MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỐI PHIẾU VÀ CHIẾT KHẤU 6
HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1. Sự ra đời và phát triển của hối phiếu và pháp luật về hối phiếu 6
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu 6
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật về Hối phiếu 7
1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của hối phiếu và chiết khấu hối
phiếu của ngân hàng thương mại 10
1.2.1. Khái niệm hối phiếu 10
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của hối phiếu: 14
1.2.3. Phân loại hối phiếu 15
1.2.4. Vai trò của Hối phiếu 19
1.2.5. Khái niệm chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 23
1.2.6. Các đặc trưng cơ bản của hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân
hàng thương mại 24
1.2.7. Vai trò của hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương
mại 27
1.3. Nguyên tắc và phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại
29
1.3.1 Nguyên tắc chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 29
1.3.2 Các phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại30
1.3.2.1 Phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi 32
1.3.2.2 Phương thức chiết khấu hối phiếu có kỳ hạn 32
1.4. Phân biệt hoạt động chiết khấu hối phiếu và cầm cố hối phiếu của ngân hàng
thương mại 34
1.5. Phân biệt giữa hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại và
hoạt động chiết khấu hối phiếu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tạ Hồng Hạnh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT KÍ HIỆU NỘI DUNG TỪ VIẾT TẮT
1 NHNN : Ngân hàng nhà nước
2 BLDS 2005 : Bộ luật dân sự 2005
3 NHTM : Ngân hàng thương mại
4 TT : Thông tư
5 ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
6 NXB : Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế Việt Nam sau gần ba mươi năm đổi mới đã đạt được rất nhiều
thành tựu to lớn. Việt nam ngày nay được biết đến như một nền kinh tế đang
nổi với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, ngành tài chính - ngân hàng của
Việt Nam những năm trở lại đây đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ,
góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo nền kinh tế đất nước. Nhưng không
thể chỉ dừng lại ở đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải nâng cao
quy mô và năng lực của mình hơn nữa để có thể bắt kịp với sự phát triển của
loại công cụ chuyển nhượng trên thị trường, là cầu nối trong tín dụng thương
mại. Mặt khác trong thực tiễn có rất nhiều học giả nghiên cứu hoạt động này
dưới góc độ kinh tế học, chỉ đơn thuần tìm hiểu nó với tư cách là một nghiệp
vụ kinh doanh ngân hàng với những đặc thù mang tính chất kỹ thuật kinh tế,
nhưng lại có rất ít các tài liệu nghiên cứu về bản chất pháp lý cũng như tính
ưu việt của hoạt động này khiến cho các ngân hàng thương mại rất ít lựa chọn
hình thức này để cấp tín dụng cho khách hàng. Do vậy việc nghiên cứu để làm
rõ thực trạng pháp luật, những điểm bất cập và hạn chế, trên cơ sở đó nêu ra
các giải pháp hoàn thiện và vận dụng một cách có hiệu quả những quy định
của pháp luật về chiết khấu hối phiếu là rất cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho
các ngân hàng thương mại phát triển được hoạt động chiết khấu, trên cơ sở đó
thúc đẩy hoạt động thương mại của doanh nghiệp
Trên đây là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động chiết khấu
hối phiếu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Cho đến thời điểm hiện nay đó cú một số công trình nghiên cứu về hối
phiếu như bài báo của TS. Lê Hoàng Nga “Thương phiếu ở Việt nam, đôi
điều cần trao đổi - Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ 7/2002"; Đỗ Thị
Hồng Hạnh “Một số bất cập của các quy định pháp luật về thương phiếu hiện
nay - Tạp chí Ngân hàng, số 5/2002”; Lê Văn Hải “Tín dụng thương mại
góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế - Tạp chí Thị trường tài
chính - tiền tệ số 4/1999”; Nguyễn Hải Hà “Thương phiếu với vấn đề lạnh
mạnh hoá hoạt động tiền tệ - Tạp chí Thị trường tài chính 7/1999”; TS.Đinh
Dũng Sỹ “Khái niệm thương phiếu và Pháp lệnh thương phiếu – Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, 7/2000” Ngoài ra, giáo trình Luật Ngân hàng Việt nam,
Khoa Luật - ĐHQGHN, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Hà nội 2005 cũng đã có
những phân tích cụ thể về hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng nói chung
và hoạt động chiết khấu Hối phiếu và giấy tờ có giá nói riêng; Bên cạnh đó,
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các qui định pháp luật về chiết khấu Hối phiếu
tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề như lịch sử
hình thành, phát triển của Hối phiếu và pháp luật về Hối phiếu, pháp luật về
hoạt động chiết khấu Hối phiếu, vai trò của hoạt động chiết khấu đối hối
phiếu với ngân hàng và khách hàng; Đánh giá những bất cập trong thực trạng
pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại ở Việt
Nam để từ đó nêu lên một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt
động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam.
