kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở việt nam hiện nay - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp giáo dục của nhân dân Việt Nam trong những năm qua đã
đạt đợc nhiều thành tựu đáng tự hào, góp phần đắc lực vào quá trình bảo vệ
và xây dựng đất nớc. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, về mặt lý luận
cũng nh thực tiễn, giáo dục - đào tạo còn có một trong những thiếu sót là:
Cha nghiên cứu một cách hệ thống để kế thừa các t tởng và di sản giáo dục
của cha ông, cha tiếp thu đợc đầy đủ và kịp thời những thành tựu giáo dục
của thế giới. Hay nói cách khác, cha giải quyết tốt vấn đề kết hợp truyền
thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục ở nớc ta, đây là một
trong những mâu thuẫn mà giáo dục hiện đại phải đơng đầu.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
phát triển nh vũ bão, quá trình giao lu quốc tế trên tất cả mọi mặt của đời
sống xã hội đợc tăng cờng, phát triển với tốc độ nhanh. Đa số các nớc đều rất
chú trọng chính sách giáo dục - đào tạo. Để những chính sách đó không phải
là sự sao chép, "lai căng", không trở thành bóng mờ của ngời khác, đánh
mất bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề kết hợp truyền thống và hiện đại trong
quá trình đổi mới nền giáo dục - đào tạo đang đợc nhiều nớc quan tâm, đặc
biệt là các quốc gia đang phát triển. Các nớc này đang mày mò, trăn trở tìm
lời giải cho sự kết hợp truyền thống và hiện đại trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống tinh thần lẫn vật chất, cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn.
Trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo (từ năm 1987 đến nay),
bên cạnh những mặt tích cực thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
vẫn còn khuynh hớng lệch lạc, cha khắc phục đợc những truyền thống xấu,
lạc hậu của nền giáo dục cũ nh chạy theo bằng cấp, nặng lý thuyết, coi nhẹ
thực hành; có khuynh hớng thơng mại hóa trong giáo dục; môi trờng giáo
5
dục có chỗ cha lành mạnh; phơng pháp giảng dạy và học tập lạc hậu
Những truyền thống tốt của giáo dục nh truyền thống hiếu học, tôn s trọng
đạo, coi trọng giáo dục đạo đức cha phát huy đúng mức, do vậy sản phẩm
của giáo dục có khuynh hớng coi nhẹ hoặc phủ nhận những giá trị quý báu

lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của xã hội và những biểu hiện của nó
trong lịch sử dân tộc và trong đời sống văn hóa hiện nay, bao gồm: Nghị
quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VIII) về
xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, nghị quyết đã dành một phần đánh giá thực trạng và đề ra những nhiệm
vụ cụ thể nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc; Biện chứng của truyền thống của GS Hà Văn Tấn,
Tạp chí Cộng sản, số 3/1981; Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì
mục tiêu phát triển của GS Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số
2/1998; Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát
triển đất nớc, dân tộc của PGS Nguyễn Văn Huyên, Tạp chí Triết học, số
4/1998; Về truyền thống dân tộc của GS Trần Quốc Vợng, Tạp chí Cộng
sản, số 2/1981; Truyền thống và cách tân trong công tác giáo dục ở nớc ta
của Hoàng Ngọc Di, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 9/1989; Truyền thống
dân tộc và tính hiện đại của truyền thống của Trần Đình Sử, Tạp chí Cộng
sản, số 15/1996; Hồ Chí Minh với văn hóa truyền thống và tiếp xúc văn hóa
Đông - Tây của Phan Văn Các, Tạp chí Cộng sản, số 13/1996; Thử thách
đối với các giá trị truyền thống và hiện đại trong quản lý giáo dục của
Victor M.Ordonez, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 7/1998;
Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới
ở nớc ta của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 1/1988; Văn hóa chính trị Việt
Nam, truyền thống và hiện đại của GS Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 1998. Viện Thông tin khoa học xã hội đã su tầm và dịch ra
7
tiếng Việt tập hợp thành công trình Truyền thống và hiện đại trong văn hóa do
Lại Văn Toàn chủ biên, năm 1999, phản ánh quá trình tìm kiếm sự kết hợp
truyền thống và hiện đại trong văn hóa của các nớc kinh tế phát triển.
2- Nhóm vấn đề liên quan đến truyền thống và đặc trng của nền giáo
dục cổ truyền Việt Nam gồm có: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt
Nam thời phong kiến của Nguyễn Tiến Cờng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998;

