BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CPH: Cổ phần hoá.
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước.
NHTM: Ngân hàng thương mại.
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần.
TTCK: Thị trường chứng khoán.
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán.
DN: Doanh nghiệp
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Nghị định 01: Nghị định 01/2010/NĐ-CP
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
......................................................................................................................
Trang 5
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................
5
2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................
6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................
7
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................
7
5. Bố cục đề tài..........................................................................................................
8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CHỨNG
KHOÁN RIÊNG LẺ VÀ PHÁP LUẬT CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN
RIÊNG LẺ...............................................................................................................
9
1.1 Khái niệm chứng khoán, khái niệm chào bán chứng khoán và chào
bán chứng khoán riêng lẻ.................................................................................
9
.................................................................................................................
18
1.1.3.3. Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay
..........................................................................................
20
1.2. Các quy định của pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ...................................................................................................................
21
1.2.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động
chào bán chứng khoán riêng lẻ
......................................................................................................
21
1.2.2. Những quy định của pháp luật về chào bán cổ phiếu riêng lẻ
................................................................................................................................
23
1.2.3. Những quy định của pháp luật về chào bán trái phiếu riêng lẻ
................................................................................................................................
31
1.3. Quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.............
33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHÀO
BÁN CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN HOÀN THIỆN................................................................................
37
2.1. Thực trạng về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
...................................................................................................................
37
2.1.1. Thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ
67
2.2.2.1. Đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền kiến thức về
TTCK
..........................................................................................
68
2.2.2.2. Xây dựng thị trường giao dịch cho chứng khoán chào
bán riêng lẻ
..........................................................................................
68
KẾT LUẬN...........................................................................................................
70
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, bất kì quốc gia có nền kinh tế phát triển nào
cũng có 2 kênh huy động vốn quan trọng: kênh huy động vốn gián tiếp thông
qua hệ thống ngân hàng theo nguyên tắc tín dụng và kênh huy động vốn trực
tiếp thông qua TTCK theo nguyên tắc đầu tư. Hiện nay chúng ta không thể
phủ nhận vai trò của TTCK đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc
gia. TTCK phản ánh rõ nét nhất các qui luật của nền kinh tế thị trường.
Người ta ví TTCK như chiếc nhiệt kế đo “nhiệt độ” của nền kinh tế. Sự tăng
trưởng của nền kinh tế được đánh giá qua chỉ số giá chứng khoán của
TTCK. Lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường ở các quốc gia phát triển đã
khẳng định TTCK ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình vận hành
nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong hệ thống kinh tế toàn cầu[37,
tr.1]. Đối với Việt Nam, để hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính,
tạo các tiền đề kinh tế quan trọng, đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản là
một nước công nghiệp như Đại hội Đảng VIII đã đề ra thì việc xây dựng,
phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính trong đó có TTCK là hết sức cần
thiết.
Ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000, TTCK Việt
cứu pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc làm cần
thiết. Từ nhận thức đó, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về hoạt động chào bán
chứng khoán riêng lẻ và thực trạng tại Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích của tác giả nhằm:
- Phần tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ trên cơ sở các quy định của pháp
luật chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong những năm
qua về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán
riêng lẻ được quy định trong Luật chứng khoán 2006; Luật chứng khoán
2010; Luật doanh nghiệp 1999, 2005; Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa
đổi bổ sung 2004, 2010; Luật ngân hàng nhà nước 1997 sửa đổi, bổ sung
2004, 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về chào bán
chứng khoán riêng lẻ trong quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ tại Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về lý luận: Đề tài này nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ được quy định tại Luật chứng khoán
2006 ; Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2010; Luật doanh nghiệp 1999,
2005; Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa đổi bổ sung 2004, 2010; Luật ngân
hàng nhà nước 1997 sửa đổi, bổ sung 2004, 2010 và các văn bản hướng dẫn
thi hành như: Nghị định 01, Nghị định 187/2004/NĐ-CP…
- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng hoạt động chào bán chứng
1.1.1.1. Khái niệm chứng khoán
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 tại thành phố trung tâm buôn bán của
phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại một số khu như quán cà phê để
trao đổi mua bán các loại hàng hoá như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các
chứng từ có giá. Ðiểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với
nhau bằng lời nói, không có hàng hoá thật. Những cuộc thương lượng này
nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi mua bán ngay hoặc cho
tương lai. Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người và sau đó
đông dần cho đến khi nó thực sự thành một khu chợ riêng. Thời gian họp
chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày.
Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy
ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt
buộc đối với những ai muốn tham gia thị trường và TTCK hình thành từ đó.
Như vậy, TTCK xuất hiện từ thế kỷ thứ 15. Sự hình thành TTCK cũng đồng
thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát triển của thị tường chứng khoán thế giới
đã trải qua những giai đoạn thăng trầm. Thời kỳ huy hoàng vào những năm
1875 đến 1913, TTCK phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh
tế. Hay thời kỳ đen tối nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 và
1987, đã làm cho TTCK thế giới suy sụp nặng nề. Tuy nhiên, TTCK thế giới
vẫn tiếp tục phát triển và trở thành một định chế không thể thiếu trong đời
sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo định hướng
thị trường và nhất là những nước đang phát triển, đang cần thu hút luồng vốn
lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân. Cho đến nay, phần lớn các nước trên
Thế giới đã có khoảng trên 160 Sở giao dịch chứng khoán phân tán khắp các
châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực Đông Nam Á vào những năm
1960 -1970 vào ở các nước ở Đông Âu như Balan, Hunggari, Séc, Nga, và
Châu Á như Trung Quốc vào những năm 1980 - đầu năm 1990.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với các quốc gia khác trên thế giới và
trong khu vực, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000. Tuy nhiên,
thác bỏ phiếu (voting -trust certificate), chứng chỉ ký thác chứng khoán, lợi
ích chưa chia một phần đối với dầu, ga hoặc các quyền về khoáng sản khác
,
các quyền chọn hay đặc quyền về chứng khoán. Một cách khái quát, chứng
khoán là bất kỳ lợi ích, hay công cụ thường được hiểu thông dụng là “chứng
khoán”, hay bất cứ một chứng nhận lợi ích hay sự tham gia, sự bảo đảm, hay
quyền đăng ký, quyền mua “chứng khoán”[34, tr.4]. Luật chứng khoán
Trung Quốc kết hợp cả hai phương pháp trên.[41, tr.210]
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ
sung 2010 thì: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn
bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác do bộ tài chính quy định.”
1.1.1.2. Đặc điểm chứng khoán
Chứng khoán là một loại tài sản tài chính có đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, tính thanh khoản (tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả
năng chuyển tài sản đó ra tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc
vào khoảng thời gian và phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc
giảm sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao
hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên
thị trường và nói chung các chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển
nhượng là khác nhau.
Thứ hai, tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị
của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro
+ Chứng khoán vốn: là chứng từ xác nhận sự góp vốn và quyền sở
hữu phần vốn góp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành.
Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Cổ
phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản
hoặc vốn của một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn
thanh toán là vô hạn.[14, tr.44]
Khi tham gia mua cổ phiếu, các nhà đầu tư trở thành các cổ đông của
CTCP. Cổ đông có thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ phiếu trên
thị trường thứ cấp theo quy định của pháp luật.
+ Chứng khoán nợ: điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng
khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho
người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất
định bao gồm cả gốc và lãi trong khoảng thời gian cụ thể [2, tr.44].
+ Chứng khoán phái sinh: là công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng
khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán
phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và người bán
và phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của TTCK. Có thể phân loại
chứng khoán phái sinh thành các loại như: quyền mua cổ phần, chứng
quyền, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua và quyền
chọn bán.
- Căn cứ vào thời hạn, chứng khoán có thể chia thành: chứng khoán
ngắn hạn, chủ yếu là các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường là dưới 1 năm) như
tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng... Chứng khoán dài hạn (có thể từ 2
-10 năm hoặc trên 10 năm) như cổ phiếu, trái phiếu...
- Căn cứ vào lợi tức, có thể chia thành chứng khoán có lợi tức ổn định
và chứng khoán có lợi tức không ổn định. Chứng khoán có lợi tức ổn định là
những chứng khoán tạo ra lợi tức ổn định theo mệnh giá cho người sở hữu
chứng khoán, thường là cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu. Đối với chứng khoán
có lợi tức không ổn định, người sở hữu chứng khoán hưởng lợi tức theo kết
phạm vi một số nhà đầu tư nhất định, thông thường là những nhà đầu tư có
tổ chức với những điều kiện hạn chế, không tiến hành chào bán rộng rãi ra
công chúng. Nhưng lại có lợi thế về điều kiện, thủ tục chào bán dễ dàng hơn
so với chào bán ra công chúng. Đây là điều kiện thuận lợi để các DN huy
động vốn và tìm kiếm đối tác chiến lược.
1.1.2.2. Phương thức chào bán chứng khoán
Phương thức chào bán chứng khoán là những cách thức thực hiện mối
quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trong suốt quá trình đưa chứng
khoán từ nơi phát hành đến với công chúng đầu tư.
Chứng khoán có thể được chào bán theo các phương thức:
- Bán trực tiếp:
Là phương thức tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán
trực tiếp cho nhà đầu tư không qua khâu trung gian. Đây là phương thức cổ
điển chứng khoán được mua bán như hàng hoá thông thường. Tổ chức phát
hành tự mình thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình chào bán như
chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, đăng ký chào bán, quảng cáo, phân phối chứng
khoán... Phương thức này đòi hỏi tổ chức phát hành phải am hiểu thị trường,
có hệ thống phân phối rộng, nhu cầu huy động vốn không cấp bách. Khi đó
chứng khoán sẽ đi thẳng từ nhà phát hành đến tay nhà đầu tư, không có chi
phí trung gian.
Ưu điểm của phương thức bán trực tiếp là tổ chức phát hành sẽ tối đa
được lợi nhuận, nắm bắt được nhu cầu thị trường. Nhưng tổ chức phát hành
sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát tổng lượng vốn lưu động, thời gian tập
trung vốn thường kéo dài nên phương thức này ẩn chứa nhiều rủi ro.
- Chào bán chứng khoán thông qua đại lý phát hành:
Đại lý phát hành là phương thức một hoặc nhiều tổ chức đứng ra làm
đại diện phân phối chứng khoán cho tổ chức phát hành theo hợp đồng đại lý
trong đó có cam kết tỷ lệ hoa hồng (phí đại lý phát hành).
Thông thường tổ chức đại lý phát hành là các công ty chứng khoán
hay các định chế tài chính khác theo quy định của pháp luật. Với trình độ
bằng phương thức đấu thầu.
- Chào bán chứng khoán thông qua bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh phát hành là phương thức một hoặc nhiều tổ chức bảo lãnh
cam kết với tổ chức phát hành về việc thực hiện các thủ tục trước khi chào
bán, phân phối chứng khoán cho nhà đầu tư, nhận mua chứng khoán để bán
lại và mua số chứng khoán còn lại chưa phân phối hết.
Sự tham gia của tổ chức bảo lãnh giúp hoạt động chào bán chứng
khoán diễn ra thuận lợi hơn. Tổ chức bảo lãnh chuẩn bị hồ sơ, thủ tục cần
thiết trước khi chào bán và tiến hành phân phối chứng khoán. Tổ chức bảo
lãnh có thể thành lập tổ hợp bảo lãnh để phân tán rủi ro trong đợt chào bán.
Có nhiều phương thức bảo lãnh với mức độ cam kết khác nhau được
ghi rõ trong hợp đồng bảo lãnh. Những DN mới thành lập hoặc quy mô nhỏ
có thể chọn hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn để đảm bảo thành
công cho đợt chào bán. Nếu công ty có nhu cầu một số vốn nhất định cho
chiến lược kinh doanh mà không thể sử dụng số vốn ít hơn có thể chọn bảo
lãnh theo phương thức tất cả hoặc không. Những DN phát hành bổ sung
thêm cổ phiếu, nếu có những cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của
công ty có thể áp dụng phương thức bảo lãnh dự phòng cho những quyền
mua không được thực hiện. Nếu tổ chức bảo lãnh không bảo đảm khả năng
phân phối hết số chứng khoán có thể thoả thuận với tổ chức phát hành hình
thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất. Mỗi phương thức bảo lãnh đều có ưu và
nhược điểm riêng. Do đó, tổ chức phát hành cần lưu ý nhu cầu vốn và những
đặc thù của DN để lựa chọn phương thức bảo lãnh phù hợp.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chào bán chứng
khoán riêng lẻ
1.1.3.1. Khái niệm chào bán chứng khoán riêng lẻ
Trong một thời gian dài trước khi có Nghị định 01 điều chỉnh về hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ và Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung
thì ở nước ta chưa hình thành nên một khái niệm nhất quán nào về hoạt động
chào bán chứng khoán riêng lẻ.
năm, nhà cung cấp, phân phối…) hoặc chào bán cho cán bộ, công nhân, viên
chức của công ty. Chi phí chào bán chứng khoán ra công chúng thường cao
hơn chi phí chào bán chứng khoán riêng lẻ, có thể lên đến 8-10% so với tổng
lượng vốn huy động. Công ty có thể chọn phương thức chào bán chứng
khoán riêng lẻ với mức chi phí thấp hơn.
1.1.3.3. Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay
Đối với TTCK, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ cung cấp
hàng hoá cho TTCK, tạo cơ sở cho các hoạt động trao đổi mua bán trên thị
trường và kiểm chứng ban đầu về chất lượng chứng khoán sẽ được cung
ứng.
Đối với tổ chức phát hành, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
là một kênh huy động vốn hiệu quả, linh hoạt. Thông qua chào bán chứng
khoán riêng lẻ tổ chức phát hành sẽ tăng quy mô, hiệu quả sử dụng vốn, mở
rộng sản xuất. Đây là nguồn vốn dài hạn và ổn định. Hoạt động này góp
phần thúc đẩy DN tự “hoàn thiện” mình trong việc thực hiện tốt hơn chế độ
tài chính, kế toán, công bố thông tin… Từ đó, DN từng bước đáp ứng những
điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng và niêm yết trên thị trường
tập trung.
Đối với các nhà đầu tư, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
cung cấp các loại chứng khoán và những thông tin bổ ích về đợt chào bán và
tổ chức phát hành. Bằng những kiến thức, kinh nghiệm họ quyết định đầu tư
vào một loại chứng khoán cụ thể. Do vậy, hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ có ý nghĩa nhất định đối với các nhà đầu tư.
Đối với tổ chức trung gian, với vai trò đại lý phát hành, bảo lãnh phát
hành, tư vấn phát hành... các tổ chức này không chỉ thu được khoản lợi
nhuận nhất định (phí, hoa hồng) từ các hợp đồng đại lý, bảo lãnh... Thông
qua những hoạt động này, tổ chức trung gian sẽ nắm bắt được nhu cầu, diễn
biến của thị trường và đưa ra những chiến lược kinh doanh hợp lý.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, cùng với quá trình
- Nhằm cụ thể hóa chỉ thị của thủ tướng chính phủ về hoạt chào bán
chứng khoán riêng lẻ quy định tại Chỉ thị số 20/2008/CT-TTg, ngày
26/11/2008 Bộ tài chính và ủy ban chứng khoán đã ban hành công văn
14285/BTC-UBCK hướng dẫn Chỉ thỉ thị số 20/2008/CT-TTg. Công văn
đưa ra khái niệm cháo bán chứng khoán riêng lẻ, và hồ sơ báo cáo kế hoạch
chào bán chứng khoán riêng lẻ.
- Sau một thời gian hình thành và phát triển, hoạt động chào bán
chứng khoán riêng lẻ đã xảy ra nhiều vấn đề cần sự quản lý và giám sát của
nhà nước. Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định 01 nhằm thắt chặt
hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ. Tuy nhiên, sau một thời gian có
hiệu lực Nghị định 01 đã bộc lộ nhiều thiếu sót và hạn chế.
- Trước những vướng mắc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về những
hạn chế trong Nghị định 01 về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
Đồng thời trả lời công văn của Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 27/01/2011 Ủy ban chứng khoán đã ban hành Công văn số
350/UBCK-QLPH về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 01. Và cũng
nhằm giải đáp một số vướng mắc trên thực tế đang gặp phải trong quá trình
tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán riêng lẻ.
- Nhằm khắc phục những thiếu sót của Luật chứng khoán 2006 và
tháo gở những vướng mắc do Nghị định 01. Ngày 24/11/2010 Quốc hội đã
ban hành Luật số 60/2010/QH để sửa đổi bổ sung Luật chứng khoán 2006.
Luật chứng khoán sửa đổi đã bổ sung thêm quy định về điều kiện và thủ tục
chào bán chứng khoán riêng lẻ vào Luật chứng khoán 2006 tại điều 10a. Đây
là lần đầu tiên hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ được quy định vào
trong luật. Theo đó, nội hàm hoạt động chào bán chứng khoán bao gồm chào
bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ.