Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng Cộng sản
lần thứ VI (năm 1986). Trải qua 20 năm, đến nay, diện mạo đất nớc đã có nhiều
đổi thay. Những thành tựu to lớn về ngoại giao nh gia nhập Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) năm 1995, tổ chức thành công Diễn đàn hợp tác á-Âu
(ASEM) lần thứ V năm 2004 và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dơng
(APEC) lần thứ 14 năm 2006, đặc biệt, quan trọng hơn là chính thức trở thành
thành viên của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) ngày 7/11/2006, đợc bầu làm
ủy viên không thờng trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2007, đã thúc đẩy
nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Nhiều chuyên gia và nhiều phơng tiện truyền
thông đại chúng trên thế giới đã đánh giá Việt Nam có thể trở thành con hổ mới
của Châu á.
Hoà vào dòng chảy chung ấy của đất nớc, đội ngũ luật s Việt Nam cũng
đang đứng trớc những cơ hội của đổi mới và hội nhập. Các cam kết của Việt Nam
khi gia nhập WTO và Luật Luật s đợc ban hành ngày 29/06/2006 cùng các văn
bản hớng dẫn thi hành đã tạo ra một khung pháp lý thông thoáng hơn rất nhiều cho
các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nớc ngoài. Nếu nhìn nhận từ góc độ của các nhà
cung ứng dịch vụ nớc ngoài thì Việt Nam quả là một thị trờng nhiều tiềm năng bởi
những nguyên nhân sau:
+ Về nhu cầu, đây là thời điểm Việt Nam đang có những bớc đi quan trọng
trên con đờng hội nhập kinh tế quốc tế. Tăng trởng kinh tế và thu hút đầu t trực
tiếp nớc ngoài trong những năm qua đều có những bớc phát triển mạnh mẽ. Do
vậy, nhu cầu cần có những chuyên gia t vấn nắm vững pháp luật nớc ngoài và pháp
luật quốc tế là rất lớn.
+ Về nguồn cung: có thể nói là thiếu trầm trọng. Sức cạnh tranh từ các nhà
cung ứng dịch vụ pháp lý trong nớc là rất yếu bởi đội ngũ luật s Việt Nam vừa
thiếu về số lợng, vừa yếu về chất lợng. Số lợng luật s Việt Nam có trình độ chuyên
môn, trình độ ngoại ngữ, am hiểu pháp luật, thông lệ quốc tế lại càng khiêm tốn.
Hơn nữa, thị trờng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam là một thị trờng mới mở cửa, cha
1
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng i
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ pháp lý
và thị trờng dịch vụ pháp lý ở việt nam
Hoạt động hành nghề dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật s nớc
ngoài là một loại hoạt động dịch vụ kinh doanh, cụ thể hơn là hoạt động cung ứng
dịch vụ pháp lý. Nh vậy, để có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về vấn đề hoạt
động hành nghề dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật s nớc ngoài thì trớc
hết cần phải nắm đợc những kiến thức nền tảng về vấn đề đó, bao gồm các kiến
thức về dịch vụ pháp lý và thị tr ờng dịch vụ pháp lý.
Khái niệm dịch vụ pháp lý và thị tr ờng dịch vụ pháp lý là những khái
niệm đợc hiểu rất khác nhau ở mỗi quốc gia. Điều này phụ thuộc vào trình độ phát
triển, trình độ lập pháp, lịch sử hình thành và xây dựng hệ thống pháp luật cũng
nh chính sách mở cửa thị trờng dịch vụ và nhiều yếu tố khác nữa. Việc hiểu rõ
những khái niệm này trên bình diện quốc tế cũng nh theo pháp luật Việt Nam, việc
phân tích các đặc điểm, vị trí, vai trò của chúng trong toàn bộ nền kinh tế mang
một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu đề tài. Vì vậy, Phần thứ nhất
của đề tài tập trung vào việc phân tích những vấn đề lý luận cũng nh đánh giá sơ
bộ về thực tiễn dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Kết cấu
Phần này gồm 2 phần:
I. Những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý
II. Sự hình thành và phát triển dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý ở
Việt Nam
I. Những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý
1. Khái niệm và phân loại dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý
1.1. Dịch vụ pháp lý
Dịch vụ pháp lý là một khái niệm đã xuất hiện và phát triển từ lâu trên thế
giới, đặc biệt là ở các nớc phát triển. Nhng mãi đến đầu những năm 80, khái niệm
này mới thực sự xuất hiện và dần đợc phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Đó chính là
1.1.2. Phân tích khái niệm dịch vụ pháp lý theo quy định của Liên hợp
quốc và WTO
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có một điểm chung trong cách định nghĩa của Liên hiệp quốc và WTO về
khái niệm dịch vụ, đó là không đa ra một định nghĩa trừu tợng mang tính bản chất
của dịch vụ và cũng không định nghĩa theo cách đặt trong mối tơng quan đối lập
với hàng hóa. Một định nghĩa trừu tợng mang tính bản chất hoặc so sánh đối lập
có lẽ không bao hàm hết các hoạt động dịch vụ vốn rất đa dạng và đợc hiểu với nội
hàm khác nhau ở mỗi nớc. Vậy, để tránh sự bất đồng quan điểm giữa các quốc gia
thành viên và tiện cho những quy định tiếp sau này, cả Liên hợp quốc và WTO đều
không đa ra định nghĩa dịch vụ mà đa ra một danh mục theo phơng pháp liệt kê để
từ đó xác định hành vi nào là dịch vụ.
Năm 1991, Liên hợp quốc đã công bố Bảng phân loại tạm thời các dịch vụ
chủ yếu (PCPC) và đến năm 1997 công bố tiếp Bảng phân loại các dịch vụ chủ yếu
(CPC). PCPC và CPC không đa ra định nghĩa trừu tợng về dịch vụ, nhng các hành
vi đợc liệt kê, đợc mô tả và mã hoá trong hai bảng này đợc coi là dịch vụ. Theo
Danh mục phân loại các lĩnh vực dịch vụ (Danh mục CPC), dịch vụ pháp lý thuộc
loại hình dịch vụ kinh doanh, thuộc nhóm ngành dịch vụ nghề nghiệp (mã CPC
861) và đợc phân loại nh sau:
- Dịch vụ t vấn và đại diện liên quan tới pháp luật hình sự (86111);
- Dịch vụ t vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục t pháp liên quan tới
các lĩnh vực pháp luật khác (86119);
- Dịch vụ t vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục pháp lý trớc các hội
đồng t pháp (có thẩm quyền nh Tòa án) (86120);
- Dịch vụ về văn bản pháp luật và xác nhận (86130); và
- Các thông tin t vấn pháp lý khác (86190).
Nh vậy, theo cách hiểu của Liên hợp quốc, dịch vụ pháp lý đợc chia thành 3
nhóm cơ bản sau:
+ Dịch vụ t vấn pháp luật, tức là cung cấp các ý kiến pháp lý, các lời khuyên
(5) dịch vụ giáo dục (educational services);
(6) dịch vụ môi trờng (environmental services);
(7) dịch vụ tài chính (financial services);
(8) dịch vụ y tế (health services);
(9) dịch vụ du lịch (tourism services);
(10) dịch vụ thể thao, văn hoá, giải trí (recreational, cultural and sporting
services);
(11) dịch vụ vận tải (transport services); và
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(12) Các dịch vụ khác
12 ngành này lại đợc chia làm 155 phân ngành nhỏ. Tất cả các hoạt động đ-
ợc liệt kê trong danh mục này của WTO đợc coi là hoạt động dịch vụ thơng mại.
Lĩnh vực dịch vụ pháp lý đợc xếp vào phân ngành Dịch vụ chuyên môn thuộc
ngành Dịch vụ kinh doanh .
- Thứ hai là phạm vi điều chỉnh của GATS. Nh tên gọi, GATS không điều
chỉnh tất cả các hoạt động dịch vụ nói chung mà chỉ điều chỉnh các hoạt động dịch
vụ thơng mại. Vậy thế nào là dịch vụ th ơng mại? Làm sao phân biệt đợc dịch vụ
thơng mại với các hoạt động dịch vụ khác phi thơng mại? Câu trả lời nằm ở điểm
(b) và điểm (c), khoản 3, điều I nh sau:
(b) Dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong tất cả các lĩnh vực, trừ các
dịch vụ đợc cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ
(c) các dịch vụ đ ợc cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ là
bất kỳ dịch vụ nào đợc cung cấp không trên cơ sở thơng mại, và cũng không trên
cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ.
Nh vậy, đúng với chức năng hoạt động của WTO là một thiết chế điều
chỉnh các hoạt động thơng mại trên thế giới, GATS đã loại bỏ các dịch vụ đ ợc
cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ bởi hai yếu tố: cung cấp
không trên cơ sở thơng mại hay là không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, và
không trên cở sở cạnh tranh . Hai yếu tố này khiến cho các loại hình dịch vụ phi
1.1.3. Phân tích khái niệm dịch vụ pháp lý theo pháp luật Việt Nam
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm dịch vụ pháp lý lần đầu tiên đợc
quy định ở Pháp lệnh Tổ chức luật s năm 1987, văn bản pháp luật đầu tiên điều
chỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật s. Điều 13, Pháp lệnh Tổ chức luật s
năm 1987 quy định:
Các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật s bao gồm:
1. Tham gia tố tụng với t cách là ngời bào chữa cho bị can, bị cáo
hoặc đại diện cho ngời bị hại và các đơng sự khác trong các vụ án hình sự, kể cả
các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; đại diện cho các bên đ-
ơng sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Làm t vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế Nhà nứoc, tập thể và t
nhân, kể cả các tổ chức kinh tế nớc ngoài.
3. Làm các dịch vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức
Nh vậy, về tên gọi, hoạt động của luật s trong Pháp lệnh tổ chức luật s năm
1987 đợc gọi là các hình thức giúp đỡ pháp lý , trong đó có dịch vụ pháp lý .
Tuy nhiên, về thực chất các hình thức giúp đỡ pháp lý ở đây chính là hoạt động
dịch vụ pháp lý theo đúng nghĩa của nó bởi hoạt động của luật s là hoạt động đợc
trả công, tức là có tính thơng mại. Chiếu theo điều 20 của Pháp lệnh nói trên:
Công dân và tổ chức nhờ luật s giúp đỡ phải trả tiền thù lao. Chế độ trả
tiền thù lao và những trờng hợp đợc miễn, giảm do Quy chế Đoàn luật s quy
định.
Có thể thấy Pháp lệnh này điều chỉnh kép cả hoạt động dịch vụ pháp lý có
thu phí và hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí của luật s mà không có sự tách
bạch nên mới đa ra khái niệm các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật s.
Năm 2001, ủy ban thờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh luật s số
37/2001/PL-UBTVQH10 (sau đây sẽ gọi là Pháp lệnh luật s 2001) thay thế Pháp
lệnh tổ chức luật s 1987. Ngay ở Điều 1 Pháp lệnh luật s 2001 đã quy định về hoạt
động dịch vụ pháp lý của luật s nh sau:
hởng chính sách u đãi theo quy định của pháp luật.
Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí này về hình thức rất giống với hoạt
động dịch vụ pháp lý của luật s, chỉ có một điểm khác biệt căn bản là không có
thù lao, nh vậy, nó không phải là một hoạt động dịch vụ vì không mang bản chất
thơng mại. Vậy câu hỏi đặt ra là hoạt động trợ giúp pháp lý này có nên xếp vào
nhóm các hoạt động dịch vụ pháp lý hay không? Pháp luật thơng mại hầu hết các
nớc cũng nh pháp luật thơng mại quốc tế không đa loại hoạt động miễn phí này
vào đối tợng điều chỉnh nên theo cách hiểu chung của quốc tế thì khái niệm dịch
vụ pháp lý không bao gồm các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí. Tuy nhiên,
căn cứ vào tình hình cụ thể, pháp luật Việt Nam dựa trên quan điểm, đờng lối của
Đảng và Nhà nớc là có chính sách u đãi với ngời nghèo và ngời có công với cách
mạng nên hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí đợc quy định trong Pháp lệnh Luật
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
s 2001 với tính chất là một hoạt động nghề nghiệp của luật s, thể hiện trách nhiệm
của ngời luật s đối với Nhà nớc và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của pháp luật
Việt Nam đã đi đến việc tách vấn đề trợ giúp pháp lý miễn phí này thành một lĩnh
vực riêng và đợc điều chỉnh theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2005. Vì vậy, theo
quan điểm của ngời nghiên cứu thì khái niệm dịch vụ pháp lý theo pháp luật
Việt Nam không còn bao gồm các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí đợc thực
hiện bởi các luật s.
Văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh các hoạt động nghề nghiệp của luật
s là Luật Luật s số 65/2006/QH11 ban hành ngày 29/6/2006 (sau đây sẽ gọi là
Luật luật s). Luật Luật s đã có những quy định rất rõ ràng về khái niệm dịch vụ
pháp lý với tính chất là hoạt động nghề nghiệp của luật s, cụ thể nh sau:
Điều 2 và Điều 4 Luật Luật s có quy định:
Luật s là ngời có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của
luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
và
Dịch vụ pháp lý của luật s bao gồm tham gia tố tụng, t vấn pháp luật, đại
thanh toán, hay tổng hoà các mối quan hệ cung ứng dịch vụ thanh toán đối với
một lĩnh vực dịch vụ nhất định hợp thành thị trờng đối với lĩnh vực dịch vụ đó.
Nh vậy, thị tr ờng dịch vụ pháp lý là sự tổng hoà các mối quan hệ cung
ứng dịch vụ thanh toán trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý.
Thị trờng dịch vụ pháp lý có nhiều cách phân loại nh:
- Nếu dựa vào chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý ta có thể phân thành
thị trờng dịch vụ pháp lý đợc cung ứng bởi nhà cung ứng dịch vụ pháp lý trong nớc
và thị trờng đợc cung ứng bởi nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nớc ngoài.
- Nếu dựa vào đối tợng đợc cung ứng là dịch vụ pháp lý thì ta có thể
phân thành thị trờng dịch vụ tố tụng pháp luật, thị trờng dịch vụ t vấn pháp luật
- Nếu dựa vào các lĩnh vực chuyên môn cụ thể cần cung ứng dịch vụ
pháp lý thì có thể phân thành thị trờng dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng,
bảo hiểm, đầu t, xuất nhập khẩu
2. Đặc điểm của dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ pháp lý
2.1. Đặc điểm của dịch vụ pháp lý
Xét từ góc độ lý luận Nhà nớc và pháp luật, dịch vụ pháp lý có một số đặc
điểm quan trọng sau:
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thứ nhất, dịch vụ pháp lý là một ngành dịch vụ rất nhạy cảm, bởi vì nó
liên quan mật thiết tới một yếu tố rất quan trọng của thợng tầng kiến trúc xã hội là
pháp luật. Nh ta đã biết, pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền đợc hợp pháp
hóa thông qua việc ban hành hoặc thừa nhận, mà việc cung ứng dịch vụ pháp lý
trong mọi trờng hợp đều có liên hệ trực tiếp với việc giải thích pháp luật, phân tích
pháp luật và hớng dẫn thực hiện pháp luật. Cho phép các nhà cung ứng dịch vụ
pháp lý hoạt động có nghĩa là nhà cầm quyền sẽ phải trao quyền giải thích pháp
luật, phân tích pháp luật và hớng dẫn thực hiện pháp luật vào tay nhà cung ứng
dịch vụ. Sẽ ra sao nếu nhà cung ứng dịch vụ pháp lý lại không có đầy đủ kiến thức
pháp luật hoặc cố ý giải thích sai pháp luật? Hậu quả chắc chắn là rất nghiêm
trọng. Vì vậy, hầu hết các nớc trên thế giới đều có quy định rất nghiêm ngặt về
điểm của thị trờng dịch vụ pháp lý đó là tính bị chi phối nghiêm ngặt hay nói cách
khác là chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nớc. Tính chất này thể hiện qua việc Nhà
nớc quy định những điều kiện, thủ tục rất chặt chẽ đối với nhà cung ứng dịch vụ
pháp lý. Một ví dụ rất cụ thể là những quy định của Nhà nớc Việt Nam trong Luật
luật s 2006. Ngời cung ứng dịch vụ pháp lý, cụ thể là luật s phải tuân thủ các
nguyên tắc hành nghề quy định tại Điều 5, phải thoả mãn các tiêu chuẩn luật s quy
định tại Điều 10, các điều kiện hành nghề luật s quy định tại Điều 11 (phải có
Chứng chỉ hành nghề luật s và gia nhập một Đoàn luật s); ngoài ra, Điều 9 quy
định các hành vi bị nghiêm cấm, Điều 21 quy định quyền, nghĩa vụ của luật s,
Điều 22 giới hạn về phạm vi hành nghề của luật s, Điều 23 giới hạn về hình thức
hành nghề của luật s và các điều khoản khác tơng tự quy định về tổ chức hành
nghề luật s chính là những điều khoản mang tính chất giới hạn phạm vi thị trờng
dịch vụ pháp lý trong khuôn khổ sự quản lý của Nhà nớc.
Riêng đối với thị trờng dịch vụ pháp lý đợc cung ứng bởi các nhà cung ứng
dịch vụ pháp lý nớc ngoài, đặc điểm này thể hiện ở việc hạn chế mở cửa thị trờng,
tức là quy định những điều kiện khắt khe hơn về điều kiện hành nghề, thủ tục hành
nghề, giới hạn hẹp hơn về phạm vi hành nghề, hình thức hành nghề. Pháp luật Việt
Nam cũng có những hạn chế nhất định đối với các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý
nớc ngoài nh không đợc t vấn pháp luật Việt Nam (trừ trờng hợp luật s nớc ngoài
có bằng cử nhân luật của Việt Nam hoặc có thuê luật s Việt Nam), không đợc
tham gia tố tụng với t cách là ngời bào chữa, ngời đại diện, ngời bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đơng sự trớc cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam (trừ trờng
hợp có thuê luật s Việt Nam)
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Thực tiễn sự hình thành vàphát triển dịch vụ pháp lý và thị trờng dịch vụ
pháp lý ở Việt Nam
Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về sự phát triển của dịch vụ pháp lý
cũng nh thị trờng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, dựa vào thực tiễn thị trờng và hệ
thống các văn bản pháp luật điều chỉnh, Luận văn chia quá trình phát triển này
Toà án Pháp mà cả trớc Toà Nam án, đợc bào chữa cho cả ngời không có quốc tịch
Pháp.
1.2. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8/1945
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL, Sắc lệnh
đầu tiên của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, về tổ chức Đoàn luật s. Sắc lệnh này
tạm thời giữ nguyên cách thức tổ chức các Đoàn luật s trong nớc nh Sắc lệnh ngày
25/5/1930 của ngời Pháp nhng có quy định một số vấn đề quan trọng, phù hợp với
chế độ mới nh:
- Các luật s đợc bào chữa trớc tất cả các Toà án cấp tỉnh trở lên và các Toà án
quân sự;
- Điều kiện làm luật s là: công dân Việt Nam bất kể nam hay nữ, có bằng cử
nhân luật, có hạnh kiểm tốt, đã tập sự 3 năm ở một văn phòng luật s.
Tiếp đó, bản Hiến pháp đầu tiên của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà thông
qua ngày 9/11/1946, Điều 67 quy định:
Các phiên toà đều xét xử công khai, trừ trờng hợp đặc biệt, ngời bị cáo có
quyền bào chữa lấy hoặc mợn luật s
Qua đó có thể thấy, dù còn bộn bề trăm việc, Chính phủ lâm thời nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà vẫn rất quan tâm đến quyền đợc bào chữa của công dân
cũng nh hoạt động của các luật s.
Trong giai đoạn kháng chiến toàn quốc, để khắc phục tình trạng thiếu luật
s trên toàn quốc, Nhà nớc cũng đã ban hành Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949
quy định chế định bào chữa viên cho các bị cáo tại Toà án, sắc lệnh số 144/SL
ngày 22/12/1949 mở rộng cho những ngời không phải là luật s cũng đợc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho các đơng sự trong các vụ án dân sự.
Tiếp đó, trong hai bản Hiến pháp năm 1959 và 1980 cũng đều quy định về
quyền bào chữa của công dân. Hiến pháp năm 1959, Điều 101 quy định:
Việc xét xử tại các Toà án nhân dân đều công khai, trừ những trờng hợp đặc
biệt do Luật định.
16
02/2000/TT-BTP hớng dẫn thủ tục chấm dứt hoạt động của Chi nhánh tổ chức luật
s nớc ngoài tại Việt Nam.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sau hơn 13 năm triển khai thi hành Pháp lệnh Tổ chức luật s năm 1987,
nhận thấy những thiếu sót, hạn chế, những quy định đã không còn phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, đến ngày 25/7/2001, ủy ban thờng
vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Luật s số 37/2001/PL-UBTVQH10 thay thế
cho Pháp lệnh Tổ chức luật s năm 1987. Tiếp đó, ngày 12/12/2001, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật
s và ngày 22/01/2002, Bộ T pháp đã ban hành Thông t số 02/2002/TT-BTP hớng
dẫn Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật s.
Cũng trong thời gian Pháp lệnh Luật s 2001 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực t pháp và Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ
chức, hoạt động t vấn pháp luật. Về quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động của tổ
chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam, ngày 22/7/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 87/2003/NĐ-CP về hành nghề của tổ chức luật s nớc ngoài, luật s nớc
ngoài tại Việt Nam, thay thế cho Nghị định số 92/1998/NĐ-CP và Bộ T pháp cũng
đã ban hành Thông t số 06/2003/TT-BTP ngày 29/10/2003 hớng dẫn một số quy
định của Nghị định 87/2003/NĐ-CP, thay thế cho Thông t số 08/1999/TT-BTP.
3. Giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Bớc ngoặt quan trọng nhất của giai đoạn này là việc Việt Nam chính thức
trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) ngày
11/01/2007. Nh vậy là, sau gần 12 năm đàm phán đầy khó khăn, cuối cùng Việt
Nam đã chính thức đợc gia nhập sân chơi thơng mại chung của toàn cầu. Điều này
đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tuân thủ luật chơi, phải điều chỉnh hệ thống
pháp luật cho phù hợp với những quy định của WTO, phải cam kết mở cửa thị tr-
ờng dịch vụ, phải chấp nhận các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most favoured
nations MFN) và đối xử quốc gia (National treatment NT), phải dỡ bỏ các
Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong một tơng lai không xa.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng ii
Những vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của tổ chức
hành nghề luật s nớc ngoài tại việt nam
Luật Luật s 2006 ra đời đánh dấu một bớc phát triển mới về chất của chế
định về hành nghề t vấn pháp luật của tổ chức luật s nớc ngoài và của thị trờng
dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Với Luật Luật s 2006, Việt Nam đã bắt đầu quá trình
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực thi các cam kết của mình trong khuôn khổ WTO về mở cửa thị trờng dịch vụ
pháp lý và chấp nhận thay đổi để tuân thủ luật chơi chung của WTO. Đây chính là
nguyên nhân để khẳng định Luật Luật s 2006 là một bớc phát triển mới về chất.
Trớc đây, luật chơi hoàn toàn do Việt Nam đặt ra, không có sự ràng buộc từ bên
ngoài, nhng luật chơi này lại không phù hợp với luật chơi chung của quốc tế. Giờ
đây, Việt Nam đã chấp nhận luật chơi chung, chấp nhận các nguyên tắc đối xử
quốc gia , đối xử tối huệ quốc , mở cửa thị trờng Nh vậy, việc phân tích các
quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động của tổ chức hành nghề luật s nớc
ngoài phải đợc chia thành hai giai đoạn là giai đoạn trớc khi Luật Luật s 2006 có
hiệu lực thi hành và giai đoạn từ sau khi luật Luật s 2006 có hiệu lực thi hành.
Xuất phát từ nguyên nhân trên, Phần thứ hai của Luận văn sẽ tập trung vào ba vấn
đề:
- Quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về hoạt động của
tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam
- Những quy định pháp luật trớc khi Luật Luật s 2006 có hiệu lực thi hành
- Các quy định pháp luật hiện hành
I. Quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về hoạt động
của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam
Trớc khi đi vào nghiên cứu cụ thể các quy định của pháp luật về hoạt động
Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến
khích các tổ chức, cá nhân nớc ngoài đầu t vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam,
bình đẳng và các bên cùng có lợi.
Trên cơ sở đó, hoạt động đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc đẩy mạnh. Sự
phát triển của hoạt động đầu t nớc ngoài vào Việt Nam kéo theo nhu cầu hiểu biết
về các vấn đề liên quan đến môi trờng chính sách, pháp luật và môi trờng kinh
doanh ở Việt Nam. Đi theo các nhà đầu t nớc ngoài là các tổ chức luật s nớc ngoài
và họ hiện diện ở Việt Nam để hỗ trợ quá trình đầu t, kinh doanh này. Sở dĩ các
nhà đầu t nớc ngoài phải mang theo các tổ chức luật s nớc ngoài vào Việt Nam
trong quá trình đầu t là bởi hai nguyên nhân:
- Thứ nhất, theo tập quán thơng mại quốc tế, các nhà đầu t nớc ngoài nếu là
các tập đoàn hoặc các doanh nghiệp lớn đến từ các nền kinh tế phát triển thì có
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thói quen sử dụng các văn phòng luật s hoặc các bộ phận chuyên môn về t vấn
pháp lý của chính mình. Nếu không, họ cũng sẽ thuê các công ty luật có uy tín của
nớc ngoài hoặc đã có truyền thống làm ăn từ trớc.
- Thứ hai, do trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, mức độ am hiểu
pháp luật quốc tế của các luật s trong nớc quá yếu kém (thời điểm đó, luật s Việt
Nam chủ yếu chỉ tham gia tranh tụng tại các vụ án hình sự) nên không đáp ứng đ-
ợc nhu cầu của các nhà đầu t nớc ngoài.
Nh vậy, trên thực tế, các tổ chức luật s nớc ngoài có nhu cầu hoạt động tại
Việt Nam để t vấn cho khách hàng của họ là các nhà đầu t nớc ngoài. Nhng thời
điểm này ở Việt Nam cha có một văn bản pháp luật nào tạo cơ sở pháp lý cho hoạt
động này.
2. Các giai đoạn phát triển của chế định về hoạt động của tổ chức luật s nớc
ngoài
2.1. Giai đoạn thứ nhất
Giai đoạn đầu tiên này đợc bắt đầu bằng việc Chính phủ ban hành Nghị
2.2. Giai đoạn thứ hai
Giai đoạn thứ hai của chế định về hoạt động của tổ chức luật s nớc ngoài tại
Việt Nam đợc bắt đầu bằng Nghị định của Chính phủ số 92/1998/NĐ-CP ngày
10/11/1998 về hành nghề t vấn pháp luật của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt
Nam, thay thế cho Nghị định số 42/CP. Nghị định 92/1998/NĐ-CP gồm 6 chơng,
48 điều. Trớc đó, ngày 12/11/1996, Quốc hội đã ban hành Luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam năm 1996, thay thế cho Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1988, đ-
ợc sửa đổi, bổ sung các năm 1990 và 1992 và ngày 10/05/1997, Quốc hội đã thông
qua Luật thơng mại, văn bản Luật đầu tiên tạo khung pháp lý cho hoạt động thơng
mại tại Việt Nam. Cùng với sự ra đời của hai văn bản pháp luật nói trên, nhiều quy
định của Nghị định số 42/CP đã không còn phù hợp và cần đợc thay thế bằng
những quy định mới. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản của Nghị định 42/CP vẫn
đợc tiếp tục kế thừa và phát triển vào nội dung của Nghị định 92/1998/NĐ-CP.
Các văn bản có liên quan tới Nghị định này bao gồm: Thông t số
08/1999/TT-BTP ngày 13/02/1999 hớng dẫn thi hành một số quy định của Nghị
định số 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ về hành nghề t vấn pháp
luật của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam (thay thế cho Thông t số 791/TT-
LSTVPL ngày 08/09/1995 của Bộ T pháp hớng dẫn thi hành quy chế hành nghề t
vấn pháp luật của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam), Thông t số 02/2000/TT-
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
BTP hớng dẫn thủ tục chấm dứt hoạt động của chi nhánh tổ chức luật s nớc ngoài
tại Việt Nam.
2.3. Giai đoạn thứ ba
Giai đoạn này bắt đầu bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định số
87/2003/NĐ-CP ngày 22/07/2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật s
nớc ngoài, luật s nớc ngoài tại Việt Nam (sau đây sẽ gọi là Nghị định
87/2003/NĐ-CP), thay thế cho Nghị định 92/1998/NĐ-CP. Nghị định này gồm 7
chơng, 58 điều. Thay đổi lớn nhất của chế định về hoạt động của tổ chức luật s nớc
ngoài là việc mở rộng phạm vi hành nghề (đợc t vấn pháp luật trong mọi lĩnh vực,