4
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử
dụng các phương pháp chủ yếu sau để làm rõ các nội dung trong đề tài:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. Các phương pháp này được sử
dụng xuyên suốt luận văn gắn với từng nội dung nghiên cứu của đề tài.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài được bố cục thành ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hối phiếu và chiết khấu hối phiếu
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của
ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động
chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỐI PHIẾU VÀ CHIẾT KHẤU
HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Sự ra đời và phát triển của hối phiếu và pháp luật về hối phiếu
đã được chuyển nhượng. Thông qua hình thức chuyển nhượng, hối phiếu đã
được sử dụng như một phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại, mua
bán hàng hóa. Ngày nay, hối phiếu được sử dụng rộng rãi như là phương tiện
thanh toán trong quan hệ thương mại quốc tế và trong quan hệ thương mại nội
địa của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra hối phiếu còn được sử
dụng rộng rãi trong các giao dịch vay nợ quốc tế như là văn bản cam kết nhận
nợ và cam kết thanh toán đối với các khoản vay [21].
Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại và công nghệ, hối phiếu
ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức và nội dung, dần thoát ly khỏi cơ sở
kinh tế ban đầu của nó là quan hệ thương mại, nghĩa là, sau khi được ký phát
hối phiếu trở thành một loại giấy tờ có giá có hiệu lực độc lập hoàn toàn với
giao dịch kinh tế “sản sinh” ra nó. Vì là chứng từ có giá lại chuyển nhượng
được, nên hối phiếu không chỉ dừng lại ở quan hệ tín dụng thương mại mà
còn được sử dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chiết khấu, cầm cố, thế
chấp và là phương tiện thanh toán trong các giao dịch khác. Hơn nữa, ngày
nay hối phiếu còn trở thành một loại hàng hóa để mua bán trên thị trường tiền
tệ, đặc biệt ở một số nước, việc mua bán hối phiếu đã phát triển mạnh thành
một thị trường riêng biệt.
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật về Hối phiếu
Để Hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán và nâng cao hiệu quả sử
dụng của hối phiếu, ngoài việc phải chứng chỉ hóa hối phiếu thì pháp luật về
7
hối phiếu và các hoạt động thương mại liên quan đến hối phiếu cần phải được
ban hành đầy đủ và hoàn thiện hơn. Thực tế thì hầu hết các quốc gia trên thế
giới đã ban hành luật về hối phiếu. Tuy nhiên, ngày nay thương mại quốc tế
đã phát triển rất nhiều, từ đó làm phát sinh nhu cầu sử dụng hối phiếu làm
phương tiện thanh toán quốc tế gia tăng, do đó nếu không có sự quy định
thống nhất pháp luật về hối phiếu trong khi Người ký phát và Người bị ký
phát lại ở hai quốc gia khác nhau thì việc sử dụng và thanh toán hối phiếu sẽ
rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một Luật quốc tế thống
thực dân Pháp tạm thời chiếm đóng và Khu vực kháng chiến. Trong khu vực
do thực dân Pháp chiếm đóng thì thương phiếu nói chung và hối phiếu nói
riêng vẫn được sử dụng trong cả nội thương và ngoại thương. Còn trong khu
vực kháng chiến thì không sử dụng thương phiếu bởi vì lúc đó kinh tế chủ yếu
để phục cho kháng chiến, không còn cơ sở cho thương phiếu hình thành và
phát triển.
Từ năm 1954 đến 1972, khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, Miền
Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam chịu ảnh hưởng của kinh
tế tư bản chủ nghĩa do sự chiếm đóng của đế quốc Mỹ. Lúc này, miền Nam
Việt Nam sử dụng thương phiếu theo Luật thương mại của Pháp. Năm 1972,
Chính phủ Miền Nam Việt Nam đã ban hành Luật thương mại, trong đó đã
dành riêng một chương quy định về Hối phiếu, Kỳ phiếu và Chi phiếu (Séc).
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Luật thương mại Sài Gòn 1972 không
còn được sử dụng nữa. Từ năm 1954 đến 1999, thương phiếu chỉ được sử
dụng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Các doanh nghiệp Việt Nam khi phát
hành Hối phiếu đòi nợ đều áp dụng Luật thống nhất về hối phiếu (ULB 1930).
Ngày 24/12/1999, Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam ra đời, đánh
dấu một bước phát triển mới của lưu thông thương phiếu tại Việt Nam. Tuy
9
nhiên, sau khi được ban hành, pháp luật Thương phiếu đã bộc lộ nhiều hạn
chế, khiến cho pháp lệnh này khó được áp dụng trong thực tiễn. Trước yêu
cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một yêu cầu đặt ra là phải sửa đổi
các quy định trong pháp lệnh thương phiếu 1999 để nó phù hợp hơn với các
hoạt động thương mại trên thực tế. Vì vậy Luật các công cụ chuyển nhượng
đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đã đánh dấu một bước phát
triển mới đối với pháp luật về hối phiếu của Việt Nam. Ngoài ra, Luật các tổ
chức tín dụng năm 2010 hiện cũng là cơ sở pháp lý quan trọng, cho phép các
tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động tín dụng dưới hình thức chiết khấu các
giấy tờ có giá, trong đó có Hối phiếu. Bên cạnh đó, để cụ thể hóa hoạt động
chiết khấu Hối phiếu, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số
- Địa điểm thanh toán hối phiếu
- Họ và tên người được thanh toán hoặc theo lệnh của người này;
- Ngày, tháng và địa điểm ký phát;
- Chữ ký của người ký phát hối phiếu [11].
Tương tự như vậy Điều 75 Luật hối phiếu Đức 1933 quy định về các
cấu thành hối phiếu tự nhận nợ như sau:
- Chữ “Hối phiếu” trong nội dung chứng chỉ và bằng ngôn ngữ được
sử dụng khi phát hành chứng chỉ;
- Cam kết thanh toán vô điều kiện một khoản tiền nhất định;
- Hạn định thanh toán hối phiếu;
- Địa điểm thanh toán hối phiếu;
- Họ và tên người được hưởng thanh toán hoặc theo lệnh của người này;
- Ngày, tháng và địa điểm ký phát;
11
- Chữ ký của người ký phát [1].
Luật hối phiếu của Singapore năm 1965 định nghĩa về hối phiếu đòi nợ
và hối phiếu nhận nợ như sau:
- Hối phiếu đòi nợ là một lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện
bằng văn bản do một người ký phát cho một người khác yêu cầu người này
thanh toán ngay lập tức hoặc tại một thời điểm ấn định hoặc có thể xác định
trong tương lai một số tiền nhất định cho hoặc theo lệnh của một người xác
định hoặc trả cho người cầm hối phiếu [3].
- Một công cụ không phù hợp với các điều kiện trên hoặc một công cụ
ra lệnh thực hiện thêm bất kỳ một hành động nào ngoài việc thanh toán tiền
không phải là hối phiếu đòi nợ.
- Hối phiếu nhận nợ là một cam kết không điều kiện được lập thành
văn bản do người lập ký cho một người khác, cam kết sẽ thanh toán ngay khi
có yêu cầu hoặc tại một thời điểm ấn định hoặc có thể xác định được trong
tương lai một số tiền nhất định cho hoặc theo lệnh của một người cụ thể hoặc
cho người cầm hối phiếu. Theo nghĩa của điều này, một công cụ có hình thức
toán không điều kiện một số tiền xác định;
- Ba là, thời hạn thanh toán của hối phiếu là khi có yêu cầu hoặc sau
một thời hạn có thể xác định trong tương lai.
Về bản chất, hối phiếu là một hành vi pháp lý được thực hiện bởi bên
có quyền hoặc bên có nghĩa vụ – để ràng buộc nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
đối với việc thanh toán hối phiếu. Tuy nhiên chỉ khi hành vi pháp lý ấy được
thực hiện dưới hình thức và nội dung theo luật định thì nó mới ràng buộc
nghĩa vụ thanh toán hối phiếu của chủ thể đó. Hành vi pháp lý bao gồm: hành
vi ký phát hành, ký chấp nhận, ký bảo lãnh (nếu có) và ký chuyển nhượng hối
phiếu của người ký phát hành, người bị ký phát, người bảo lãnh, người
chuyển nhượng
13
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của hối phiếu:
Hối phiếu là một loại giấy tờ có giá, có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là: Hối phiếu được nhìn nhận là trái vụ của một bên, do hối phiếu
được hiểu là một lệnh trả tiền hoặc cam kết trả tiền vô điều kiện của người
phát lệnh (người ký phát, người phát hành) cho người thụ hưởng. Khi đó câu
hỏi được đặt ra là: tính chất vô điều kiện của việc trả tiền được thiết lập đối
với ai và thiết lập từ khi nào:
Đối với người ký phát: Kể từ khi lập hối phiếu
Đối với người bị ký phát: Kể từ khi chấp nhận hối phiếu
Đối với người bảo lãnh: Kể từ khi ký bảo lãnh
Đối với người nhận chuyển nhượng: Kể từ khi hối phiếu được chuyển
nhượng hợp lệ.
Hai là: Hối phiếu có tính trừu tượng. Xuất phát từ hình thức và nội
dung của hối phiếu, ta thấy trên hối phiếu chỉ ghi số tiền phải trả hoặc cam kết
trả mà không ghi nguyên nhân. Trong lưu thông, giá trị của hối phiếu không
bị ràng buộc vào nguyên nhân phát sinh ra nó. Điều đó có nghĩa là khi một
hối phiếu được phát hành và chuyển giao cho người khác thì nó trở thành một
chứng thư độc lập và được phép lưu thông mà không phụ thuộc vào việc có
Hối phiếu đòi nợ do người bán lập yêu cầu ngân hàng phục vụ người
mua trả tiền cho người thứ ba.
Hối phiếu đòi nợ do người mua lập yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
trả tiền cho người bán
Hối phiếu đòi nợ do người bán lập yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng
thanh toán tiền theo thư tín dụng (L/C)
Hối phiếu đòi nợ lại có thể chia thành hai loại:
15
Hối phiếu đòi nợ chưa được người bị ký phát chấp nhận: Là loại hối
phiếu đòi nợ chưa được người bị ký phát ký chấp nhận sẽ thực hiện yêu cầu
thanh toán của người ký phát. Như vậy, nghĩa vụ thanh toán Hối phiếu của
người bị ký phát chưa hình thành. Nếu Hối phiếu loại này được chuyển
nhượng mà đến hạn lại không được thanh toán, thì người thụ hưởng có quyền
truy đòi người ký phát Hối phiếu.
Hối phiếu đòi nợ đã được người bị ký phát chấp nhận: Sau khi đã ký
chấp nhận trên Hối phiếu, người bị ký phát có nghĩa vụ thanh toán một phần
hoặc toàn bộ số tiền ghi trên Hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán. Điều
đó có nghĩa là hành vi chấp nhận đã làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán Hối
phiếu (một phần hoặc toàn bộ) của người bị ký phát.
Hối phiếu nhận nợ là cam kết thanh toán một số tiền nhất định trong
tương lai cho người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
- Căn cứ vào thời hạn thanh toán hối phiếu, hối phiếu có thể được
chia thành:
Hối phiếu thanh toán ngay sau khi xuất trình là loại Hối phiếu có cam
kết hoặc được yêu cầu thanh toán khi xuất trình hoặc trên Hối phiếu không
qui định thời hạn thanh toán.
Hối phiếu thanh toán sau một thời gian xác định
Hối phiếu thanh toán vào một ngày cụ thể nhất định Ví dụ: Thanh toán
Hối phiếu này vào ngày 30/5/2013.
Hối phiếu thanh toán vào một ngày có thể xác định được trong tương
thanh toán trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hoặc được phát hành tại
một quốc gia để đòi tiền một người khác trong cùng lãnh thổ quốc gia đó.
