nên quỹ bảo hiểm y tế của nhiều nớc trên
thế giới, kể cả các nớc phát triển, liên tục bị bội chi. Nhà nớc phải bù từ ngân
sách. Vì vậy chính phủ của nhiều nớc đã thực hiện nhiều cuộc cải cách về chế
độ bảo hiểm y tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe để kiểm soát và khống chế đợc
chi phí y tế. Trong những cải cách này thì phơng thức chi trả đợc quan tâm
nhiều nhất bởi vì phơng thức chi trả quyết định tới sự an toàn của quỷ Bảo hiểm
y tế .
I.4.1. Các phơng thức chi trả bảo hiểm y tế.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều phơng thức chi trả khác nhau, mỗi phơng
thức chi trả đều có u nhợc điểm và có sự khác nhau về chất lợng của các dịch vụ
y tế đợc cung cấp, khả năng kiểm soát chi phí y tế, trách nhiệm của các bên
tham gia và chi phí quản lí. Không có mô hình, phơng thức chi trả nào là hoàn
hảo.
Trong Bảo hiểm y tế, ngoài quỹ Bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm, còn
có đối tợng thứ ba là nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ y tế nh Bệnh viện, bác
sỹ, y tá, công nghiệp dợc phẩm . Việc chi trả của qũy bảo hiểm phụ thuộc vào
Khóan quỹ tốt bình th ờng dễ
trọn gói
trợ cấp thất nghiệp, nông dân, nghệ sĩ, phóng viên báo chí, ngời lao động làm
nghề thủ công, sinh viên có 14 học kỳ, ngời hu trí.
Mức đóng bảo hiểm y tế ở Đức là 13,2%, chính phủ cho triển khai bảo
hiểm y tế với phơng thức cùng chi trả cho ngời có thẻ bảo hiểm y tế khi sử
dụng dịch vụ y tế. Ngời có thẻ bảo hiểm y tế chỉ phải chi trả 10% giá trị đơn
thuốc đợc cấp, còn khi điều trị nội trú trong bệnh viện, ngời bệnh chỉ phải chi
trả 11 DM mỗi ngày, còn lại bảo hiểm y tế thanh toán.
Hiện nay, ở Đức đã dần loại bỏ phơng thức chi trả theo bảng giá dịch vụ
để chuyển sang áp dụng các phơng thức thanh toán khác nh: Khoán quỹ ngoại
trú cho hội đồng bác sỹ ngoại trú, thanh toán theo giá ngày giờng bệnh bình
quân và tiến tới thanh toán rộng rãi theo nhóm chẩn đoán.
I.4.2.2. Chính sách bảo hiểm y tế ở Mỹ.
Tại Mỹ tồn tại song song các tổ chức bảo hiểm y tế nhà nớc nh:
Medicare, quỹ bảo hiểm y tế dành cho ngời già trên 65 tuổi tàn tật và suy thận
giai đoạn cuối, quỹ Medicaid dành cho những ngời hởng trợ cấp xã hội, ngời
mù, ngời tàn tật, phụ nữ thu nhập thấp và trẻ em, bên cạnh đó là các quỹ bảo
hiểm y tế t nhân đợc thành lập bởi các công ty dành cho ngời lao đồng làm việc
trong các doanh nghiệp. Công ty bảo hiểm y tế t nhân lớn nhất của Mỹ là
ETNA, cứ 6 ngời dân Mỹ thì có 1 ngời tham gia quỹ bảo hiểm y tế này.
Cho tới tháng 9 năm 2002 có 85,4% dân số Mỹ tham gia 1 trong 3 tổ
chức bảo hiểm y tế trên, 41,2 triệu ngời (tơng đơng 14,6%) không có bảo hiểm
17
17
y tế. Hiện nay chính phủ Mỹ đang áp dụng các biện pháp nh: thẻ tín dụng sức
khỏe, mở rộng chơng trình bảo hiểm y tế cho trẻ em và bảo hiểm y tế cho ngời
nghèo, tăng cờng các trạm y tế để hỗ trợ cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đối tợng có
thu nhập thấp, cho trẻ em và ngời nghèo.
Mỹ là quốc gia có chi phí y tế rất cao, trung bình khoảng 3600
các đối tợng khác nhau nh quỷ Tơng hỗ xã hội nông nghiệp dành cho ngời
làm trong lĩnh vực nông nghiệp ...
I.4.2.4. Chính sách bảo hiểm y tế ở Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc đầu tiên ở Châu á triển khai bảo hiểm y tế bắt buộc.
Luật bảo hiểm y tế bắt buộc cho toàn dân đợc ban hành vào năm 1961.
Mức phí bảo hiểm y tế ở Nhật là 8% lơng, tuỳ thuộc vào từng loại quỹ
bảo hiểm y tế. Ngời tham gia quỹ bảo hiểm y tế phải cùng chi trả 10-30 % chi
phí khám chữa bệnh. Mức cùng chi trả đối với cán bộ, công chức nhà nớc và
ngời lao động trong các doanh nghiệp là 10-20%; ngời lao động tự do và nông
dân cùng chi trả 30%. Đồng thời ngân sách nhà nớc cũng hỗ trợ thêm cho quỹ
bảo hiểm y tế theo các mức sau:
19
19
Chính phủ hỗ trợ 13% chi phí khám chữa bệnh cho đối tợng là ngời lao
động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ 50% chi phí khám chữa bệnh
cho nông dân, hỗ trợ 32-52% chi phí khám chữa bệnh cho ngời lao động tự do,
hỗ trợ 20-33% chi phí khám chữa bệnh cho ngời già.
