Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
MỤC LỤC
A / MỞ BÀI
Đầu tư vào chứng khoán ở nước ta hiện nay được coi là một lĩnh vực đầu tư
thời thượng vì tính mới mẻ và hấp dẫn của nó. Có thể nói thị trường chứng khoán
Việt Nam là một thị trường non trẻ so với sự phát triển của thị trường chứng khoán
thế giới. Tuy nhiên hiện nay thị trường chứng khoán nước ta đã có bước phát triển
vượt bậc so với giai đoạn hình thành ban đầu. Chứng khoán nước ta không chỉ thu
hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp mà cả nhà đầu tư riêng lẻ, ít tiềm lực tài chính.
Thậm chí có thể nhận thấy nhiều doanh nghiệp mà chứng khoán không phải là
ngành nghề kinh doanh chính nhưng mức độ đầu tư vào lĩnh vực này là không nhỏ.
Hiện này có nhiều hình thức đầu tư chứng khoán được áp dụng tại Việt Nam
như công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, đầu tư riêng lẻ…Bên
cạnh đó nhà đầu tư còn được cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ môi giới
chứng khoán, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán,
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
1
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
lưu ký chứng khoán và nhiều dịch vụ khác. Mỗi hình thức, mỗi dịch vụ có những ưu
nhược điểm khác nhau, phù hợp với nhu cầu và mức độ tham gia đầu tư khác nhau
của nhà đầu tư. Vì vậy, để lựa chọn cho mình hình thức đầu tư và sử dụng các dịch
vụ phù hợp thì nhà đầu tư cần nghiên cứu và cân nhắc những ưu điểm và hạn chế
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
gian giữa người mua và người bán chứng khoán. Công việc môi giới được coi là
hoàn thành khi người mua đã mua được chứng khoán cần mua và người bán đã bán
được chứng khoán cần bán.
Tại Việt Nam các công ty chứng khoán đều đăng ký thực hiện nghiệp vụ này
và là nghiệp vụ quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay. Qua 5 năm hoạt động, thị
trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển tuy không tạo được
những bước đột phá nhưng là sự phát triển vững chắc đều đặn, trong đó hoạt động
môi giới của các công ty chứng khoán đã từng bước song hành với hoạt động giao
dịch trên thị trường.
2. Đối với hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán được pháp luật
định như sau: quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán,
nắm giữ chứng khoán. Như vậy có thể hiểu nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán chính là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua,
bán và nắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng, theo hợp đồng được
kí kết giữa công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với khách hàng là nhà đầu tư.
Chủ thể của hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán gồm có hai chủ
thể là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (gọi là bên được ủy quyền) và nhà
đầu tư là tổ chức hoặc cá nhân (bên ủy quyền). Các công việc chính của hoạt động
quản lý quỹ đầu tư là sử dụng nguồn vốn của nhà đầu tư chuyển giao để trực tiếp
đầu tư vào chứng khoán; trực tiếp nắm giữ và bán chứng khoán trên thị trường khi
xét thấy cần thiết vì lợi ích của nhà đầu tư. Tất cả các ông việc này phải được ghi rõ
trong hợp đồng dịch vụ ủy thác giữa công ty quản lý quỹ với nhà đầu tư. Hợp đồng
này chính là hình thức pháp lý của quan hệ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán.
3. Đối với quỹ đầu tư chứng khoán.
a. Về ưu điểm
Trong thương mại, từ môi giới được sử dụng để chỉ một nghề nghiệp thương
mại do thương nhân thực hiện, với công việc chính là giúp cho các bên tiếp cận
được với nhau và đi đến ký kết các hợp đồng vì lợi ích của họ. Trong số các hành vi
môi giới thương mại, việc môi giới chứng khoán được xem là hoạt động môi giới
khá điển hình và có những điểm đặc thù riêng không hoàn toàn giống như các hành
vi môi giới khác trong lĩnh vực thương mại. Ban đầu khi người môi giới chưa xuất
hiện, các nhà đầu tư phải tự tìm đến nhau, hiệu quả và số lượng giao dịch thấp, hiện
tượng tranh mua tranh bán , không thực hiện nghĩa vụ dễ dàng xảy ra vì các bên vẫn
trực tiếp quản lý số chứng khoán của mình mà không có một phương thức giao dịch
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
4
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
đảm bảo thực hiện cho cả hai bên. Hoạt động môi giới chứng khoán cùng thị trường
chứng khoán góp phần làm hình thành nền văn hóa đầu tư. Thông qua dịch vụ môi
giới chứng khoán, các nhà đầu tư đã tìm đến nhau một cách dễ dàng và thực hiện
giao dịch hiệu quả.Với ý nghĩa là một loại hành vi thương mại, trên thế giới. từ lâu
dịch vụ môi giới chứng khoán đã từng được biết đến như là nghiệp vụ kinh doanh
truyền thống trong thị trường chứng khoán và có những ưu điểm nổi bật, cụ thể như
sau:
Thứ nhất là tính tiện lợi của người mua và người bán khi sử dụng dịch vụ môi
giới chứng khoán. Khi sử dụng dịch vụ môi giới chứng khoán, nhà đầu tư không
cần phải gặp nhau để tiến hành hoạt động giao dịch chứng khoán. Chính vì lẽ đó
hiện sự khác biệt đáng kể giữa hoạt động môi giới chứng khoán so với các loại hình
hoạt động môi giới thương mại khác (như môi giới hàng hóa, dịch vụ hay môi giới
bảo hiểm…).
