MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG
CƯỜNG TÍNH HẤP DẪN CỦA MÔI
TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
3.1. Định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài và cải thiện môi trường đầu tư
3.1.1. Dự báo về tình hình FDI tại Việt Nam 2 năm 2009-2010.
3.1.1.1. Đánh giá khả năng thực hiện mục tiêu 2006-2010:
Mặc dù được đánh giá rất cao về tiềm năng thu hút FDI, Việt Nam vẫn còn nhiều
việc phải làm để tiếp tục duy trì tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, đồng
thời thúc đẩy giải ngân các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Trong bối
cảnh đặc biệt hiện nay, giải ngân vốn FDI là quan trọng hàng đầu và là công việc
khó khăn trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006-2010. Tuy nhiên, theo
như kết quả thu hút và giải ngân nguồn vốn FDI đã đạt được, khả năng hoàn thành
mục tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm2006-2010 là chắc chắn đạt được.
3.1.1.2. Một số thách thức đạt ra đối với FDI tại Việt Nam từ cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu:
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền
kinh tế Việt Nam như đã nêu, tuy nhiên trong bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp
ở trong nước và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khu vực FDI cũng đang phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như sau:
- Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới sẽ làm cho nguồn vốn FDI toàn cầu sẽ bị thu
hẹp lại và sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến Việt Nam trong thời gian tới. Các tập đoàn
kinh tế toàn cầu (TNCs) đã và đang điều chỉnh chiến lược kinh doanh để đối phó
với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự điều chỉnh chiến lược của các TNCs
tác động đến cả những dự án đã đựơc cấp phép và các dự án tiềm năng. Chắc chắn
nhiều TNCs phải tạm thời phải thu hẹp phạm vi và đình hoãn một số dự án đầu tư
không có khả năng thu xếp các khoản tín dụng. Do vậy, nhiều dự án FDI đã được
cấp phép có khả năng dãn tiến độ, thu hẹp qui mô hoặc không thực hiện, làm cho tỷ
lệ vốn FDI thực hiện so với vốn FDI đăng ký giảm so với những năm trước.
Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, Việt Nam vẫn là thị trường hấp dẫn đối với họ
nguồn nhân lực ... sẽ tạo động lực và góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế -
xã hôi và thu hút mạnh FDI.
3.1.2. Định hướng cải thiện môi trường đầu tư.
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng, bền vững, nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế gắn với cải thiện đời sống của nhân dân; phấn đấu vượt
ngưỡng “nước đang phát triển có thu nhập thấp” trong năm 2008 là những mục tiêu
không dễ thực hiện.
Giải pháp được ưu tiên hàng đầu vẫn là tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
và tính bền vững của nền kinh tế. Cụ thể, các ngành, các cấp, các địa phương cần
tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, xây dựng các thể chế để
tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. Phải tiếp tục cải cách
mạnh các thủ tục hành chính tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh của
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đổi mới
doanh nghiệp nhà nước, mà trọng tâm là cổ phần hoá, nhất là các tập đoàn kinh tế,
các tổng công ty của Nhà nước. Tích cực vận động và tạo mọi thuận lợi để thu hút
mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các dự án lớn, dự án đầu tư vào kết cấu hạ
tầng và các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao. Ngoài ra, phải tạo bước phát
triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng dịch vụ cao hơn
mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Để ổn định được kinh tế vĩ mô, trước hết cần phải hoàn thiện chính sách tài chính
và ngân sách nhà nước. Cụ thể, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thuế theo hướng rà
soát các chính sách, quy định về thuế trên cơ sở các cam kết quốc tế đã ký kết. Cải
tiến hệ thống giảm thuế và hoàn thuế; tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý thu
ngân sách nhà nước; tăng cường các biện pháp quản lý thu, chống thất thu, nợ đọng
thuế; chống gian lận thương mại, trốn thuế. Tiếp tục tăng cường phân cấp quản lý
ngân sách nhà nước cho địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước...
3.2. Những giải pháp cải thiện môi trường đầu tư trực
tiếp nước ngoài nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn vốn FDI
cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các
công trình giao thông, năng lượng.
- Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là
nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh
môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.), hệ thống đường bộ cao tốc, trước
hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, nâng cao chất
lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai
hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các
mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh.v.v.
- Trước mắt tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt việc cung cấp điện, trong mọi trường
hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với các cơ sở sản xuất. Tăng cường
nghiên cứu xây dựng chính sách và giải pháp khuyến khích sản xuất và sử dụng
điện từ và các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời.
- Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế
ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các
công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập.
- Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch
vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh
của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực
kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện.v.v.
- Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn
thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng
mạng.
- Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực (văn hóa-y tế-giáo dục, bưu chính-viễn thông,
hàng hải, hàng không) đã cam kết khi gia nhập WTO. Xem xét việc ban hành một
số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà
nước ta có nhu cầu.
3.2.4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
- Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động
nay, có các biện pháp để tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương
trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
- Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ĐTNN, đặc biệt trong việc
phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý tốt các dự án ĐTNN, gắn với việc
tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thi
hành pháp luật về đầu tư.
- Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm
vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư nước
ngoài.
- Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước
ngoài, thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Đảm bảo sự
thống nhất, các quy trình, thủ tục tại các địa phương, đồng thời, phù hợp với điều
kiện cụ thể.
- Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp phép, điều
chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư .
- Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung ương và địa
phương và giữa các Bộ, ngành liên quan.
3.2.7. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư
- Nghiên cứu đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa
quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng
điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản...