Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hội
nhập quốc tế của Việt Nam. Thị trờng chứng khoán là công cụ hiệu quả huy động
và phân bổ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động chào bán
chứng khoán các doanh nghiệp sẽ thu hút, tạo lập vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh. Trong những năm qua, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ đã trở
thành giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn của mình.
Tham gia chào bán chứng khoán riêng lẻ còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
đổi mới hình thức quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để bảo đảm hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của các doanh nghiệp diễn
ra đúng pháp luật, thị trờng chứng khoán vận hành an toàn, nghiên cứu pháp luật
về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc làm cần thiết. Từ nhận thức
đó, tôi chọn đề tài: Pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
1. Mục đích nghiên cứu:
- Khóa luận tiến hành nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về chào bán
chứng khoán riêng lẻ và pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong những năm qua
về chào bán chứng khoán riêng lẻ, những thành tựu và hạn chế cần khắc phục;
- Đề xuất một số phơng hớng hoàn thiện pháp luật về hoạt động chào bán
chứng khoán riêng lẻ của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động chào bán chứng khoán bao gồm chào bán chứng khoán riêng lẻ
và chào bán chứng khoán ra công chúng. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ của doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu là hoạt
động chào bán cổ phiếu và trái phiếu riêng lẻ.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứng chỉ quỹ
Chơng i
Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật
chào bán chứng khoán riêng lẻ
1. Khái niệm chứng khoán và chào bán chứng khoán riêng lẻ
1.1. Chứng khoán
1.1.1. Định nghĩa
Nền kinh tế hiện đại tồn tại nhiều loại thị trờng, mỗi thị trờng đều có hàng
hoá và đối tợng giao dịch khác nhau. Thị trờng tiền tệ là nơi mua bán, trao đổi các
công cụ tài chính ngắn hạn nh tín phiếu kho bạc, thơng phiếu, các chứng chỉ tiền
gửi có thể chuyển nhợng đợc... Thị trờng ngoại hối là nơi diễn ra các giao dịch,
mua bán, chuyển nhợng, vay và cho vay bằng ngoại tệ. Trên thị trờng chứng khoán
(TTCK), đối tợng giao dịch chủ yếu của thị trờng này là các chứng khoán, bao
gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t và các chứng khoán phái sinh. Có
nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tuỳ theo quan điểm của mỗi chủ thể
và pháp luật mỗi quốc gia.
Theo nghĩa nguyên thuỷ nhất, chứng khoán là những chứng th, chứng từ
thay thế tiền bạc chi tiêu trong các hành trình nhiều ngày trên biển. [9, tr.270]
Định nghĩa này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu khi TTCK mới hình thành, số lợng
hàng hoá còn hạn chế.
Ngày nay, TTCK đã phát triển về quy mô và chất lợng, khái niệm về chứng
khoán có những thay đổi nhất định. Một cách khái quát nhất, chứng khoán đợc
hiểu là những chứng th dới dạng vật chất hoặc dữ liệu điện tử (bút toán ghi sổ) xác
nhận quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán đối với chủ thể phát
hành và có thể mua bán, trao đổi.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một số nhà kinh tế học cho rằng, chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính
có thể chuyển nhợng đợc. Hiểu theo cách này, khái niệm chứng khoán không chỉ
có cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh mà bao gồm các công cụ trên
thị trờng tiền tệ nh tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, các loại thơng phiếu,
loại chứng khoán tạo thuận lợi cho công tác quản lý, hoạt động áp dụng pháp luật
diễn ra thuận lợi hơn.
1.1.2. Đặc điểm
Chứng khoán là hàng hoá đặc biệt chỉ xuất hiện và tồn tại trên TTCK.
Chứng khoán có những đặc điểm phân biệt với hàng hoá thông thờng.
Thứ nhất, chứng khoán có tính sinh lợi: thể hiện ở lợi tức và chênh lệch giá
chứng khoán. Khả năng sinh lợi tạo nên sức hấp dẫn của chứng khoán, lôi cuốn
nhà đầu t tham gia thị trờng. Họ sẵn sàng trả tiền để mua chứng khoán với mong
muốn chứng khoán đó sẽ mang về một khoản lợi nhuận trong tơng lai, có thể là
khoản chênh lệch về thị giá khi mua bán chứng khoán, có thể là lợi tức do việc sở
hữu chứng khoán.
Thứ hai, chứng khoán có tính thanh khoản: đây là thuộc tính quan trọng thể
hiện ở khả năng chuyển hoá thành tiền mặt dễ dàng của chứng khoán. Nhờ khả
năng thanh khoản, chứng khoán có thể chuyển nhợng, trao đổi, mua bán trên thị
trờng và hạn chế các rủi ro. Mỗi loại chứng khoán có tính thanh khoản khác nhau,
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh: uy tín của chủ thể phát hành, nhu cầu thị trờng...
Thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro: ngoài những thuộc tính hấp dẫn về tính
sinh lợi, tính thanh khoản, chứng khoán ẩn chứa nhiều rủi ro. Chứng khoán giống
nh một con dao hai lỡi, có thể đem lại khoản lợi nhuận lớn nhng có thể gây thiệt
hại đáng kể cho nhà đầu t. Họ có thể gặp nhiều rủi ro về thanh toán, tính thanh
khoản, rủi ro về lạm phát, rủi ro về lãi suất, về nhu cầu thị trờng... Khi quyết định
đầu t chứng khoán nhà đầu t cần lu ý thuộc tính này.
Ngoài những đặc điểm trên, chứng khoán còn có tính t bản giả, thể hiện ở
sự không đồng nhất giữa giá thanh toán và mệnh giá chứng khoán. Chứng khoán
còn có tính giá trị. Là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngời sở
hữu chứng khoán đối với phần vốn và tài sản của chủ thể phát hành nên chứng
khoán luôn có giá trị nhất định.
Các đặc điểm của chứng khoán luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn
nhau: tính thanh khoản luôn đi cùng tính sinh lời, tính giá trị và tính rủi ro. Do đó,
5
thờng là cổ phiếu u đãi và trái phiếu. Đối với chứng khoán có lợi tức không ổn
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
định, ngời sở hữu chứng khoán hởng lợi tức theo kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp, cổ phiếu thờng là một chứng khoán loại này.
- Căn cứ vào khả năng chuyển đổi, chứng khoán có thể chia thành: chứng
khoán có khả năng chuyển đổi và chứng khoán không có khả năng chuyển đổi.
Chứng khoán có khả năng chuyển đổi là những chứng khoán cho phép ngời nắm
giữ nó có thể chuyển sang một loại chứng khoán khác theo những điều kiện và tỷ
lệ nhất định. Cổ phiếu u đãi, trái phiếu chuyển đổi có thể chuyển đổi thành cổ
phiếu thờng. Chứng khoán không có khả năng chuyển đổi không có những đặc
điểm nh trên.
Việc phân loại chứng khoán giúp chúng ta hiểu hơn về các loại chứng
khoán, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu t khi sở hữu các chứng khoán khác nhau,
quản lý nhà nớc đối với hoạt động chào bán chứng khoán.
1.2. Chào bán chứng khoán riêng lẻ
1.2.1. Định nghĩa
Chào bán chứng khoán là việc đa thêm chủng loại chứng khoán mới vào thị
trờng, bao gồm tất cả các hoạt động nh xin phép, mời chào, phát hành, phân phối
chứng khoán với mục đích cuối cùng là đa chứng khoán ra thị trờng, tạo tính thanh
khoản cho chứng khoán. Hoạt động này chỉ diễn ra trên thị trờng sơ cấp - nơi
chứng khoán lần đầu tiên đợc phát hành.
Các chứng khoán thờng đợc chào bán theo hai phơng thức, đó là chào bán
riêng lẻ và chào bán ra công chúng. Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc
bán chứng khoán cho một số lợng lớn công chúng đầu t, trong đó một số lợng
chứng khoán phải đợc phân phối cho các nhà đầu t nhỏ, khối lợng phát hành phải
đạt một tỷ lệ nhất định. Các chứng khoán chào bán ra công chúng đợc niêm yết và
giao dịch trên thị trờng tập trung. Các công ty chào bán chứng khoán ra công
chúng có lợi thế trong việc quảng bá hình ảnh, tên tuổi và mặc nhiên đợc coi là có
tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định. Đây là lợi thế lớn
doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh. Đó là Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức
tín dụng, các Nghị định về cổ phần hoá, phát hành trái phiếu, chuyển đổi doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thành công ty cổ phần...
Thứ ba, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ thờng gắn với việc thành
lập công ty cổ phần và quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp. Khi
thành lập công ty cổ phần các cổ đông sáng lập có thể tiến hành chào bán cổ phần
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
riêng lẻ góp đủ số vốn điều lệ đã đăng ký. Các công ty Nhà nớc có thể lựa chọn
phơng thức chào bán chứng khoán riêng lẻ để tiến hành cổ phần hoá (CPH).
Ngoài ra, khi chào bán chứng khoán riêng lẻ công ty có thể thực hiện một
số mục đích khác nh duy trì các quan hệ kinh doanh (khách hàng lâu năm, nhà
cung cấp, phân phối ) hoặc chào bán cho cán bộ, công nhân, viên chức của công
ty. Chi phí chào bán chứng khoán ra công chúng thờng cao hơn chi phí chào bán
chứng khoán riêng lẻ, có thể lên đến 8-10% so với tổng lợng vốn huy động. [8,
tr.29-30] Công ty có thể chọn phơng thức chào bán chứng khoán riêng lẻ với mức
chi phí thấp hơn.
Nghiên cứu đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ không
chỉ phân biệt các phơng thức chào bán mà còn có ý nghĩa xác định phạm vi thị tr-
ờng cho các chứng khoán, công tác quản lý thị trờng, bảo vệ quyền lợi cho nhà
đầu t thực hiện tốt hơn.
1.2.3. Phơng thức chào bán chứng khoán riêng lẻ
Phơng thức chào bán chứng khoán là những cách thức thực hiện mối quan
hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu t trong suốt quá trình đa chứng khoán từ nơi
phát hành đến với công chúng đầu t.
Chứng khoán có thể đợc chào bán theo các phơng thức:
- Bán trực tiếp:
Là phơng thức tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán trực tiếp
cho nhà đầu t không qua khâu trung gian. Đây là phơng thức cổ điển chứng khoán
đợc mua bán nh hàng hoá thông thờng. Tổ chức phát hành tự mình thực hiện tất cả
ợc hình thành theo hai chiều: ngời mua cạnh tranh với những ngời mua khác để
mua đợc với giá thấp nhất, ngời bán cạnh tranh với những ngời bán khác để bán
đợc với giá cao nhất. [9, tr.222]
Có nhiều phơng thức đấu giá, nếu căn cứ vào hình thức đấu giá, có đấu giá
trực tiếp, đấu giá gián tiếp, đấu giá tự động. Nếu căn cứ vào phơng thức đấu giá,
có đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục.
- Chào bán chứng khoán thông qua đấu thầu:
Đấu thầu chứng khoán là phơng thức một hoặc nhiều nhà thầu sẽ mua toàn
bộ số chứng khoán dự định phát hành, sau đó phân phối lại trên cơ sở phân chia tỷ
lệ phần trăm với tổ chức phát hành.
Phơng thức này có u điểm là xác định tổng lợng vốn lu động, thời gian huy
động vốn ngắn (thờng chỉ từ 1- 6 tuần). Tuy nhiên, tổ chức phát hành phải chịu chi
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phí trung gian. Khoản phí này do tổ chức phát hành thoả thuận với tổ chức đấu
thầu, tổ chức đợc uỷ quyền. Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa ph-
ơng, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ơng, trái phiếu đợc Chính phủ
bảo lãnh... thờng chào bán bằng phơng thức đấu thầu.
- Chào bán chứng khoán thông qua bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh phát hành là phơng thức một hoặc nhiều tổ chức bảo lãnh cam kết
với tổ chức phát hành về việc thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán, phân phối
chứng khoán cho nhà đầu t, nhận mua chứng khoán để bán lại và mua số chứng
khoán còn lại cha phân phối hết.
Sự tham gia của tổ chức bảo lãnh giúp hoạt động chào bán chứng khoán
diễn ra thuận lợi hơn. Tổ chức bảo lãnh chuẩn bị hồ sơ, thủ tục cần thiết trớc khi
chào bán và tiến hành phân phối chứng khoán. Tổ chức bảo lãnh có thể thành lập
tổ hợp bảo lãnh để phân tán rủi ro trong đợt chào bán.
Có nhiều phơng thức bảo lãnh với mức độ cam kết khác nhau đợc ghi rõ
trong hợp đồng bảo lãnh. Những doanh nghiệp mới thành lập hoặc quy mô nhỏ có
thể chọn hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn để đảm bảo thành công cho đợt
(phí, hoa hồng) từ các hợp đồng đại lý, bảo lãnh... Thông qua những hoạt động
này, tổ chức trung gian sẽ nắm bắt đợc nhu cầu, diễn biến của thị trờng và đa ra
những chiến lợc kinh doanh hợp lý.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, cùng với quá trình chuyển
đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng là quá đổi
mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nớc (DNNN). Hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ góp phần thúc đẩy quá trình CPH DNNN, giảm sự bao cấp về vốn cho
những doanh nghiệp này. Huy động vốn bằng cách chào bán chứng khoán mang
lại sự linh hoạt và chủ động cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp
cận với phơng thức quản lý hiệu quả hơn.
Ngoài ra, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ có vai trò quan trọng
trong việc thực hiện chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp khác nh doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ
phần và hoạt động quản lý nhà nớc trên thị trờng sơ cấp.
2. Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ
2.1 Khái niệm
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chào bán chứng
khoán trong một phạm vi, giới hạn nhất định của tổ chức phát hành.
2.2. Nội dung pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
2.2.1. Pháp luật chào bán cổ phiếu riêng lẻ
Chào bán cổ phiếu riêng lẻ là việc công ty cổ phần thực hiện bán cổ phiếu
của mình trong phạm vi nhỏ các tổ chức đầu t hay một số nhà đầu t cá nhân có
tiềm lực kinh tế.
- Chủ thể thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
Là những tổ chức thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu để huy động vốn
từ công chúng sau khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện,
trình tự, thủ tục chào bán.
cách chào bán cổ phiếu riêng lẻ.
Thứ ba, có phơng án sử dụng vốn hiệu quả đợc cơ quan có thẩm quyền
thông qua, cam kết sử dụng đúng mục đích số vốn huy động đợc.
Thứ t, phạm vi chào bán chỉ hớng tới số lợng nhà đầu t nhất định, không
chào bán ra rộng rãi công chúng. Điều kiện này tạo ranh giới phân biệt chào bán
cổ phiếu riêng lẻ và chào bán cổ phiếu ra công chúng.
Trên thực tế, pháp luật về chứng khoán của các quốc gia có những quy định
khác nhau về điều kiện về chào bán chứng khoán riêng lẻ. Pháp luật về chứng
khoán của Mỹ quy định điều kiện nh sau: nếu nhà đầu t không phải là những ngời
thành thạo thì số lợng không vợt quá 35 ngời và phải cử đại diện mua; đối với nhà
đầu t có tổ chức số lợng mua không hạn chế nếu họ mua chứng khoán để nắm giữ
lâu dài chứ không phải để bán lại; đợc quảng cáo bằng phơng tiện thông tin đại
chúng, hội thảo rộng rãi trừ trờng hợp hội nghị hẹp với nhà đầu t tiềm năng. Luật
chứng khoán Thái Lan chỉ quy định nếu phát hành cho dới 35 ngời và tổng số tiền
không quá 20 triệu Bath thì không phải xin phép nhng phải đăng ký và nộp lệ phí
cho Uỷ ban chứng khoán. [8, tr.28]
Thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ thờng đơn giản hơn so với thủ tục
chào bán cổ phiếu ra công chúng. Doanh nghiệp thực hiện chào bán cổ phiếu riêng
lẻ chỉ cần thực hiện thủ tục tối thiểu nh thông báo, xin phép chào bán, cung cấp
cho nhà đầu t những thông tin cần thiết về đợt chào bán và tình hình kinh doanh
của công ty, không phải đăng ký với Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc.
- Phơng thức chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các chứng khoán đợc chào bán riêng lẻ có thể đợc chào bán thông qua
nhiều phơng thức khác nhau: bán trực tiếp, thông qua các đại lý phát hành, bảo
lãnh phát hành hoặc chào bán thông qua đấu giá, đấu thầu...
Khi tiến hành lựa chọn phơng thức chào bán chứng khoán riêng lẻ doanh
nghiệp cần lu ý những quy định của pháp luật về điều kiện, cách thức phát hành;
mục đích phát hành; khả năng kiểm soát nhà đầu t của tổ chức phát hành; điều
Thành viên hợp danh là ngời quản lý và điều hành, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Giống nh doanh nghiệp t nhân, công
ty hợp danh không đợc chào bán chứng khoán để huy động vốn.
Ngoài ra, Chính phủ, chính quyền địa phơng cũng là những chủ thể tham
gia chào bán trái phiếu phục vụ cho đầu t phát triển, bù đắp thiếu hụt tạm thời cho
ngân sách nhà nớc. Hoạt động chào bán trái phiếu của các chủ thể này thờng có
quy định riêng, không thuộc phạm vi nghiên cứu của khóa luận.
Nh vậy, so với chào bán cổ phiếu riêng lẻ hoạt động chào bán trái phiếu
riêng lẻ rộng hơn về số lợng chủ thể tham gia.
- Điều kiện, thủ tục chào bán trái phiếu riêng lẻ:
Tuỳ theo quy định của mỗi nớc mà điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ có
thể khác nhau. Mục đích chung là chọn ra những chủ thể có khả năng tài chính để
thanh toán đủ gốc, lãi trái phiếu, hạn chế tối đa các rủi ro cho ngời sở hữu trái
phiếu. Thông thờng các điều kiện đó nh sau: là chủ thể đợc phép chào bán trái
phiếu theo quy định của pháp luật; hoạt động kinh doanh phải có lãi trong một số
năm gần nhất; có phơng án sử dụng vốn khả thi và đợc cơ quan có thẩm quyền
thông qua; các báo cáo về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một số năm
đợc kiểm toán; có cam kết thực hiện nghĩa vụ đối với ngời sở hữu trái phiếu.
ở Việt Nam, pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp không quy
định mức vốn điều lệ tối thiểu trong điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ.
Thủ tục chào bán trái phiếu riêng lẻ đơn giản hơn so với chào bán trái phiếu
ra công chúng. Các doanh nghiệp không phải đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nớc. Tuỳ theo đặc thù và lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp khi chào bán trái
phiếu riêng lẻ sẽ thực hiện những thủ tục khác nhau.
- Phơng thức chào bán trái phiếu riêng lẻ:
Trái phiếu đợc chào bán riêng lẻ có thể thực hiện theo các phơng thức: bán
trực tiếp, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, đấu thầu trái phiếu...
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3. Mục đích, nguyên tắc quản lý nhà nớc đối với hoạt động chào bán chứng
Hiện nay trên thế giới, có hai phơng thức quản lý nhà nớc trên thị trờng sơ
cấp. Đó là phơng thức quản lý theo chất lợng và theo chế độ công bố thông tin đầy
đủ. [3, tr.131] Nếu quản lý theo chất lợng cơ quan quản lý đa ra nhiều tiêu chí bảo
đảm chủ thể chào bán có tình hình tài chính ổn định, có uy tín trên thị trờng. Nếu
quản lý theo chế độ thông tin đầy đủ cơ quan quản lý chú trọng đến chất lợng
thông tin và công bố thông tin rộng rãi ra công chúng.
Những nớc có TTCK phát triển thờng áp dụng chế độ công bố thông tin đầy
đủ. Việt Nam và một số nớc đang phát triển, cơ quan quản lý thờng áp dụng phơng
thức quản lý theo chất lợng. ở những nớc này, TTCK còn non trẻ phải có những
bảo đảm an toàn cần thiết.
Quản lý nhà nớc đối với hoạt động chào bán chứng khoán chủ yếu tập trung
vào hoạt động của chủ thể phát hành, các tổ chức trung gian tham gia chào bán,
các nhà đầu t. Đó là các hoạt động ban hành văn bản pháp luật về chào bán chứng
khoán riêng lẻ; tổ chức và hớng dẫn về điều kiện, thủ tục, phơng thức chào bán
chứng khoán; thanh tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia
hoạt động chào bán, xử lý các hành vi vi phạm...
Quản lý hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của chủ thể phát hành:
đối tợng quản lý là các chủ thể chào bán chứng khoán riêng lẻ theo quy định của
pháp luật. Các chủ thể này đã tiến hành hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
trên thực tế. Cơ quan quản lý xác định điều kiện chào bán chứng khoán; quy định
thủ tục, phơng thức chào bán; nội dung công bố thông tin, các báo cáo tài chính;
chế độ kế toán, kiểm toán. Quản lý phải bảo đảm chủ thể phát hành cung cấp đầy
đủ, trung thực những thông tin liên quan tới đợt chào bán. Việc công bố thông tin
phải tiến hành thờng xuyên. Những thông tin đợc công bố bảo đảm chính xác, kịp
thời, dễ tiếp cận.
Quản lý hoạt động của các tổ chức trung gian tham gia thị trờng: tổ chức
trung gian có thể là những ngân hàng thơng mại (NHTM), các công ty chứng
khoán, công ty tài chính, quỹ đầu t chứng khoán... Các trung gian tài chính có lợi
thế về chuyên môn hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thành công đợt chào bán. Thẩm
quyền quản lý những tổ chức này thuộc về nhiều cơ quan khác nhau, tuỳ thuộc vào
TTCK. Với đặc điểm vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau, khả năng huy
động vốn bằng cách chào bán cổ phần, cổ phiếu của công ty cổ phần linh hoạt hơn
so với những doanh nghiệp khác.
Hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần đợc thực hiện khi
thành lập công ty cổ phần hoặc công ty huy động vốn.
1.1.1. Hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ khi thành lập công ty cổ phần
Công ty cổ phần đợc thành lập có thể là thành lập công ty cổ phần từ khi
đăng ký kinh doanh hoặc do kết quả của quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu,
loại hình công ty (phần này sẽ đợc đề cập ở những mục sau).
Khi đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập tiến
hành góp vốn, mua cổ phần. Các cổ đông có thể cùng nhau mua toàn bộ cổ phần
hoặc chào bán cổ phần ra bên ngoài để bảo đảm góp đủ số vốn cần thiết. Luật
doanh nghiệp 2005 quy định cụ thể, chi tiết hoạt động góp vốn, mua cổ phần, chào
bán, thanh toán cổ phần... của cổ đông sáng lập khi thành lập công ty cổ phần.
Theo Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 các cổ đông sáng lập phải cùng
nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông đợc quyền chào bán
và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh . Trờng hợp có cổ đông
sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký, Luật doanh nghiệp 2005 quy
định rõ cách xử lý, bảo đảm trong thời hạn ba năm số cổ phần cha đăng ký mua
phải đợc chào bán hết. Nhng sau ba năm số cổ phần ấy cha đợc đăng ký mua hết
sẽ xử lý nh thế nào vẫn là một câu hỏi. Ngời đang sở hữu cổ phiếu có quyền yêu
cầu hoàn trả vốn hay không? Trách nhiệm của các cổ đông sáng lập trong trờng
hợp này cha có quy định rõ ràng.
Khoản 1 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005 đã bổ sung thẩm quyền của Hội
đồng quản trị trong việc quyết định thời điểm, phơng thức chào bán cổ phần trong
số cổ phần đợc quyền chào bán. Đây là những yếu tố quan trọng quyết định thành
công của đợt chào bán cần đợc sự chấp thuận của Hội đồng quản trị.
xuất, thực hiện các dự án đầu t. Đối tợng đợc chào bán có thể là cổ đông hiện hữu
hoặc công chúng đầu t. Khoản 2 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Tr-
ờng hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó
cho tất cả các cổ đông phổ thông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty
thì phải gửi thông báo bằng văn bản đến các cổ đông theo phơng thức đảm bảo
đến đợc địa chỉ của họ. Có thể hiểu đây là hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ
(chào bán trong nội bộ công ty) vì đối tợng đợc chào bán là các cổ đông hiện hữu,
không có sự tham gia của nhà đầu t bên ngoài.
Thủ tục và trình tự chào bán cổ phần thực hiện theo quy định của pháp
luật về chứng khoán (khoản 4 Điều 61 Luật doanh nghiệp 1999). Với quy định
này công ty không thể chào bán cổ phần riêng lẻ. Pháp luật về chứng khoán chỉ
điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng. Khoản 6 Điều 87 Luật
doanh nghiệp năm 2005 đã phân biệt thủ tục chào bán cho mỗi phơng thức chào
bán: điều kiện, phơng thức, thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện
theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Chính phủ sẽ quy định hớng dẫn
việc chào bán cổ phần riêng lẻ. Quy định này hợp lý và rõ ràng. Nếu công ty chào
bán cổ phần ra công chúng thì điều kiện, phơng thức, thủ tục chào bán tuân theo
những quy định của pháp luật về chứng khoán. Nếu công ty chào bán cổ phần
riêng lẻ trớc hết sẽ tuân theo quy định của Luật doanh nghiệp và văn bản hớng dẫn
của Chính phủ. Luật doanh nghiệp 2005 cha quy định cụ thể điều kiện, phơng
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thức, thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của doanh nghiệp nhng đã có những điều
chỉnh phù hợp hơn.
1.2. Chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty Nhà nớc chuyển đổi thành
công ty cổ phần
DNNN có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam những năm qua.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp này cha cao, phần lớn
kinh doanh không hiệu quả. Nhà nớc hàng năm vẫn phải bù lỗ cho những doanh
nghiệp này, gây mất cân đối thu chi ngân sách Nhà nớc. Nhiều phơng thức đợc áp
nhà nớc. So với Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính phủ thì
đối tợng CPH mở rộng hơn, bao gồm những doanh nghiệp hoạt động trong các
lĩnh vực nhạy cảm nh tài chính ngân hàng.
Trớc đây, Nhà nớc khuyến khích các DNNN CPH nhng đến nay chúng ta đã
chủ động và đẩy mạnh hoạt động này. Những doanh nghiệp nào thuộc diện CPH
phải tiến hành CPH. Điều kiện CPH chỉ yêu cầu các doanh nghiệp này phải còn
vốn nhà nớc (không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi trừ đi giá trị tài
sản không cần dùng, tài sản chờ thanh lý, các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tài
sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH. Quy định nh vậy tạo điều
kiện cho các DNNN CPH thuận lợi, dễ dàng hơn.
1.2.2. Hình thức cổ phần hoá
Điều 3 Nghị định 187/2004/NĐ-CP quy định bốn hình thức CPH. Đó là giữ
nguyên vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp và phát hành thêm cổ phiếu để thu
hút vốn, bán một phần vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa
bán một phần vốn nhà nớc vừa phát hành thêm cổ phiếu, bán toàn bộ vốn nhà n-
ớc hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vừa phát hành thêm
cổ phiếu. Với quy định này, Nghị định 187/2004/NĐ-CP đã kế thừa quy định về
hình thức CPH tại Nghị định 64/2002/NĐ-CP. Trên thực tế các doanh nghiệp sử
dụng các hình thức này không giống nhau. Theo thống kê của Cục Tài chính
doanh nghiệp (Bộ Tài chính) trong số hơn 3000 doanh nghiệp và bộ phận doanh
nghiệp CPH tính đến thời điểm tháng 12/2006: có 43,4% doanh nghiệp chọn hình
thức bán một phần vốn nhà nớc tại doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu
mới; 26% doanh nghiệp CPH theo hình thức bán một phần vốn nhà nớc hiện có;
15,5% doanh nghiệp chọn hình thức bán toàn bộ vốn nhà nớc hiện có tại doanh
nghiệp; chỉ có 15,1% doanh nghiệp vẫn giữ nguyên vốn nhà nớc kết hợp phát hành
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thêm cổ phiếu mới. [19, tr.6-7] Việc thống kê thực trạng áp dụng pháp luật của các
doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật và tìm ra
những quy định phù hợp với thực tế, mong muốn của các doanh nghiệp.