Thứ hai, hoạt động môi giới chứng khoán luôn được thực hiện bởi chủ thể
đặc thù là các công ty chứng khoán nên mang tính hiệu quả cao. Để được tiến hành
hoạt động môi giới chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán phải được cấp giấy
phép thành lập, hoạt động kinh doanh chứng khoán và phải thực hiện việc đăng ký
kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và
Giám đốc, Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng
khoán phải có Chứng chỉ môi giới chứng khoán. Do vậy nên các công ty chứng
khoán được coi là một loại thương nhân đặc biệt, có chuyên môn nghiệp vụ, có
những hiểu biết sâu sắc về thị trường và có những thông tin quan trọng cùng với
những phân tích của các chuyên gia nên các công ty này thường rất chuyên nghiệp
trong lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của mình. Vì vậy, khi sử dụng dịch vụ môi
giới của họ, người mua và người bán chưng khoán sẽ bảo đảm được tỷ lệ thành
công cao hơn so với tự mình thực hiện việc mua bán.
Thứ ba, hiện nay trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều công ty môi giới
chứng khoán nên các chủ thể mua bán chứng khoán có nhiều sự lựa chọn hơn cho
mình. Nhiều công ty chứng khoán đã coi môi giới chứng khoán là nghiệp vụ kinh
doanh chủ đạo và tập trung đầu tư mạnh. Số lượng công ty chứng khoán hiện này
vào khoảng hơn 100 công ty trong khi quy mô thị trường còn nhỏ nên đã đẩy cuộc
chiến giành thị phần môi giới chứng khoán ngày càng quyết liệt. Như vậy, nếu chưa
tính đến sự phức tạp của nó thì có thể thấy dịch vụ môi giới chứng khoán ở nước ta
hiện nay phát triển khá mạnh, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của các chủ thể có nhu
cầu sử dụng dịch vụ để mua bán chứng khoán.
Thứ tư, các công ty môi giới chứng khoán hiện nay phát triển nhiều dịch vụ
để cung cấp cho khách hàng. Để nâng cao tính chuyên nghiệp và tăng tính cạnh
tranh chiếm lĩnh thị phần, ngoài việc ứng dụng công nghệ cao, phát triển hạ tầng và
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
bởi họ là nhà tư vấn tài chính cá nhân cho khách hàng. Tuy nhiên, hiện nay không
phải công ty môi giới chứng khoán nào cũng đáp ứng được những yêu cầu này.
Chính vì vậy, nhiều trường hợp những giao dịch mà họ thực hiện cho khách hàng bị
thua lỗ mà nguyên nhân chính xuất phát từ sự thiếu chuyên nghiệp nói trên. Trách
nhiệm nghề nghiệp của nhân viên chứng khoán không được tuân thủ, thực hiện giao
dịch tùy tiện gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Đây là vấn đề hết sức bức xúc cho nhà
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
7
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
đầu tư. Tình trạng nhân viên chứng khoán không thực hiện lệnh cho khách hàng dù
họ đã đăng ký hay thực hiện không đúng lệnh gây thiệt hại cho nhà đầu tư không
phải hiếm ở công ty chứng khoán. Thực trạng này đã được phản ánh nhiều trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Với tình hình giá chứng khoán luôn luôn thay đổi
việc thực hiện sai lệnh sai thời điểm có thể gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư thì việc
chuyển lệnh tới phiên giao dịch kế tiếp như vậy gây thiệt hại sẽ là khó tính toán.
Hơn nữa, nhà đầu tư chưa được tôn trọng đúng mức khi đến với công ty
chứng khoán. Nhà đầu tư bị phân biệt đối xử khi đến đặt lệnh tại các công ty chứng
khoán. Nguyên tắc công bằng bình đẳng giữa các nhà đầu tư không được nhiều
công ty chứng khoán thực hiện. Trong trường hợp này những nhà đầu tư riêng lẻ
thường là những người chịu thiệt thòi. Việc phân biệt đối xử thể hiện trong việc các
công ty chứng khoán thường ưu tiên thi hành lệnh của những nhà đầu tư lớn trước
các nhà đầu tư nhỏ không kể ai là người có yêu cầu đặt lệnh trước. Cá biệt có công
ty chứng khoán còn chỉ thực hiện lệnh cho một số nhà đầu tư có số giá trị đặt lệnh ở
công ty chứng khoán tại nhiều công ty chứng khoán đã thực hiện không đúng vai trò
của một nhân viên môi giới chứng khoán. Tình trạng để khách hàng đặt lệnh mà
không biết đến lúc nào sẽ được phục vụ, không hướng dẫn khách hàng các thủ tục
cần thiết khi đặt lệnh… đã xảy ra ở rất nhiều công ty chứng khoán.
Thứ tư, Mức phí dịch vụ môi giới hiện nay chưa hợp lý. Chi phí mà nhà đầu
tư phải trả cho nhà môi giới chứng khoán còn cao so với tính chuyên nghiệp và sự
phát triển của thị trường.
2. Ưu và nhược điểm của dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
a. Ưu điểm
Trong quá trình đầu tư chứng khoán, nhiều nhà đầu tư có những khoản vốn
lớn và có nhu cầu đầu tư khá đa dạng nhưng lại không có khả năng tự mình đưa ra
các quyết định đầu tư hợp lý. Thậm chí, họ đã tiến hành đầu tư nhưng lại không có
khả năng quản lý hiệu quả đối với các khoản mục đầu tư này. Vì thế, họ cần đến sự
trợ giúp từ phía các công ty hoạt động chuyên nghiệp trong quản lý danh mục đầu
tư, bằng cách ký kết và thực hiện một hợp đồng dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
với các công ty này. Như vậy, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán phải
có những ưu điểm nhất định của nó, đó là:
Thứ nhất, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư do một tổ chức kinh doanh chứng
khoán chuyên nghiệp thực hiện nên mang lại hiệu quả đầu tư cao cho nhà đầu tư
chứng khoán. Nhà đầu tư chứng khoán luôn mong muốn lợi nhuận cao nhất mà rủi
ro thua lỗ thấp nhất. Nếu dồn toàn bộ khoản tiền mình có vào một loại cổ phiếu thì
nguy cơ thua lỗ khi cổ phiếu đó giảm giá là rất rõ ràng. Và thực tế không phải nhà
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
9
Trường Đại học Luật Hà Nội
và tiết kiệm thời gian.
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
10
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
Thứ ba, là tính an toàn pháp lý trong quan hệ ủy thác quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán. Về nguyên tắc, để thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán, pháp luật đòi hỏi công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải thỏa
mãn một số điều kiện nhất định. Chẳng hạn, công ty quản lý quỹ phải có giấy phép
thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán nhà nước
cấp; có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết và thực hiện
các hợp đồng với khách hàng. Việc quy định những điều kiện này chính là nhằm
đảm bảo sự an toàn cho quyền lợi của khách hàng giao dịch với công ty quản lý quỹ
đồng thời cũng là để bảo đảm sự an toàn cho chính công ty quản lý quỹ và cho nền
kinh tế nói chung.
Với hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, nhà đầu
tư có thể thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng với công ty quản lý quỹ về phạm
vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền, phí dịch vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên. Hợp
đồng này được ký trực tiếp với công ty quản lý quỹ nên nhà đầu tư có cơ hội nắm
bắt thông tin về công ty cũng như quá trình thực hiện hợp đồng. Vì vậy, nhà đầu tư
đã loại bỏ đi nhiều rủi ro khi giao tiền cho công ty quản lý quỹ. Khi xảy ra tranh
chấp hợp đồng thì nhà đầu tư có thể sử dụng các phương án giải quyết theo quy
định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, hợp đồng dịch vụ ủy
thác quản lý danh mục đầu tư là một sự bảo đảm về mặt pháp lý cho sự an toàn tài
gặp khó khăn.
- Hiện nay những công ty không phải là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán vẫn tham gia cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho tổ chức, cá nhân
mặc dù Ủy ban chứng khoán nhà nước đã có văn bản yêu cầu các công ty dừng hoạt
động này. Do đó, khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xử lý những công ty này
thì không tránh khỏi những quyền lợi của nhà đầu tư bị ảnh hưởng.
3. Những ưu điểm và hạn chế của việc tham gia quỹ đầu tư chứng khoán.
a. Ưu điểm
Kể từ khi ra đời, quỹ đầu tư chứng khoán đã chứng tỏ được những ưu điểm
của mình. Khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư có thể thực hiện được
việc đầu tư khi không có thời gian và kiến thức. Không phải nhà đầu tư nào cũng có
được những kiến thức chuyên sâu về chứng khoán và thị trường chứng khoán, đặc
biệt là những nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ khắc phục được
những nhược điểm đó của nhà đầu tư.
- Quỹ đầu tư chứng khoán giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư là nhu cầu của
người đầu tư, có trường hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
12
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua
việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Lợi ích khác do các quỹ đầu tư mang lại là trình độ quản lý chuyên nghiệp.
Nhiều nhà đầu tư nhỏ khó đạt hiệu năng quản lý các hoạt động đầu tư của mình một
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
đãi về phí giao dịch hơn các cá nhân đầu tư, kể cả những người mua bán thông qua
những công ty môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất.
- Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Thay cho việc người đầu tư
phải đi thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư vào một quỹ
với chi phí giảm đi rất nhiều. Tiền tập hợp trong các quỹ đầu tư chứng khoán được
đặt dưới sự quản lý của các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các công ty quản lý quỹ.
- Nhà đầu tư sẽ bảo đảm mức được mức độ an toàn cao trước các hành vi
không công bằng. Người đầu tư có thể bị thiệt hại nếu danh mục đầu tư của quỹ bị
giảm giá trị do sự biến động giá chứng khoán trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn
thất do gian lận, bê bối hoặc phá sản liên quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ.
Khuôn khổ pháp lý và việc quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với quỹ
đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản.
b. Hạn chế
Những lợi ích mà nhà đầu tư có được khi tham gia quỹ đầu tư là rõ ràng, tuy
nhiên nhà đầu tư cũng gặp phải một số khó khăn từ những nhược điểm của hình
thức đầu tư này. Có thể thấy rằng nhà đầu tư rất khó có thể giám sát được hoạt động
của các quỹ đầu tư và rất dễ xảy ra gian lận tại các quỹ này. Với một mức phí quản
lý dành cho các nhà quản lý lên tới 20% mức tăng giá trị hàng năm của quỹ, rất có
thể đây là động cơ thúc đẩy các nhà quản lý quỹ chấp nhận mạo hiểm một cách thái
quá. Hơn nữa, hầu như không bao giờ nhà quản lý quỹ phải chịu bất cứ một hình
thức phạt nào vì việc đã làm cho giá trị của quỹ bị giảm và nhà quản lý hoàn toàn có
thể thu hẹp quy mô của quỹ để làm lại từ đầu. Khi tiền đổ vào các quỹ đầu tư càng
nhiều thì việc kiếm được các nhà quản lý quỹ có tài năng thực sự càng khó khăn và
khả năng để kiếm được một cơ hội đầu tư là không lớn.
Điểm qua các thị trường trên thế giới cho thấy rất nhiều quỹ đầu tư ở những
nước có thị trường chứng khoán lâu đời đã áp dụng chiến lược nắm giữ cổ phiếu
Qua phân tích trên cho thấy mỗi hình thức đầu tư chứng khoán đều có những
ưu và nhược điểm khác nhau. Hình thức đầu tư này là sự lựa chọn tốt đối với nhà
đầu tư riêng lẻ nhưng lại không phù hợp với nhà đầu tư chuyên nghiệp và ngược lại.
Do đó, mỗi nhà đầu tư cần nghiên cứu và cân nhắc các hình thức đầu tư và lựa chọn
hình thức phù hợp với nhu cầu cũng như đặc điểm của mình để có thể tránh rủi ro
và đem lại lợi nhuận cao nhất khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Lâm Văn Tài, H1N1-KT32H027
15
Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài tập học kì – Môn Luật chứng khoán
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật chứng khoán, Nxb.
CAND, Hà Nội – 2008;
2. Luật chứng khoán năm 2006;
3. Phạm Thị Giang Thu, Một số vấn đề về pháp luật chứng khoán và thị
trường chứng khoán, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2004
4. Đỗ Thị Hiên, Pháp luật điều chỉnh hoạt động môi giới chứng khoán ở
Việt Nam hiện nay , Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2007;
5. Quy chế tổ chức và hoạt động của công ti quản lí quỹ ban hành kèm
theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính số 35/2007/QĐ-BTC
ngày 15/05/2007.
6. Quyết định của Bộ tài chính số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động