gia, Hà Nội, 1996; Phát triển giáo dục phát triển con ngời phục vụ phát
triển xã hội - kinh tế của Phạm Minh Hạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996; Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa của thế kỷ XXI của Phạm Minh Hạc,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; 50 năm phát triển sự nghiệp giáo
dục và đào tạo (1945 - 1995) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1995; Vấn đề giáo dục - đào tạo của Phạm Văn Đồng, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo dục tại Việt Nam: xu hớng phát triển và
những khác biệt, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1996. Đặc biệt bộ sách Những vấn
đề về chiến lợc phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gồm 9 tập của Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục, (Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1998) đã đánh giá chi tiết thực trạng của nền giáo dục Việt Nam trên hầu
hết các lĩnh vực của giáo dục - đào tạo và có đề cập đến vấn đề truyền thống
và hiện đại trong một số lĩnh vực của giáo dục nh nội dung, chơng trình giảng
dạy, tổ chức Cha có một chuyên khảo riêng về kết hợp giữa truyền thống và
hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam. Nhng những
kết quả nghiên cứu trên là một trong những luận cứ, cơ sở của luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
a) Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng nhận thức và vận dụng sự kết hợp truyền
thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở nớc ta trong
những năm gần đây, luận án góp phần đa ra một số phơng hớng và giải pháp
9
nhằm hoàn thiện nhận thức và nâng cao khả năng vận dụng sự kết hợp đó
vào quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo trong những năm trớc mắt.
b) Nhiệm vụ:
- Luận chứng tính tất yếu phải kết hợp những giá trị truyền thống
với những yếu tố hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo.
- Tìm hiểu thực trạng kết hợp truyền thống và hiện đại trong giáo
dục - đào tạo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Đề xuất một số phơng hớng và giải pháp để thực hiện tốt việc kết

chứng duy vật, các nguyên tắc của lôgíc biện chứng nh nguyên tắc lịch sử
cụ thể, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc thống nhất giữa lôgíc và lịch sử
phơng pháp khảo sát, điều tra xã hội học, phơng pháp so sánh, thống kê
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án gồm 3 chơng, 6 tiết.
11
Chơng 1
kết hợp truyền thống và hiện đại, sự thể hiện
của nó trong phát triển giáo dục - đào tạo
1.1. truyền thống và hiện đại, sự thể hiện của nó trong
giáo dục - đào tạo
1.1.1. Khái niệm "truyền thống" và "truyền thống giáo dục -
đào tạo"
1.1.1.1. Khái niệm "truyền thống"
Truyền thống là một khái niệm cho đến nay còn có nhiều cách diễn
đạt khác nhau về nội hàm và ngoại diên của nó: Tùy thuộc vào góc độ, vào đối
tợng từng ngành khoa học mà các tác giả có những cách trình bày khác nhau.
Theo từ điển Hán - Việt: "Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời
kia" [1, tr. 505]. Trong cuốn Từ điển của Trung Quốc xuất bản năm 1989
định nghĩa: "Truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội đợc lu truyền lại
từ lịch sử. Nó tồn tại ở các lĩnh vực, chế độ, t tởng, văn hóa, đạo đức.
Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con ng-
ời. Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử" [23, tr. 10]. Từ điển
Bách khoa Xô viết định nghĩa: truyền thống là:
Những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này
qua đời khác và đợc lu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã
hội trong một quá trình lâu dài. Truyền thống đợc thể hiện trong
chế định xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị, t tởng, phong tục,
tập quán và lối sống Truyền thống tác động khống chế đến mọi

[38, tr. 145].
13
Vận dụng những định nghĩa trên vào lĩnh vực chuyên môn của mình
các nhà khoa học đã khai thác nội hàm và ngoại diên của các khái niệm
truyền thống ở những góc độ khác nhau.
Khi nghiên cứu "về truyền thống dân tộc", Trần Quốc Vợng viết:
Truyền thống nh là một hệ thống các tính cách, các thế
ứng xử của một tập thể (một cộng đồng) đợc hình thành trong
lịch sử, trong một môi trờng tự nhiên và nhân văn nhất định, trở
nên ổn định, có thể đợc định chế hóa bằng luật hay bằng lệ, và đ-
ợc trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để đảm bảo tính
đồng nhất của một cộng đồng [81, tr. 28-29].
Khi bàn về văn hóa Việt Nam, Vũ Khiêu định nghĩa: "Truyền thống
là những thói quen lâu đời đã đợc hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ
và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, một làng xã, một
tập đoàn lịch sử" [30, tr. 536].
Khi phân tích tính biện chứng của truyền thống, Hà Văn Tấn cho rằng:
Ngời ta thờng giới hạn truyền thống dân tộc vào những
mặt nh tính cách, phẩm chất, tâm lý, khả năng và phong cách
hoạt động của cộng đồng dân tộc, hay đúng hơn của số đông
thành viên của cộng đồng dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Có
thể kể thêm vào truyền thống cái mà ngời ta gọi không đạt lắm là
ứng xử [70, tr. 50].
Nghiên cứu "truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thống",
Trần Đình Sử viết "truyền thống là mối liên hệ lịch sử mà một đầu là những
giá trị t tởng, văn hóa đợc sáng tạo trong quá khứ lịch sử dân tộc và một đầu
là sự thẩm định, xác lập và phát huy của ngời hiện đại. Vì vậy có thể nói
truyền thống là các giá trị quá khứ mang ý nghĩa hiện đại" [68, tr. 45]. Khi
"nhận diện giá trị văn hóa dân tộc", Trịnh Đình Khôi cho rằng "truyền thống
là những phẩm chất, đặc tính kéo dài nhiều thế hệ, đi dọc thời gian và lịch

Khi phê phán những quan điểm đối lập và khẳng định những quan
điểm t tởng của mình về chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác - Ăngghen viết:
Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ
riêng rẽ trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những
t bản, những lực lợng sản xuất do tất cả các thế hệ trớc để lại, do
đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục các hoạt động đợc truyền lại,
trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác, lại
biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay
đổi [36, tr. 65].
Trong bức th Ăngghen gửi Joseph Bloch ở Konigsberg ngày 21
tháng 9 năm 1890 có đoạn viết:
Chúng ta làm nên lịch sử của chúng ta, nhng thứ nhất,
chúng ta làm ra lịch sử với những tiền đề và những điều kiện đã
xác định. Trong số những tiền đề và điều kiện ấy thì những tiền
đề và điều kiện kinh tế rút cục giữ vai trò quyết định. Nhng
những điều kiện chính trị, v.v., ngay cả những truyền thống tồn tại
trong đầu óc con ngời cũng đóng một vai trò nhất định, tuy
không phải là vai trò quyết định

[42, tr. 642].
Qua các định nghĩa về khái niệm truyền thống và cách tiếp cận khai
thác nội hàm và ngoại diên của khái niệm truyền thống ở các góc độ khoa
học khác nhau của các nhà nghiên cứu, đều có những nhân hợp lý của nó;
họ đều đứng trên thế giới quan khoa học và phơng pháp luận biện chứng
của chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét, tránh đợc những sai lầm của chủ
nghĩa h vô, chủ nghĩa bảo thủ. Qua các kết quả nghiên cứu đó, chúng ta có
thể rút ra đợc những đặc trng cơ bản của truyền thống là:
1- Truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lu truyền.
Tuy nhiên những đặc trng đó của truyền thống có tính độc lập tơng đối, khi
những cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm

cảm, thói quen trong t duy, tâm lý, lối ứng xử đợc hình thành trên cơ sở
những điều kiện tự nhiên - địa lý, kinh tế - xã hội cũng nh hoạt động của
con ngời trong quá trình lịch sử và đợc lu truyền từ thế hệ này đến thế hệ
khác trong một cộng đồng ngời nhất định.
1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành và phát triển
của truyền thống
Mỗi dân tộc có một truyền thống của mình, có truyền thống tốt, có
truyền thống xấu. Đó là những phong tục, tập quán, thói quen, những đức tính,
lối ứng xử tồn tại lâu dài, đợc truyền từ thế hệ trớc cho thế hệ sau và có tác
dụng tích cực hoặc tiêu cực. Truyền thống biểu hiện bản sắc của mỗi dân tộc
nh truyền thống tín ngỡng tôn giáo ở ấn Độ, truyền thống nghệ thuật kiến trúc
ở ý, truyền thống trồng lúa nớc ở Việt Nam, truyền thống du canh du c của
đồng bào dân tộc thiểu số v.v. Cũng có truyền thống tốt nh yêu nớc, hiếu
học cũng có truyền thống xấu nh mê tín dị đoan, học để làm quan
Truyền thống đợc biểu hiện rất phong phú và đa dạng do truyền
thống bao giờ cũng gắn liền với cộng đồng ngời, truyền thống là truyền
thống của cộng đồng nh cộng đồng quốc gia, dân tộc, cộng đồng nhân loại,
cộng đồng huyết thống (thị tộc, bộ lạc, gia đình, dòng họ) cộng đồng láng
giềng (thôn, xóm, làng, xã), cộng đồng nghề nghiệp (sĩ, nông, công, thơng),
cộng đồng giới tính, cộng đồng tuổi tác, cộng đồng bộ tộc. Từ khi xã hội
phân chia giai cấp thì sự biểu hiện của truyền thống ngày càng đa dạng hơn.
Chẳng hạn, các nớc trên thế giới đều có truyền thống yêu nớc nhng do tác
động của môi trờng tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, lịch sử mà truyền
thống đó in dấu ấn lên các giai cấp, dân tộc ở mức độ sâu sắc khác nhau và
phát triển theo những xu hớng khác nhau. ở Việt Nam, chủ nghĩa yêu nớc
là giá trị tinh thần cao đẹp nhất, là t tởng, tình cảm cao quý thiêng liêng
nhất của dân tộc Việt Nam, giữ vị trí hàng đầu trong bậc thang giá trị của
18
dân tộc, là năng lực nội sinh của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong quá
trình dựng nớc và giữ nớc. Điều đó đợc đa số nhân dân thừa nhận, đây là cái

triển của nông nghiệp mà ngời Việt Nam đã sớm lựa chọn nông nghiệp làm
nghề truyền thống của mình. Nhng cũng do thiên tai thờng xuyên và thất th-
ờng nên con ngời phải thờng xuyên đợc thử thách, hình thành nên truyền
thống dũng cảm, tinh thần lao động cần cù, đoàn kết với nhau thành cộng
đồng dân tộc. Do vị trí địa lý thuận lợi, có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền
văn hóa nên ngời Việt Nam có tính cách mềm dẻo trong lối ứng xử, tạo nên
truyền thống đa dạng trong văn hóa, nhng hớng tâm vào văn hóa Việt.
b) Sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội
Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa ngời với ngời, là
hình thái vận động cao nhất của vật chất, là một bộ phận đặc biệt của tự
nhiên, vận động theo những quy luật vốn có của nó ngoài ý muốn của con
ngời. Mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể có một kết cấu xã hội nhất định cho nên
con ngời không thể tùy tiện lựa chọn cho mình một hình thức xã hội này
hay hình thức xã hội khác. Các mối quan hệ xã hội hình thành trong quá
trình lao động sản xuất, đồng thời những tính cách, phẩm chất t tởng, tình
cảm thói quen trong t duy tâm lý, lối ứng xử của cộng đồng dân c đợc
hình thành dần dần, không ngừng đợc củng cố, bồi đắp, và truyền từ thế kỷ
này qua thế kỷ khác. Điều kiện kinh tế - xã hội không những quy định bản
sắc, tính chất, hình thái biểu hiện truyền thống mà còn là môi trờng để hình
thành, nuôi dỡng truyền thống. Các dân tộc đều có những truyền thống
riêng của mình, cũng có những truyền thống giống nhau nh truyền thống
yêu nớc, truyền thống hiếu học nhng tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội
mà truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc có quá trình hình thành, phát
triển sớm muộn khác nhau và mang nội dung đặc điểm không giống nhau.
20
Đó là quan hệ giữa tính phổ quát và tính đặc thù của truyền thống của các
quốc gia và các dân tộc trên thế giới.
Trong quá trình dựng nớc và giữ nớc, dân tộc Việt Nam luôn luôn
phải đơng đầu với nhiều đế quốc hùng mạnh. Nhiều cuộc kháng chiến diễn
ra lâu dài, ác liệt trong tơng quan lực lợng hết sức chênh lệch, yêu cầu phải

hình thành và phát triển cũng do nhiều yếu tố bên ngoài nh sự ảnh hởng tích
cực của Nho giáo, do phải chống chọi với giặc ngoại xâm để thoát khỏi họa
diệt vong thì phải đào tạo những lớp ngời có đức, có tâm để kế tục sự
nghiệp của cha ông
Theo Trần Văn Giàu, các giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam
đều hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, bởi năm yếu tố cơ
bản: thứ nhất là hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên thông qua các quan hệ xã hội,
thứ hai là ngã t đờng giao lu văn hóa và kinh tế Bắc Nam, Đông Tây, tức là
một vị trí chiến lợc rất quan trọng; thứ ba là trên cơ sở một nền văn minh
bản địa đặc sắc, có cá tính của mình, thứ t là suốt những thế kỷ 18, 19 và
vào đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam lâm vào một trạng thái xã hội hết sức
sôi động, xáo trộn, và thứ năm là trong cuộc vận động chống thực dân và
chống phong kiến, chủ nghĩa Mác - Lênin sớm du nhập vào Việt Nam,
thấm sâu vào ý thức tâm lý quần chúng.
1.1.1.3. Vai trò của truyền thống đối với việc hình thành bản chất
con ngời
Từ trớc đến nay khi bàn về bản chất con ngời, đã xuất hiện nhiều
quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Chúng ta bắt gặp các khái
niệm nh con ngời là một "tồn tại thần bí", là "cây sậy biết nói", là "con ngời
bản năng", con ngời "tí hon", Khi khoa học kỹ thuật phát triển ngời ta
quan niệm con ngời là "con ngời kỹ thuật", "con ngời chính trị" hay "con
ngời xã hội".
22
Chủ nghĩa nhân bản quan niệm con ngời là sản phẩm cao nhất của
tự nhiên. Họ giải thích tất cả những đặc điểm và bản chất của con ngời chỉ
bằng nguồn gốc tự nhiên. Việc nhấn mạnh sự thống nhất giữa con ngời và
tự nhiên nhằm chống lại quan niệm duy tâm về con ngời và chống sự tách
rời có tính chất nhị nguyên luận linh hồn và thể xác. Chủ nghĩa nhân bản
xem bản chất của con ngời nh là cái trừu tợng, con ngời chung chung, tách
rời với hiện thực xã hội. Do những quan niệm đó cha đứng vững trên cơ sở

Quan hệ xã hội bao gồm quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần.
Quan hệ vật chất cơ bản nhất là quan hệ kinh tế. Quan hệ kinh tế gồm quan
hệ sản xuất, quan hệ tiêu dùng. Quan hệ tinh thần gồm: chính trị, pháp luật,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học Trong tất cả các mối quan hệ đó
thì quan hệ sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành bản
chất con ngời, chi phối các mối quan hệ khác. Vì vậy, khi xem xét bản chất
con ngời phải xem xét tất cả các mối quan hệ trên, nhng cái cốt lõi là quan
hệ sản xuất. Nh vậy, hình thành bản chất con ngời là một quá trình biện
chứng. Trong tác phẩm Hệ t tởng Đức, C.Mác và Ăngghen viết: "Chính con
ngời, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình,
đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả t duy lẫn sản phẩm t
duy của mình, không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống
quyết định ý thức" [36, tr. 65]. Cùng với quan hệ kinh tế, mỗi dân tộc, quốc
gia đều có một truyền thống, bản sắc văn hóa riêng của mình và đến lợt nó,
chính bản sắc, truyền thống văn hóa đó cũng góp phần giáo dục - đào tạo
nên những con ngời của dân tộc.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền giáo dục, những giá trị truyền
thống trợ lực cho sự phát triển của xã hội trong hiện tại và tơng lai.
Mỗi ngời là một chủ thể tự ý thức nhng đồng thời con ngời còn là
con ngời xã hội có tính giai cấp, tính dân tộc. Hai mặt này của con ngời liên
24
hệ mật thiết với nhau, chế ớc nhau. Nếu tuyệt đối hóa một mặt nào đó khi
xem xét bản chất con ngời cũng sẽ mất tính khách quan, thiếu tính chân
thực. "Mỗi nớc, trong lịch sử phát triển của mình đều hình thành nên một hệ
thống công nghệ truyền thông để duy trì và phát triển đồng thời cũng hình
thành một môi trờng văn hóa - xã hội tơng ứng" [10, tr. 155]. Truyền thống
trở thành một trong những nội dung cơ bản nhất của giáo dục con ngời. Vì
vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin hết sức coi trọng vai trò của truyền thống trong
việc hình thành bản chất con ngời. Khác với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ
nghĩa h vô muốn cắt đứt với quá khứ, xóa bỏ đi mọi giá trị của truyền thống

Giàu, giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam là yêu nớc, anh
hùng, cần cù, sáng tạo, lạc quan, thơng ngời, vì nghĩa.
Khi xét tình hình các nền văn minh đang tồn tại hiện nay, các học
giả phơng Tây cho rằng nền văn minh phơng Tây u việt hơn cả, có thể làm
mẫu mực cho cả thế giới. Tuy nhiên ngời ta phải thừa nhận rằng một sự suy
đồi và suy thoái văn hóa đang tồn tại trong xã hội phơng Tây. Để khắc phục
những nhợc điểm đó, các học giả kêu gọi "khôi phục lại tính ngời", quay về
với truyền thống dân tộc mình, phục hồi các giá trị phơng Tây và vấn đề
mẫu ngời qua lý luận giáo dục châu Âu là "con ngời lý tởng và nền giáo
dục đang tiến gần đến thời đại mới có cội nguồn t tởng từ xa xa, nhất là thế
kỷ XVIII" [24, tr. 305-306].
ở nớc Nga, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển đã kéo
theo nhiều sự biến đổi trong đời sống xã hội. Để thích nghi với hoàn cảnh
mới của thời đại ngời ta "đi tìm bản thân" đã dẫn đến nhiều quan niệm sống
khác nhau, nhng cuối cùng con ngời cũng không thể từ bỏ đợc những giá trị
truyền thống. Lịch sử xã hội đã chứng minh rằng khi xã hội xuất hiện giai cấp
thì mỗi giai cấp tiếp nhận truyền thống dân tộc thông qua lăng kính giai cấp
26
của mình. Hai mặt của truyền thống là truyền thống tốt và truyền thống xấu
đấu tranh với nhau, bài trừ lẫn nhau. Biểu hiện về mặt xã hội của hai mặt đối
lập này là giai cấp tiến bộ đại diện cho lực lợng sản xuất phát triển và giai
cấp phản động đại diện cho quan hệ sản xuất lạc hậu. Giai cấp tiến bộ thờng
tiếp nhận những giá trị truyền thống tốt, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Chẳng hạn, trong các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam thì
đại đa số nhân dân Việt Nam và các nhà khoa học đều thừa nhận chủ nghĩa
yêu nớc là giá trị hàng đầu tạo nên sức mạnh Việt Nam trong mọi giai đoạn
lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới đã nhận xét:
"Từ xa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lớt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nớc và lũ cớp nớc" [49, tr. 297]. Còn

tính sáng tạo của mỗi cá nhân.
5- Hạt nhân hợp lý của truyền thống dân tộc có thể thúc đẩy tiến
trình hiện đại hóa. "Trong truyền thống văn hóa dân tộc vừa có nội dung
phản ánh thời đại, cũng có nội dung phản ánh tính dân tộc và tính nhân loại,
cái sau tiêu biểu cho phơng hớng phát triển của dân tộc đó và toàn nhân
loại" [73, tr. 192]. Truyền thống là ngọn nguồn, là động lực, kích thích sức
sống của dân tộc, hình thành nên tinh thần dân tộc, tạo nên một tình cảm lu
luyến, một lòng thành kính và sự trân trọng lịch sử dân tộc. Vì vậy nó là
đòn bẩy của xã hội trong quá trình hiện đại hóa.
Do truyền thống có vai trò quan trọng trong việc hình thành bản
chất con ngời, nên đa số quốc gia đều có ý thức bảo vệ, nuôi dỡng và phát
huy truyền thống của dân tộc mình trong quá trình phát triển.
Muốn truyền tải truyền thống dân tộc cho con ngời tức là "biến
truyền thống thành phẩm chất của con ngời mới, thành nhân tố của mọi
sáng tạo văn hóa, thì phải kết hợp ba yếu tố: trí tuệ, xúc cảm và hành
động" [13, tr. 35]. Truyền thống dân tộc trong mỗi con ngời không phải tự
nhiên mà có. Muốn hình thành và phát huy đợc truyền thống dân tộc trong
28
mỗi con ngời phải bằng nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục, tạo ra điều
kiện môi trờng xã hội để con ngời đợc tắm mình trong truyền thống. Truyền
thống chỉ đợc phát huy khi con ngời hiểu đợc những giá trị truyền thống
của dân tộc mình dựa trên cơ sở khoa học. Muốn giáo dục truyền thống dân
tộc phải giáo dục lịch sử, nguồn gốc dân tộc, truyền thống dân tộc, xây
dựng niềm tự hào về dân tộc. Quốc sử phải đợc coi là một bộ môn có vai trò
quyết định trong việc rèn đúc tinh thần và ý thức dân tộc, đồng thời cũng
phải "coi quốc văn là lợi khí chính để rèn đúc t tởng dân tộc". Nh vậy trong
tất cả các phơng thức giữ gìn phát huy truyền thống dân tộc thì giáo dục -
đào tạo đóng vai trò quan trọng nhất.
Bên cạnh những mặt tích cực, truyền thống còn có những yếu tố tiêu
cực, đó là những truyền thống lạc hậu, truyền thống xấu, nó là "kẻ địch to"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status