17
Hối phiếu quốc tế: Là Hối phiếu được phát hành và thanh toán tại hai
quốc gia khác nhau hoặc được phát hành để đòi tiền một người khác ở nước
ngoài. Hối phiếu quốc tế được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế và
tín dụng quốc tế.
- Căn cứ vào cơ sở hình thành Hối phiếu có thể chia Hối phiếu thành
Hối phiếu thực: Là Hối phiếu được hình thành từ các giao dịch cơ sở
như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng vay
tài sản của tổ chức cá nhân trong nền kinh tế, hợp đồng tín dụng ngân
hàng….Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán sau khi hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng thì ký phát Hối phiếu đòi nợ đòi tiền
người mua hoặc sau khi nhận được Hối phiếu nhận nợ từ người mua thì người
bán mới tiến hành giao hàng [25].
Hối phiếu khống: Là Hối phiếu không hình thành dựa trên các giao
dịch cơ sở.
- Căn cứ vào loại tiền tệ ghi trên Hối phiếu có thể phân chia thành:
Hối phiếu nội tệ là loại Hối phiếu được ghi trả bằng đồng tiền của quốc
gia nơi Hối phiếu được thanh toán.
Hối phiếu ngoại tệ là loại Hối phiếu được ghi trả bằng đồng tiền không
phải là đồng tiền của quốc gia nơi Hối phiếu được thanh toán.
- Căn cứ vào giao dịch cơ sở của Hối phiếu, có thể chia Hối phiếu
thành hai loại:
Hối phiếu thương mại: Là Hối phiếu được phát hành trên cơ sở giao
dịch thương mại như: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch
vụ,….
Hối phiếu tài chính: Là Hối phiếu được phát hành trên cơ sở giao dịch
tài chính như: hợp đồng vay nợ.
18
thông hàng hóa rất nhanh mà vốn của các ngân hàng thương mại có hạn
Tạo ra những sản phẩm dịch vụ mới, tăng sức cạnh tranh và nguồn
doanh thu cho các ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, việc khai thác và nâng cao chất lượng của
các loại hình dịch vụ mới là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng
thương mại. Bởi vì chính nhờ các dịch vụ tiện ích đó mà các ngân hàng
thương mại thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn. Hối phiếu với 4 chức
năng cơ bản (Công cụ tín dụng, là tài sản bản đảm trong Hợp đồng tín dụng,
là công cụ đầu tư vốn, và là phương tiện thanh toán) có vai trò kích thích
những sản phẩm dịch vụ mới của các ngân hàng thương mại. Cụ thể, những
nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến Hối phiếu là: Nghiệp vụ nhờ thu Hối
phiếu, nghiệp vụ bảo lãnh Hối phiếu, nghiệp vụ chấp nhận Hối phiếu. Thực
hiện những nghiệp vụ này ngân hàng thương mại được hưởng những phí dịch
vụ: Phí nhờ thu, phí bảo lãnh, phí chấp nhận hối phiếu. Những khoản phí này
làm tăng doanh thu cho ngân hàng thương mại.
- Tạo cơ sở để mở rộng hoạt động cấp tín dụng cho các chủ thể trong
nền kinh tế qua các dịch vụ cầm cố, chiết khấu, bảo lãnh hối phiếu.
Nếu có nhu cầu về vốn, người thụ hưởng hối phiếu có thể đem hối
phiếu chưa đến hạn thanh toán đi chiết khấu, cầm cố hối phiếu, chiết khấu và
được cấp một khoản tín dụng.
Đối với hối phiếu được bảo lãnh, người bảo lãnh có nghĩa vụ cam kết
với người nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên
hối phiếu nếu đã đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh
toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Như vậy, bảo lãnh hối phiếu khác với
cầm cố, chiết khấu hối phiếu ở chỗ: nghĩa vụ trả tiền của người bảo lãnh chỉ
phát sinh trong các trường hợp người được bảo lãnh không thanh toán đầy đủ
khi hối phiếu hết hạn.
20
Ngoài ra Hối phiếu gắn hoạt động tín dụng với quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa, làm giảm thiểu rủi ro cho hoạt động tín dụng ngân hàng.