Tuy vậy các quỹ bảo hiểm y tế ở Nhật Bản liên tục bị bội chi trong nhiều
năm. Bảo hiểm y tế Nhật Bản đang cải cách theo hớng tăng tỷ lệ cùng chi trả,
đồng thời triển khai các biện pháp thanh toán chi phí mới thay cho thanh toán
theo giá dịch vụ.
I.4.2.5. Chính sách bảo hiểm y tế ở Hàn Quốc
Năm 1977, Hàn Quốc ban hành Luật Bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân và
sau 12 năm, vào năm 1989 gần 100% ngời Hàn Quốc có bảo hiểm y tế. Năm
1996, mức phí Bảo hiểm y tế bình quân là 592 USD/ngời/năm, nhng chỉ đảm
bảo thanh toán 41,3% chi phí khám chữa bệnh (phần còn lại do bệnh nhân cùng
chi trả). Tổng chi phí cho y tế năm 1996 là 27 tỉ USD, chiếm 5,89% GDP,
thấp hơn so với các nớc công nghiệp phát triển trên thế giới.
Mặc dù vậy, quỹ Bảo hiểm y tế vẫn lâm vào tình trạng bội chi quỹ
hiểm y tế luôn là một trong những nội dung quan trọng nhất và chiếm vị trí đầu
tiên của chế độ bảo hiểm xã hội. Việc xác định mối quan hệ giữa bảo hiểm y tế
và bảo hiểm xã hội là rất quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện tốt các chính
sách an sinh xã hội.
Bảo hiểm y tế củng nh bảo hiểm xã hội là không mang tính chất kinh
doanh và phần lớn là do nhà nớc tổ chức thực hiện. Theo quy định hiện hành,
các đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng là các đối tợng tham gia
bảo hiểm y tế bắt buộc. Cả bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đều thu phí trên
cùng một đối tợng. Tuy nhiên có sự khác nhau chủ yếu trong việc sử dụng
21
21
nguồn thu. Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ ngắn hạn, phần lớn nguồn thu đợc sử dụng
ngay vào việc chi trả chi phí khám chữa bệnh. Còn quỹ bảo hiểm xã hội dùng
để trả lơng hu, do đó quỹ bảo hiểm xã hội có thể mang đầu t để phát triển sinh
lợi.
I.6. Sự hình thành và phát triển chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam.
Vào những năm cuối của thập kỷ 80, các cơ sở khám chữa bệnh (KCB)
đứng trớc nhiều khó khăn thử thách . Trong khi cơ chế cũ cần xoá bỏ mà cơ
chế mới cha hình thành, các cơ sở khám chữa bệnh lâm vào tình trạng thiếu
kinh phí do nguồn Ngân sách nhà nớc đầu t cho y tế thấp, bình quân chỉ đạt
1,2- 1,5 USD/ngời/năm trong giai đoạn 1986- 1993. Chỉ đáp ứng đợc từ 50-
54%
nhu cầu chi phí thực tế của ngành. Các bệnh viện từ Trung ơng đến tỉnh,
huyện xuống cấp nhiều, đời sống cán bộ nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn.
Điều đó đã làm ảnh hởng không ít đến chất lợng khám chữa bệnh và khả năng
phục vụ ngời bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh.
Thực hiện chủ trơng đổi mới trong lĩnh vực y tế với phơng châm Nhà nớc
và nhân dân cùng làm nhà nớc đã cho phép các cơ sở khám chữa bệnh thu một
chỉ quản lí về mặt chuyên môn nghiệp vụ. Cho đến năm 1993, cả nớc có 53 cơ
quan Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế ở tỉnh, thành phố, 4 cơ quan Bảo hiểm y tế
23
23
của các nghành đợc thành lập và cơ quan Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ
y tế .
Đối tợng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc là: Cán bộ công nhân viên
chức tại chức, hu trí, nghỉ mất sức lao động, chủ sử dụng lao động và ngời lao
động của các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức Đảng, đoàn thể xã hội, các
hội quần chúng, các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, các tổ chức nớc
ngoài có thuê ngời lao động Việt Nam;các đối tợng khác sẽ tham gia BHTY tự
nguyện theo khả năng và nhu cầu. Quỷ bảo hiểm đợc hình thành bằng nguồn
thu từ phí bảo hiểm, mức đóng bảo hiểm y tế là 3% tổng quỹ lơng của các đơn
vị, trong đó ngời lao động đóng 1/3, còn đơn vị quản lý đóng 2/3 .Quỹ bảo hiểm
y tế đợc sử dụng 90% dành cho công tác khám chữa bệnh, trong đó 4,5% làm
nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, 13,5% dùng cho khám và chữa bệnh
ngoại trú, phần còn lại dành cho điều trị nội trú. Chi phí quản lý là 10% trong
đó có 1,5% lập quỹ dự phòng khám chữa bệnh.
Trong giai đoạn này, Bảo hiểm y tế Việt Nam đã đạt đợc nhiều kết quả
đáng khích lệ, số lợng thẻ phát hành và nguồn thu quỹ ngay càng tăng. Tuy
nhiên, bên cạnh đó còn có nhiều khó khăn, vớng mắc cần đợc tháo gỡ. Có
không ít ngời lạm dụng thẻ Bảo hiểm y tế, ngay cả nhân viên y tế củng lạm
dụng, lấy thuốc ra ngoài bán. Nhiều bệnh viện nhân viên y tế gây phiền hà cho
bệnh nhân Bảo hiểm y tế, còn có sự phân biệt đối xử giữa bệnh nhân Bảo hiểm
y tế với các bệnh nhân khám dịch vụ .
24
24
Năm 1994, bắt đầu thực hiện Bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên .Đồng
thời tuyên truyền mở rộng các đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện.