Luận văn cuối khoá
Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc.
Những năm qua hoạt động bảo hiểm xã hội đã góp phần quan trọng để ổn định cuộc
sống về mặt vật chất và tinh thần cho ngời lao động, đồng thời đảm bảo an toàn xã
hội, đẩy nhanh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Trong quá trình hoạt động của quỹ BHXH luôn luôn tồn tích một khối lợng
tiền tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng. Số tiền tạm thời nhàn rỗi này đợc Nhà nớc cho
phép đầu t để thực hiện các biện pháp bảo tồn và tăng trởng quỹ.
Trên thực tế, tính đến hết năm 2003 số d quỹ BHXH đã lên tới 33.698 tỷ đồng
và dự tính đến năm 2010 số d của quỹ sẽ lên tới trên 100.000 tỷ đồng.
Với khối lợng tiền nhàn rỗi nh vậy cùng với việc Nhà nớc cho phép đợc đem ra
đầu t nhằm mục đích tăng trởng quỹ. Tuy nhiên với những biến động phức tạp của thị
trờng tài chính nh hiện nay thì việc đầu t tăng trởng quỹ quả thật không phải là đơn
giản chút nào nếu hoạt động đó không tính chuyên nghiệp cao, nhng hiện nay BHXH
Việt Nam vẫn cha có bộ phận chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ này. Vì vậy trong
thời gian tới BHXH Việt Nam cần thiết phải hình thành một tổ chức độc lập chuyên
trách giúp Tổng Giám đốc quản lý và thực hiện các biện pháp đầu t tăng trởng. Vậy
tổ chức đó là gì? Ban quản lý đầu t tăng trởng quỹ BHXH hay Công ty đầu t tăng tr-
ởng quỹ BHXH Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của tổ chức đó nh thế nào?
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: Mô hình và cơ
chế hoạt động của tổ chức đầu t tăng trởng quỹ BHXH ở Việt Nam là hết sức cần
thiết, không chỉ giúp ta hiểu đợc những vấn đề đã nêu mà còn giúp cho BHXH Việt
Nam nhanh chóng thành lập bộ phận đầu t vừa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của
ngành BHXH, vừa thực hiện đợc các biện pháp đầu t đúng pháp luật và có hiệu quả.
Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Quỹ BHXH và sự cần thiết của tổ chức đầu t tăng trởng quỹ BHXH.
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
1
Luận văn cuối khoá
Chơng 2: Thực trạng đầu t và kinh nghiệm của một số nớc về mô hình và cơ
đau điều đó còn đòi hỏi phải có dữ trữ bảo hiểm. Nh vậy việc tạo lập quỹ dự trữ
bảo hiểm cho ngời lao động những lúc rủi ro, bất ngờ hay lúc tuổi già, về hu là một
tất yếu khách quan.
Quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời
tham gia bảo hiểm xã hội hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung nhằm chi trả cho
những ngời đợc bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm.
Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau. Trớc hết, đó
là phần đóng góp của ngời sử dụng lao động, ngời lao động và Nhà nớc. Đây là
nguồn lớn nhất và cơ bản nhất của quỹ bảo hiểm xã hội. Thứ hai, là phần tăng thêm
do hoạt động bảo toàn và tăng trởng quỹ mang lại. Thứ ba, là phần nộp phạt của
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
3
Luận văn cuối khoá
những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ và BHXH và nguồn vốn khác.
Quỹ BHXH chủ yếu đợc sử dụng để chi trả cho các mục đích sau: Trả trợ cấp
cho các chế độ BHXH; chi phí cho bộ máy hoạt động BHXH chuyên nghiệp; Chi phí
bảo đảm các cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý khác.
1.1.2. Đặc trng cơ bản của quỹ Bảo hiểm xã hội
- Mục đích của quỹ bảo hiểm xã hội là huy động sự đóng góp của ngời lao
động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc, tạo lập quỹ tài chính để phân phối sử dụng
nó, đảm bảo bù đắp một phần cho ngời lao động khi có những sự cố bảo hiểm xất
hiện nh: ốm đau, tai nạn, hu trí, thất nghiệp làm giảm hoặc mất hẳn các khoản thu
nhập thờng xuyên từ lao động, nhằm duy trì và ổn định cuộc sống của họ. Nh vậy
hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội không phải vì mục đích lợi nhuận mà vì phúc lợi,
quyền lợi của ngời lao động, của cả cộng đồng. Thông qua đó, xã hội đợc ổn định
hơn, hạn chế đợc những tiêu cực và tạo điều kiện tốt hơn để xã hội phát triển. Đây
chính là mục tiêu xã hội của bất kỳ một hệ thống BHXH nào. Chính mục tiêu này là
điều kiện đầu tiên đảm bảo sự phát triển của quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng và hệ
thống bảo hiểm xã bội nói chung. Bởi vì, hoạt động BHXH nếu vì mục tiêu kinh tế sẽ
hạn để bảo toàn và phát triển quỹ BHXH.
+ Phần thực hiện các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang
tính chất không bồi hoàn. Nghĩa là khi ngời lao động đang trong quá trình lao động
không bị ốm đau, tai nạn thì không đ ợc bồi hoàn; khi bị ốm đau tai nạn thì đợc bồi
hoàn, mức bồi hoàn phụ thuộc vào mức độ ốm đau, tai nạn Phần này phản ánh tính
chất cộng đồng của quỹ BHXH. Vì vậy, để đảm bảo cho quá trình sản xuất phát triển
bình thờng và góp phần thực hiện an toàn xã hội, đòi hỏi không chỉ ngời lao động mà
còn cả ngời sử dụng lao động và Nhà nớc có trách nhiệm đóng góp và tổ chức quản lý
quỹ BHXH.
- Sự tổ chức và phát triển của quỹ BHXH phụ thuộc vào điều kiện phát triển
kinh tế, xã hội của từng quốc gia. BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng
hoá. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì
hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
5
Luận văn cuối khoá
ra đời và phát triển của BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng phản ánh sự phát
triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém
không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh. Ngợc lại kinh tế càng phát triển, hệ
thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH càng mở rộng, các hình thức BHXH
ngày càng phong phú. Vì vậy việc vận dụng và thực hiện các chế độ BHXH do Tổ
chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng nớc, để vừa ổn định đời sống của ngời lao động, vừa ổn định phát
triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
- Tuỳ theo mô hình quản lý BHXH của từng nớc, quỹ BHXH có thể bao gồm
nhiều quỹ thành phần nh quỹ BHXH cho các chế độ BHXH dài hạn, quỹ BHXH cho
các chế độ BHXH ngắn hạn hoặc có nớc chia ra từng loại quỹ nh: quỹ bảo hiểm hu
trí, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảo hiểm ốm đau Tuy nhiên dù đ ợc tổ chức nh
thế nào thì quỹ BHXH cũng nhằm mục đích chủ yếu là chi trả trợ cấp các chế độ
BHXH cho những trờng hợp đợc bảo hiểm. Ngoài ra quỹ BHXH còn phải trang trải
động của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính có thể đợc mô tả qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sự vận động của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính:
Trên thị trờng tài chính, quỹ BHXH thực hiện mua bán các công cụ tài chính
nh các loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán tiền tệ Nh vậy, thông qua hoạt động
đầu t tài chính của quỹ, các khoản đóng góp BHXH đã đợc chuyển hoá thành vốn
cung cấp cho ngời thiếu vốn trên thị trờng. Với vai trò này, quỹ BHXH đợc xếp vào
các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng. Chu trình tài chính của quỹ BHXH là
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
7
Những người thiếu vốn
-Cá nhân
-Người SDLĐ
-Đối tượng khác
Đóng góp
Quỹ BHXH
Vốn
Thị trường
tàichính
Vốn
Vốn
Luận văn cuối khoá
chu trình tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị trờng tài chính.
Quá trình tham gia của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính đợc thực hiện trên
hai thị trờng: Sơ cấp và thứ cấp. Trên thị trờng tài chính sơ cấp, việc mua bán chứng
khoán phát hành lần đầu của quỹ BHXH sẽ làm tăng quy mô vốn đầu t cho thị trờng.
Còn trên thị trờng thứ cấp, hoạt động mua bán các công cụ tài chính nhằm tìm kiếm
lợi ích của quỹ sẽ góp phần tăng tính thanh khoản cho thị trờng.
Hoạt động tích cực của quỹ BHXH sẽ không chỉ có tác dụng tài trợ vốn cho
nền kinh tế, mà còn làm giảm rủi ro thanh khoản và chuyển hóa tốt hơn thời hạn của
công cụ tài chính.
hạn. Nhìn theo khía cạnh cơ học có thể thấy việc thu quỹ BHXH từ các khoản đóng
góp vào quỹ là khó có thể đáp ứng đợc các nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH.
Nếu quỹ BHXH không đợc đa ra đầu t thì theo thời gian nó sẽ bị mất đi phần lớn giá
trị do lạm phát. Để quỹ BHXH có đủ khả năng chi trả thờng xuyên, ngoài các nguồn
đóng góp, cần thiết phải có các khoản thu nhập từ bản thân hoạt động đầu t quỹ.
Thứ hai: Trong nền kinh tế thị trờng, mọi nguồn lực đều phải không ngừng
vận động. Thông thờng nguồn đóng góp quỹ của các đối tợng tham gia bảo hiểm xã
hội sẽ đợc tập trung vào quỹ BHXH, sau khi nhập quỹ phần lớn sẽ không đợc mang
ra sử dụng ngay vì kỳ thanh toán cho các chế độ hu trí, mất sức lao động, tử tuất th-
ờng kéo dài. Đây là nguồn vốn nhàn rỗi to lớn mà BHXH cần phải cung cấp để tài trợ
cho nền kinh tế.
Thứ ba: Thực tế cho thấy đến cuối năm 2003 quỹ BHXH đã có số d lên tới
33.698 tỷ đồng, dự kiến đến năm 2010 số d quỹ BHXH sẽ lên tới trên 100.000 tỷ.
Tuy nắm giữ trong tay một khoản tiền khổng lồ nhng quỹ BHXH đang gặp một số
khó khăn có thể ảnh hởng đến khả năng an toàn của quỹ. Trong tơng lai quỹ BHXH
càng phải chi nhiều hơn do số ngời hởng chế độ ngày càng nhiều. Không những thế
các chính sách từ thời điểm ra đời cho tới thời điểm thực thi cũng đã có sự thay đổi
bất lợi cho việc chi trả BHXH. Ví dụ, nh sự biến đổi theo chiều hớng tăng lên của tiền
lơng đã gây khó khăn cho quỹ BHXH khi phải chi trả cho đối tợng hởng theo mức l-
ơng hiện tại lúc họ nghỉ hu
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
9
Luận văn cuối khoá
Với những lý do và thực tế nêu trên , có thể khẳng định rằng nếu không có các
biện pháp đầu t tăng trởng quỹ BHXH để tiến tới tự cân đối thu chi quỹ BHXH thì tới
một lúc nào đó, số chi quỹ BHXH sẽ vợt quá số thu và quỹ BHXH sẽ rơi vào tình
trạng mất cân đối. Vì vậy việc tìm ra các giải pháp đầu t tăng trởng quỹ BHXH là hết
sức cần thiết trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.
Hiện nay, ở Việt Nam hoạt động đầu t vẫn do Ban kế hoạch thuộc BHXH đảm
nhiệm. Việc kiêm nghiệm nhiều vai trò nh vậy làm cho hiệu quả của công tác đầu t ở
trờng vốn ra đời và tồn tại.
- Quy luật hình thành và vận động của lãi suất trên thị trờng
Giá vốn hay lãi suất trên thị trờng cũng đợc hình thành theo yêu cầu của quy
luật giá trị. Đó là giá cả (giá vốn) phải phù hợp với giá trị trên thị trờng. Nhng giá vốn
- lãi suất thị trờng lại đợc hình thành trên cơ sở khách quan của quy luật cung cầu
vốn. Vốn cung ứng trên thị trờng nhiều hơn cầu thì lãi suất giảm, ngợc lại vốn cung
ứng trên thị trờng ít hơn cầu thì lãi suất tăng. Nghĩa là lãi suất hình thành theo thị tr-
ờng và phản ánh đúng giá trị của vốn ở mọi không gian và thời gian. Quy luật giá trị,
quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh trên thị trờng vốn tác động khách quan đến
quá trình hình thành và vận động của lãi suất trên thị trờng làm cho giá vốn - lãi suất
tăng lên hay giảm đi phù hợp với giá trị của vốn. Đơng nhiên sự hình thành và vận
động của lãi suất trên thị trờng cũng mang tính không gian và thời gian rõ nét nh giá
cả các loại hàng hoá thông thờng. Vì vậy vận dụng quy luật lãi suất trên thị trờng là
phải quy định và điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với từng không gian và thời gian.
Không thể áp đặt một lãi suất cứng nhắc trên thị trờng toàn quốc hoặc ổn định lãi suất
trong một thời gian dài không tính đến sự vận động của cung, cầu về vốn giữa các
vùng và giữa các thời gian khác nhau.
- Nguyên tắc hình thành và vận động của lãi suất đầu t tăng trởng quỹ BHXH.
Do yêu cầu của hoạt động đầu t trên thị trờng là phải bảo toàn đợc vốn. Hơn
thế nữa hoạt động đầu t quỹ BHXH còn phải đợc tăng trởng. Phần vốn tạm thời nhàn
rỗi phải đợc phát triển ngày càng lớn để đáp ứng nhu cầu chi trả dài hạn. Từ mục đích
đó đòi hỏi hoạt động đầu t quỹ BHXH phải có lãi, lãi suất đầu t phải lớn hơn tỷ lệ trợt
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
11
Luận văn cuối khoá
giá trên thị trờng, nghĩa là phải có lãi suất thực dơng.
Nếu gọi P là hiệu suất đầu t quỹ BHXH; G là tỷ lệ trợt giá trên thị trờng thì
nguyên tắc lãi suất trong đầu t quỹ BHXH là: P G.
Cơ chế hình thành lãi suất dơng của hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH
cũng phù hợp với cơ chế hình thành lãi suất đầu t nói chung trên thị trờng vốn. Lãi
Từ những vấn đề trên đây đòi hỏi khi xây dựng mô hình và cơ chế hoạt động
của tổ chức đầu t tăng trởng quỹ BHXH phải tuân theo những quy luật của thị trờng
đó là quy luật cung cầu về vốn và quy luật vận động của lãi suất trên thị trờng.
1.3.2. Xét về thực tiễn
* Thực trạng về mô hình tổ chức
Theo quyết định 606/TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tớng Chính phủ về việc
ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam thì cơ cấu tổ chức bộ
máy BHXH Việt Nam bao gồm 8 ban và văn phòng và trung tâm, quyết định này chỉ
rõ, khi thực hiện phơng án bảo toàn và phát triển quỹ sẽ thành lập tổ chức riêng do
Thủ tớng Chính phủ quy định. Theo Nghị định số 100/2002/NĐ - CP của Chính phủ
ban hành ngày 06 tháng 12 năm 2002 quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, thì BHXH Việt Nam bao gồm các ban, văn phòng
và trung tâm nh sau:
1. Ban Chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội;
2. Ban Kế hoạch - tài chính;
3. Ban Thu BHXH;
4. Ban Chi BHXH;
5. Ban BHXH tự nguyện;
6. Ban giám định y tế;
7. Ban tuyên truyền BHXH;
8. Ban hợp tác quốc tế;
9. Ban tổ chức cán bộ;
10. Ban kiểm tra;
11. Văn phòng;
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
13
Luận văn cuối khoá
12. Trung tâm nghiên cứu khoa học BHXH;
13. Trung tâm Công nghệ thông tin;
14. Trung tâm đào tạo và bồi dỡng nghiệp vụ BHXH;
nhiệm thực hiện các biện pháp bảo toàn giá trị và tăng trởng các quỹ Bảo hiểm. Việc
dùng tiền nhàn rỗi của các quỹ Bảo hiểm để đầu t phải đảm bảo an toàn, bảo toàn đợc
giá trị và có hiệu quả về kinh tế - xã hội. Các hình thức đầu t nh: mua trái phiếu, tín
phiếu, kỳ phiếu, công trái KBNN và của các ngân hàng thơng mại; cho NSNN, quỹ
hỗ trợ đầu t quốc gia, Ngân hàng chính sách vay ; đầu t vốn vào một số dự án có
nhu cầu về vốn do Thủ tớng Chính phủ quyết định.
Đơng nhiên để Chính phủ có quyết định đúng đắn trong việc đầu t vốn và có
hiệu quả nhất, thì BHXH Việt Nam phải chủ động nghiên cứu thị trờng, phát hiện
những nơi cần vốn, trên cơ sở đó đề xuất với Chính phủ phơng án đầu t thích hợp.
Thực tế trong những năm qua do BHXH cha có tổ chức chuyên trách làm công tác
đầu t tăng trởng nên nghiệp vụ tìm đối tác đầu t hầu nh không thực hiện đợc. Hầu hết
các dự án là do Chính phủ chỉ định, BHXH Việt Nam chỉ là cơ quan thừa hành lệnh
của Chính phủ. Đây là mặt hạn chế trong công tác đầu t tăng trởng quỹ BHXH ở nớc
ta, hạn chế đó đã biến BHXH từ chủ động tìm đối tác thành bị động.
Kinh nghiệm ở các nớc, hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH nói chung cũng
do Chính phủ điều hành, nhng Chính phủ chỉ ra quyết định khi có đề xuất của BHXH.
Ví dụ Malaysia, tất cả các dự án đợc Chính phủ phê chuẩn đầu t từ quỹ BHXH đều do
cơ quan an sinh xã hội Malaysia đề xuất. Ngoài các danh mục đầu t do Chính phủ
quy định, cơ quan an sinh xã hội Malaysia còn đợc phân cấp tự quyết định đầu t vào
một số dự án cha đủ tầm chiến lợc quốc gia, các dự án cho doanh nghiệp vay với khối
lợng tiền không lớn để khuyến khích ng ời lao động và chủ sử dụng lao động tích
cực tham gia BHXH. Đơng nhiên để làm đợc việc đó, cơ quan an sinh xã hội
Malaysia có một tổ chức chuyên làm công tác đầu t tăng trởng. Ví dụ Quỹ dự phòng
EFP Malaysia có một ban gồm 7 thành viên chuyên trách làm công tác đầu t tăng tr-
ởng do Phó Tổng Giám đốc trực tiếp làm trởng ban, cơ quan an sinh xã hội (socso)
cũng có một bộ phận chuyên trách làm công tác đầu t.
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
15
Luận văn cuối khoá
Từ yêu cầu thực tế nớc ta và kinh nghiệm của các nớc, BHXH Việt Nam cần
nhiều khó khăn, điều này gây ảnh hởng đến độ an toàn của quỹ và việc chi trả các chế
độ BHXH.
Từ những nội dung tồn tại trong công tác đầu t tăng trởng nh trên, luận văn cho
rằng cấp thiết phải thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác đầu t tăng trởng quỹ
BHXH.
Chơng 2
Thực trạng đầu t và kinh nghiệm của một số nớc
về mô hình và cơ chế hoạt động của
tổ chức đầu t tăng trởng Quỹ BHXH
2.1. Thực trạng đầu t tăng trởng Quỹ BHXH ở Việt Nam
2.1.1. Các quy định pháp lý về đầu t từ quỹ BHXH.
Quyết định về đầu t quỹ BHXH luôn chịu sự chi phối của các quy định pháp lý
về xác định nguồn vốn, nguyên tắc và tỷ lệ phân bổ vốn đầu t. Để đi đến đánh giá cụ
thể tình hình phân bổ vốn đầu t và hiệu quả đầu t quỹ BHXH, chúng ta sẽ kiểm tra
một cách cụ thể hơn về các quy định pháp lý theo trình tự thời gian.
2.1.1.1. Các quy định trớc năm 2003
* Nội dung của quy định
Nội dung chủ yếu của các quy định liên quan đến đầu t quỹ BHXH trớc năm
2003 theo quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/01/1998 của thủ tớng Chính phủ
là:
Thứ nhất: BHXH Việt Nam đợc sử dụng tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ BHXh
để thực hiện các biện pháp bảo tồn giá trị và tăng trởng.
Thứ hai: Về nguyên tắc, việc dùng quỹ BHXH để đầu t phải đảm bảo an toàn,
hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, bảo toàn đợc giá trị và có hiệu quả kinh tế xã
hội.
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
17
Luận văn cuối khoá
Thứ ba: Các hình thức đầu t bao gồm:
- Mua trái phiếu, tín phiếu của kho bạc nhà nớc và các ngân hàng thơng mại
khó khăn và tạo ra thế bị động cho ngành BHXH Việt Nam. Thời gian qua việc đầu t
quỹ BHXH chủ yếu theo sự chỉ định của Thủ tớng Chính phủ.
+ Các quy định pháp lý cha thể hiện đợc rõ nguyên tắc đa dạng hoá trong lĩnh
vực đầu t nhằm hạn chế và phân tán rủi ro. Một điều rất nguy hiểm nếu BHXH đầu t
toàn bộ tiền tạm thời nhàn rỗi vào một danh mục đầu t.
+ Điều 17 trong QĐ 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/01/1998 cha đề cập tới nguyên
tắc khả năng thanh toán thờng xuyên. Bởi vì, việc đầu t quỹ BHXH dới hình thức
nào, vào lĩnh vực nào cũng phải đảm bảo khả năng chuyển đổi các tài sản đầu t thành
tiền để quỹ thực hiện nghĩa vụ chi trả cho ngời đợc bảo hiểm. Nh vậy, quỹ BHXH chỉ
có thể đầu t vào các tài sản mang tính lỏng và vào các tài sản có thu nhập thờng
xuyên ổn định.
Kể từ năm 1995 khi BHXH ra đời cho đến trớc năm 2003 số d quỹ là một con
số không nhỏ tuy nhiên cha có một văn bản pháp lý nào quy định về sự ra đời của tổ
chức hay bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện công tác đầu t quỹ BHXH Việt Nam.
Tựu trung, các quy định của quy chế quản lý tài chính BHXH Việt Nam ngày
26/01/1998 là những quy định sơ khai về đầu t quỹ BHXH. Trong giai đoạn bùng nổ
các dịch vụ đầu t tài chính thì những quy định này cần thiết phải đợc thay đổi và
hoàn thiện.
2.1.1.2. Các quy định từ năm 2003
Các văn bản pháp lý mới đợc ban hành phục vụ cho hoạt động đầu t quỹ
BHXH là: Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 02/01/2003
về quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. Thông t 49/2003/TT-BTC của
Bộ Tài chính ngày 16/05/2003 hớng dẫn quy chế tài chính đối với BHXH Việt Nam.
Chúng ta sẽ điểm những nội dung chủ yếu các quy định về đầu t quỹ BHXH, trớc khi
có những nhận xét về sự ảnh hởng của nó trong tơng lai, đến quan điểm sử dụng
nguồn vốn đầu t từ quỹ BHXH.
* Nội dung cơ bản của các quy định
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
19
Luận văn cuối khoá
Luận văn cuối khoá
khoa học và sự đòi hỏi của thực tiễn.
- Đánh giá về quan điểm bảo toàn và tăng trởng quỹ BHXH.
Theo quan điểm hiện nay của ngành BHXH Việt Nam cũng nh của Bộ Tài
chính, hoạt động bảo toàn và tăng trởng quỹ BHXH chỉ bó hẹp trong nội dung đầu t
tăng trởng quỹ BHXH - hoạt động đầu t quỹ BHXH. Theo chúng tôi với cách hiểu nh
vậy là đúng nhng cha đủ. Bởi vì phải thừa nhận rằng hoạt động đầu t quỹ BHXH là
quan trọng nhất trong nội dung bảo toàn và tăng trởng nhng nó chỉ có ý nghĩa thiết
thực khi đặt trong mối quan hệ mật thiết với các hoạt động thu và chi quỹ BHXH.
Hoạt động thu BHXH là hoạt động tạo tiền đề - hoạt động tạo nguồn vốn đầu t cho
quỹ. Nếu hoạt động này không thực hiện tốt thì nguồn quỹ BHXH không đủ để chi
trả các chế độ trợ cấp BHXH chứ cha nói tới nguồn vốn cho hoạt động đầu t. Bên
cạnh đó hoạt động chi quỹ BHXH nếu không đợc quản lý chặt chẽ, có hiệu quả thì số
d quỹ BHXH hàng năm cũng không tồn tại để phục vụ cho hoạt động đầu t quỹ. Vì
vậy để hiểu đúng và đầy đủ quan điểm bảo toàn và tăng trởng quỹ BHXH thì nội
dung của nó phải bao hàm cả 3 hoạt động là: hoạt động đầu t quỹ BHXH; hoạt động
thu quỹ BHXH và hoạt động chi quỹ BHXH. Trong đó hoạt động đầu t quỹ giữ vai
trò chủ đạo và quan trọng nhất.
- Đánh giá về hình thức đầu t quỹ BHXH.
Ưu điểm nổi bật trong các quy định pháp lý về đầu t quỹ BHXH hiện nay là
việc chú trọng đầu t vào các tài sản chính có độ an toàn cao nh công trái, trái phiếu
Chính phủ. Bên cạnh đó hoạt động coi trọng các hình thức cho vay đối với NSNN và
các tổ chức tài chính của Nhà nớc nh quỹ hỗ trợ phát triển, ngân hàng chính sách.
Điều đó tạo điều kiện để BHXH Việt Nam phát huy đợc tính kinh tế và xã hội trong
việc đầu t quỹ. Tuy vậy nếu chỉ dừng lại ở các hoạt động nh đã nêu trên, có thể nói
rằng hoạt động đầu t quỹ quá đơn giản và nghèo nàn, phản ánh trình độ đầu t quá
thấp kém của BHXH Việt Nam đặc biệt trong điều kiện bùng nổ các dịch vụ đầu t tài
chính nh hiện nay. Theo tài liệu cẩm nang an sinh xã hội tập 3 của văn phòng lao
động quốc tế (ILO) - 1998, ngoài các lĩnh vực cho vay nh quy định pháp lý hiện nay
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
22
Luận văn cuối khoá
thì những hạn chế của các quy định pháp lý là không thể tránh khỏi.
2.1.2. Thực trạng hiệu quả đầu t từ quỹ BHXH giai đoạn 1996 đến 2003
2.1.2.1. Thực trạng nguồn vốn cho hoạt động đầu t
* Cơ chế tạo lập nguồn vốn
Trong những năm trớc đây cũng nh hiện nay, các văn bản pháp lý quản lý tài
chính BHXH nh: Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/01/1998; Quyết định số
02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003 về việc ban hành quy chế quản lý đối với BHXH
Việt Nam, đều cha đề cập tới cơ chế tạo lập nguồn vốn đầu t quỹ BHXH. Song trên
thực tế, việc tạo lập nguồn vốn cho hoạt động này đợc xác định nh sau:
Trong đó:
- Tổng số thu BHXH hàng năm bao gồm:
+Tổng thu từ đóng góp BHXH (thu từ đóng góp BHXH của ngời lao động và
chủ sử dụng lao động).
+ Khoản thu lãi từ hoạt động đầu t quỹ BHXH.
+ Thu khác
- Tổng số chi BHXH hàng năm bao gồm:
+ Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH.
+ Chi quản lý bộ máy ngành BHXH (bao gồm cả chi đầu t xây dựng cơ bản)
+ Chi khác.
Với cơ chế trên đây, nhiều năm qua BHXH Việt Nam đã đóng góp không nhỏ
về vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Thực trạng đợc đánh giá cụ
thể ở các nội dung dới đây:
* Thực trạng về nguồn vốn
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
23
Nguồn
sang
746 2.969 5.724 8.887 12241 16285 21690 26507
2 Tổng thu trong năm 2.629 3.459 4.132 4.675 5.881 8.030 7.777 10983
-Thu từ đóng góp BHXH 2.570 3.514 3.876 4.186 5.198 6.348 6963 9.627
- Thu l i đầu tã tài chính
và thu khác
59 -19 256 489 683 1.682 814 1.356
3 Tổng số chi trong năm 406 722 987 1.321 1.837 2.625 2.960 3.792
- Chi trả các chế độ
BHXH
383 594 752 940 1.335 1.856 2.585 3.792
- Chi quản lý và chi khác 23 128 235 381 502 769 375 0
4 Chênh lệch thu chi
quỹ trong năm
2.223 2.773 3.145 3.354 4.044 5.405 4.817 7.191
5 Số d quỹ BHXH 31/12
hàng năm
2.969 5.742 8.887 12.241 16285 21.690 26.507 33.698
Nguồn: Báo cáo quyết toán quỹ BHXH từ năm 1996 đến năm 2003
Số liệu ở bảng 2.1 cho thấy rằng, hàng năm số thu BHXH luôn lớn hơn số chi
về BHXH, do vậy quỹ đều có kết d hàng năm. Tổng số d quỹ BHXH tính đến
31/12/2003 là 33.698 tỷ đồng. Quy mô nguồn vốn năm 2003 gấp 5,87 lần so với
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
24
Luận văn cuối khoá
năm 1997. Có thực trạng trên đây là do:
Thứ nhất, tốc độ tăng thu bình quân trong 8 năm từ năm (1996-2003) là 22,6%.
Riêng số thu BHXH năm 2003 gấp 3,17 lần so với năm 1996.
Thứ hai, tốc tăng chi bình quân 8 năm từ 1996 2002 là: 37,6%. Riêng số chi
BHXH năm 2003 gấp 9,34 lần so với năm 1996. Nhng tỷ lệ tăng chi BHXH bình
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
25