Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây nền kinh tế nớc ta liên tục phát triển đạt đợc
những thàh tựu rất đáng khích lệ với tốc độ tăng trởng ngày càng cao, đời sống
nhân dân đợc cải thiện .Sự chuyển biến tích cực đó thể hiện rõ nét nhất trong
lĩnh vực kinh tế nông nhiệp, nông thôn. Nguyên nhân cơ bản của sự chuyển
biến tích cực này chính là đờng lối kinh tế của Đảng.Sự đổi mới đợc tiến hanh
toàn diện trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội nông thôn.Song điều
quan trọng có ý nghĩa quyết định nhất là đổi mới chính sách và cơ chế quản lý
kinh tế .Chính sự đổi mới này tạo động lực thúc đẩy các hoạt động sản xuất
kinh doanh, khơi dậy tính năng động sáng tạo của ngời lao động kích thích
mạnh mẽ sự phát triểnvà tăng trởng của nền kinh tế nớc ta.
Qua quá trình học tập và nghiê cứu Em đã nhận thức đợc vai trò của kinh
tế nông nghiệp, nông thôn tác động đến quá trình phát triển kinh tế đất nớc.
Do vậy Em đã chọn nghiên cứu đề tài Các chính sách cơ bản tác động đến
nông nghiệp nông thôn Việt Nam .
Đây là lần đầu Em nghiên cứu về các chính sách nên có nhiều thiếu sót.
Em mong Cô giáo và các bạn giụp đỡ và chỉ bảo thêm cho bài viết Em đợc
thành công.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Vai trò của Chính Phủ và các chính sách kinh
tế đối với nông nghiệp nông thôn.
I. Vai trò nông nghiệp nông thôn trong quá trình
phát triển nền kinh tế quôc dân.
1. Đặc điểm kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Nông nghiệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông
nghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con ngời từ bỏ nghề săn bắn và
hái lợm. Do lịch sử lâu đời này mà nền kinh tế nông thôn đợc nói đến nh là nền
này chịu ảnh hởng của quy luật tiêu dùng sản phẩm và quy luật tăng năng suất
lao động.
2. Vai trò của nông nghiệp nông thôn với phát triển kinh tế.
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với
các nớc đang phát triển. Bởi vì ở các nớc này đa số nông dân sống dựa vào nghề
nông. Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân, chính Phủ cần
có chính sách tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất cây
trồng và tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn.
Trừ một số ít nớc dựa vào nguồn tài nguyên phong phú để suất khẩu, đổi lấy
lơng thực, còn hầu hết các nớc đang phát triển phải sản xuất lơng thực cho nhu
cầu tiêu dùng của dân số nông thôn cũng nh thành thị. Nông nghiệp còn cung
cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh tế. Với hơn 70% dân số sống ở nông
thôn thực sự là nguồn nhân lực dự trữ dồi dào cho khu vực thành thị. Để đáp
ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế, việc gia tăng dân số ở khu vực thành
thị sẽ không đủ khả năng đáp ứng. Cùng với việc tăng năng suất lao động trong
nông nghiệp, sự di chuyển dân số ở nông thôn ra thành thị sẽ là nguồn nhân lực
đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá đất nớc. Bên cạnh đó nông nghiệp là
ngành cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Khu vực nông nghiệp có thể là ngành cung cấp vốn cho phát triển kinh tế,
có ý nghĩa lớn là ngành cung cấp vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp hoá. Đa
số các nớc đang phát triển có những thuận lợi đáng kể, đó là tài nguyên thiên
nhiên và các sản phẩm nông nghiệp. ở các nớc không giầu tài nguyên nh dầu
hoả, thì nông sản đống vai trò quan trọng trong xuất khẩu, và ngoại tệ thu đợc
sẽ dùng để nhập khẩu máy móc trang thiết bị cơ bản và những sản phẩm trong
nớc cha sản xuất đợc.
Dân số nông thôn ở các nớc đang phát triển còn là thi trờng quan trọng để
tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nh t liệu sản xuất hàng tiêu dùng. Nếu Nhà nớc
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn và thu nhập đợc
một vài vụ, có kết quả tốt họ mới bắt chiếc làm theo.
* Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp - Đa dạng hoá cây trồng:
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đa dạng hoá nông nghiệp là bớc chuyển đầu tiên trong sự quá độ từ sản
xuất tự, cung tự cấp sang chuyên môn hoá. Giai đoạn này cây lơng thực cơ bản
không còn là sản phẩm chính của nông nghiệp, bởi vì nông dân bắt đầu chuyển
sang trồng các loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao (hớng ra thị trờng). Những
công việc này làm tăng hệ số sử dụng thời gian lao động trong nông nghiệp,
giảm bớt thời gian nhàn rỗi. ở những nơi không đủ lao động trong thời vụ cao
điểm thì có thể sử dụng máy móc công cụ nhỏ để tiết kiệm sức lao động(nh
máy cày, máy tuốt lúa, máy xay xát....) nhằm đảm bảo sức lao động cho các
hoạt động khác.
Để có thể giải phóng một phần đất đai để trồng cây thơng phẩm mà vẫn đảm
bảo cung cấp đủ lơng thực cơ bản, bằng cách, nông dân sử dụng những giống
cây trồng mới để tăng năng suất cây trồng chính nh lúa, gô...
Nh vậy, việc đa dạng hoá cây trồng kết hợp với các biện pháp công nghệ,
chủ yếu là công nghệ sinh học làm cho năng suất và sản lợng gia tăng. Ngời
nông dân có thể bán sản phẩm d thừa để nâng cao mức tiêu dùng cho gia đình
và tăng đầu t cho sản xuất. Việc đa dạng hoá cây trồng có thể làm giảm tác
động do mất mùa cây trồng chính gây ra và đảm bảo thu nhập ổn định hơn.
* Chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp thơng mại hiện đại.
Nông nghiệp chuyên môn hoá là giai đoạn cuối cùng và tiên tiến nhất của
hộ nông dân cá thể. Đó là loại hình nông nghiệp phổ biến ở các nớc công
nghiệp phát triển. Nền nông nghiệp này đã đáp ứng và song hành với sự phát
triển toàn diện trong các lĩnh vvực khác của nền kinh tế . Đời sống nông dân đ-
ợc cải tiện; tiến bộ của công nghệ sinh học làm tăng năng suất cây trồng kết hợp
với cơ giới hoá làm tăng năng suất lao động và việc mở rộng thị trờng trong nớc
và quốc tế tạo nên những yếu tố cơ bản cho sự tăng trởng của nó.
ở các trang trại chuyên môn hoá việc cung cấp lơng thực cho gia đình với
họ đầu t theo quy mô lớn nh hệ thống điện, đờng sá, thuỷ lợi...
Chính Phủ cần có chính sách hỗ trợ họ dới nhiều hình thức đầu t để tạo điều
kiện phát triển sản xuất và lu thông hàng hoá.
Sản xuất nông nghiệp có độ rủi ro cao do hoạt động của nó phụ thuộc nhiều
vào yếu tố khách quan, đặc biệt là thời tiết. Mặt khác do đặc điểm về co giãn
cung, cầu sản phẩm nông nghiệp thờng làm cho giá cả sản phẩm có biến động
lớn. Do đó, chính Phủ cần có chính sách bảo hộ và trợ giúp về giá cả tạo sự ổn
định cho sản xuất nông nghiệp.
2. Phân loại chính sách kinh tế tác động đến nông nghiệp, nông thôn.
- Phân loại theo địa chỉ tác động của chính sách, có :
+ chính sách đầu vào của sản xuất.
+ chính sách tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ chính sách điều chỉnh đầu ra của sản xuất.
- Phân loại chính sách theo mức độ quan trọng của mục tiêu cần đạt tới của
chính sách, có :
+ chính sách phục vụ cho mục tiêu cơ bản.
+ chính sách phục vụ cho mục tiêu thứ yếu.
+ chính sách phục vụ cho mục tiêu tổng hợp.
- Phân loại chính sách theo thời gian của mục tiêu cần đạt tới, có :
+ các chính sách tác động dài hạn.
+ các chính sách tác động trung hạn.
+ các chính sách tác động ngắn hạn.
- Phân loại chính sách theo nhóm, có :
Nhóm một : Bao gồm các chính sách có vai trò tác động trực tiếp vào ngời
sản xuất, đó là :
+ chính sách trợ gí trực tiếp đối với sản phẩm đầu ra tại nơi sản xuất.
+ chính sách tín dụng.
+ chính sách thuế nông nghiệp.
cao, đảm bảo điều kiện nông dân phát huy hết khả năng kinh doanh nông
nghiệp của từng hộ gia đình. Song, mặt trái của quả trình mua bán, luân chuyển
tự do hoá ruộng đất đã dẫn đến sự tích tụ không hợp lý ruộng đất vào tay một số
t nhân không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp. Trả giá cho
sự tích tụ này là có hàng triệu hộ nông dân do bán đất canh tác để lấy tiền sinh
sống trớc mắt, dẫn tới tình trạng cùng quẫn không còn đất sản xuất trong khi
các khu vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ cha đủ sức thu hút họ. Tình trạng
này diễn ra phổ biến ở các nớc châu Phi, Phillippin, Thái Lan ... làm cho tình
hình xã hội nông thôn và toàn xã hội nói chung thiếu ổn định. Để hạn chế mặt
tiêu cực trên đây, kinh nghiệm của một số nớc châu Âu nh Pháp, Thuỵ Điển...
đã ban hành nhiều chính sách hạn chế tích tụ ruộng đất quá mức và quy định rõ
các đối tợng đợc tham gia vào thị trờng ruộng đất ở nông thôn.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất.
Hỗ trợ đầu vào cho sản xuất đối với hộ nông dân là lĩnh vực thu hút nhiều sự
quan tâm của các Chính Phủ. Những chính sách quan trọng thực hiện mục tiêu
hỗ trợ đầu vào bao gồm :
* Chính sách tín dụng ở hầu hết các nớc đang áp dụng chế độ cho nông dân
vay vốn với lãi suất u đãi, đặc biệt ;à các hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất hoàn toàn
có ý nghĩa to lớn trong việc giúp họ vơn lên thoát khỏi cảnh nghèo nàn. Có thể
nói chính sách này có hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội. Song thực tế áp
dụng chính sách tín dụng u đãi đối với ngời sản xuất ở nông thôn trong nhiều
năm gần đây ngời ta đã rút ra rằng: đa số các chơng trình tín dụng có trợ cấp th-
ờng khó thành công, ít ra trên ba phơng diện.
Một là: Chính đối tợng cần đợc hởng chế độ u đãi là các hộ nông dân nghèo
thiếu vốn sản xuất lại thờng đợc vay với tỷ lệ rất thấp. Còn phần lớn các khoản
tín dụng này rơi vào các đối tợng không thuộc diện u đãi, có khả năng sử dụng
ảnh hởng của họ đối với công việc quản lý và phân phối tín dung để đợc nhận
tín dụng. Vì vậy mục tiêu giảm nghèo của tín dụng ít thành công.
hoặc không thu thuế nông nghiệp đối với nông dân để giảm gánh nặng đóng
góp của nông dân, kích thích sản xuất phát triển. Chính Phủ không coi thuế
nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của ngân sách... mà thu ở các khâu chế biến,
xuất khẩu nông sản và từ các hoạt động kinh tế có giá trị khác, nh Đài Loan,
Malaixia...và ở một số nớc châu Âu nh Pháp, Đức, Tiệp... chỉ còn sử dụng chủ
yếu là thuế đất và thuế thu nhập.
Về chính sách phát triển thuỷ lợi và thu lợi phí, hầu hết các nớc bỏ vốn đầu
t xây dựng các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp còn t nhân và
nông dân ít đâu t. Đồng thời nhà nớc thu thuỷ lợi phí ở mức thấp hoặc không
thu để tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân thâm canh phát triển sản xuất.
2. Kinh nghiệm xây dựng các chính sách kinh tế tác động gián tiếp lên
sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
* chính sách hỗ trợ, điều tiết sản xuất nông nghiệp thông qua thúc đẩy hạn
chế xuất khẩu.
Đối với chính sách xuất khẩu nông sản, Chính Phủ các nớc rất quan tâm đến
việc đảm bảo xuất khẩu sao cho có hiệu quả cao để đảm bảo và khuyến khích
sản xuất trong nớc. Đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển khi xuất khẩu
nông sản chiếm vị trí u thế trong tổng giá trị xuất khẩu và là nơi tạo nhiều công
ăn việc làm cho lao động ở nông thôn. Nhiều nớc nh Mỹ, Thái Lan, Malaixia,
Inđônêxia, Braxin, Kenya...đều phải sử dụng triệt để hỗ trợ kinh tế của nhà nớc
và các biện pháp nhằm duy trì gia tăng sản xuất xuất khẩu, trong điều kiện
luôn diễn ra sự thay đổi giá cả trên thị trờng thế giới. Kinh nhiệm chỉ ra rằng vai
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trò của Chính Phủ là xây dựng cho đợc một chính sách xuất khẩu hợp lý, liên
tục theo rõi tìm kiếm thị trờng giúp ngời sản xuất nông nghiệp, luôn luôn chuẩn
bị các điều kiện để điều chỉnh cung- cầu các mặt hàng xuất khẩu và sẵn sàng
hậu thuẫn về tài chính đối với các hoạt động xuất khẩu khi rơi vào tình trạng
khó khăn.
* chính sách đâu t xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế nông thôn.
3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm và sự vận dụng vào phát triển nông
nghiệp nông thôn Việt Nam.
Từ các kinh nghiệm thành công cũng nh cha thành công trong xây dựng các
chính sách tác động trực tiếp và tác động gián tiếp lên kinh tế nông thôn ở các
nớc và lãnh thổ đã phân tích, có thể rút ra một số bài học sau :
Một là : Kinh tế nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận quan trọng của mỗi
hệ thống kinh tế, nó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn kém phát triển, ngời
nghèo đông so với khu vực khác, vì vậy chính sách kinh tế của Chính Phủ phải
thể hiện :
- Coi trọng phát triển sản xuất, tạo cơ sở đảm bảo nguồn lơng thực chính cho
dân c nông thôn và toàn xã hội. Trên cơ sở đó phát triển toàn nền kinh tế.
- Sự nâng đỡ u đãi cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế
đất nớc, khi nông nghiệp, nông thôn còn yếu kém và trong hoàn cảnh lạc hậu,
trợ giúp nông dân nghèo ở nông thôn đợc xem là t tởng trung nhất trong chính
sách đối với nông nghiệp, nông thôn.
Hai là : Cùng khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, chính sách phải
hớng vào tái tạo các nguồn lực đầu vào và bảo vệ môi trờng sinh thái, đảm bảo
sự phát triển lâu bền. Đó là tiến bộ tích cực của chính sách kinh tế trong các
điều kiện khác nhau.
Ba là : Sự lựa chọn chính sách cho từng giai đoạn phát triển, đối với từng
khu vực nông thôn khác nhau đóng vai trò quyết định sự thành công của quá
trình vận hành. Không chính sách nào có thể tác động mọi mặt theo chủ quan,
vì sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tác động trực tiếp với chính sách tác
động gián tiếp là một yêu cầu rất quan trọng.
Bốn là : Cải cách và đổi mới chính sách kinh tế đối với nông nghiệp, nông
thôn là quá trình liên tục cho phù hợp với quá trình phát triển kinh tế.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
Những chính sách CƠ BảN (CHủ YếU) TRONG NôNG
khách hàng. Hệ thống lãi suất u đãi chỉ còn duy trì đối với các khoản tín dụng đặc
biệt dành cho các vùng núi cao, hải đảo, vùng kinh tế mới...
+ Phát triển nhiều kênh truyền tải vốn cho vay tới hộ nông dân, đó là: Cho
vay qua các tổ chức, các hội, đoàn thể... nh (hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu
chiến binh, đoàn thanh liên, hợp tác xã ...). Từ đó các hộ nông dân có cơ hội đ-
ợc vay vốn để tạo nhiều việc làm mới , tăng thu nhập, giảm nghèo đói.
+ Ngoài ra thu hút và mở các nguồn vốn cho vay của các tổ chức trong và
ngoài nớc, hình thành nhiều khoản cho vay theo mục tiêu dới dạng dự án, chơng
trình tín dụng nhân đạo. Thực hiện chính sách mở cửa, trong những năm gần
đây, đã có nhiều tổ chức phi chính Phủ nớc ngoài đa vốn vào Việt Nam cho
nông dân vay để phát triển sản xuất. Nổi bbật nhất là các tổ chức nh SIDA
(Thụy Điển); Quaker (Mỹ); UNFPA (Liên hợp quốc thông qua FAO) Quỹ nhi
đồng Anh (SCFGB); PAM ...với số vốn lên tới hàng triệu $. Điều đó góp phần
đáng kể vào việc tạo vốn phát triển cho kinh tế nông thôn .
Những nội dung đổi mới của chính sách tạo vốn tín dụng trên đây thực sự có
tác dụng tích cực trên cả hai mặt hai mặt :
Một là thực hiện cho vay tới các hộ nông dân với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế cùng hỗ trợ, tạo vốn ban đầu cần thiết để hộ nông dân phát
triển sản xuất, xoá bỏ các khoản vay nguyên tắc kém hiệu quả trớc kia. Chính
sách này đợc đông đảo nông dân hởng ứng thực hiện, vay- trả sòng phẳng. Theo
báo cáo của NH Nông nghiệp Việt Nam, mặc dù lãi suất cho hộ nông dân vay
không hề u đãi nhng kêt quả trả nợ rất tốt. Đến cuối năn 1992 có tới 96% hộ
nông dân vay đã thanh toán xong, chỉ có 4% nợ quá hạn, song số này vẫn có đủ
khả năng trả nợ. Thực tế khẳng định thành công của chính sách tín dụng trong
những năm vừa qua, đồng thời cho thấy vai trò to lớn của chính sách phát triển
tín dụng tới hộ sản xuất, và dần dần hình thành thị trờng vốn nông thôn, trong
quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá nhiều thành phần.
Hai là: nâng cao nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
phù hợp với yêu cầu đổi mới của cơ chế kinh tế và các chính sách vĩ mô khác,
đặc biiệt là thích nghi với hoạt động tín dụng theo theo quy luật của nền kinh tế
thuế nh : thuế nông nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp, thuế hàng hoá, thuế môn
bài, thuế sát sinh ...Nhng trong đó tỷ trọng thuế nông nghiệp chiếm trên 80%
tổng thu thuế nông thôn và có chiều hớng tăng lên. Trong khi đó các loại thuế
khác chỉ chiếm 10% và có xu thế giảm.
Do đặc điểm này sự đổi mới chính sách thuế ở nông thôn giai đoạn 1980-
1993 vừa qua chủ yếu tập trung vào thuế nông nghiệp. Lần đầu tiên chính sách
15