Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo Dục – Đào tạo ở Việt Nam - Pdf 28

Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
LỜI CAM KẾT
Kính gửi: Ban giám hiệu trường Cao Đẳng Ngoại Ngữ - Công nghệ Việt
Nhật đồng kính gửi các ban ngành nhà trường.
Tên tôi là: Phạm Thị Hoan.
Sinh viên lớp: Tiếng Trung II –k3.
Đề tài tốt nghiệp của tôi là: “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo
Dục – Đào tạo ở Việt Nam”. Tôi xin cam đoan với nhà trường rằng đề tài
này do tôi tự tìm hiểu và nghiên cứu không có sự sao chép từ đề tài khác và
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài của mình.
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
1
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
1. PTNNL: Phát triển nguồn nhân lực.
2. GD-ĐT: Giáo Dục và Đào Tạo.
3. NNL: Nguồn nhân lực.
4. NNL GD-ĐT: Nguồn nhân lực Giáo Dục và Đào Tạo.
5. GD: Giáo Dục.
6. ĐT: Đào Tạo.
7. CNH- HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
2
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằm
phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá cần
phải huy động mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và từ nước ngoài), bao
gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực
tài nguyên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …).

lược phát triển, kinh tế - xã hội, phải đặt ở vị trí trung tâm , chiến lược của
mọi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược phát triển NNL GD-
ĐT của nước ta phải đặt trên cơ sở phân tích thế mạnh và những yếu điểm
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
4
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
của nó, để từ đó có chính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh ấy, đồng
thời cần có những giải pháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong việc
PTNNLtrong GD - ĐT. Có như vậy chúng ta mới có được nguồn nhân lực
có chất lượng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trên cơ sở đó, việc làm rõ vấn đề: “PTNNL trong lĩnh vực GD-ĐT ở Việt
Nam – Thực trạng và giải pháp’’. Tác giả luận văn nhằm luận giải những
vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD-ĐT đang
đặt ra trong giai đoạn hiện nay và những năm tới .
2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu NNL trong lĩnh vực GD-
ĐT với tư cách là nhân tố quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực.
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng NNL trong lĩnh vực GD-ĐT, chỉ ra những thành công,
hạn chế chủ yếu trong lĩnh vực này, từ đó đưa ra những quan điểm và một số
giải pháp cơ bản nhằm PTNNL trong lĩnh vực GD-ĐT ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp trực quan
Là phương pháp quan sát cung cấp các thông tin về quan niệm, thái độ, giá
trị và hành vi tự thuật của đối tượng. Các phương pháp quan sát cung cấp
thông tin về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu.
3.2. Phương pháp lý luận.
Là phương pháp thu thập thông tin khoa học dựa trên sự nghiên cứu các văn

trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến NNL là
nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở
trạng thái tĩnh.
Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và
tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở
đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động.
Lại có quan niệm, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh
trình độ chuyên môn và kỹ năng của NNL, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ
ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần,...
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các
tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia
một công việc nào đó. (Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn
nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá – 2001).
Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần phải hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể những
tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động),
gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của
một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
7
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
1.2. Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện
trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và
nâng cao năng lực của con người.
Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể
chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp.
Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên
những định hướng tương lai của tổ chức. Theo quan niệm này, khi nói đến
đào tạo nguồn nhân lực là nói đến việc trang bị cho người lao động: kiến

nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước.
Tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO): Phát triển con người một
cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một
quốc gia. Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội. Như nâng
cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi
dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt
động thực tiễn.
Tổ chức Lương thực và nông nghiệp LHQ (FAO): Sự phát triển nguồn nhân
lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát
triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất.
Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực,
bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành
nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở
nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới
có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và
cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao
kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con
người.
Từ những vấn đề trên, theo tôi, phát triển NNL là quá trình gia tăng, biến đổi
đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực và sự biến đổi này được biểu hiện
ở việc nâng cao năng lực và động cơ của người lao động.
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
9
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
Như vậy, thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao
chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nói cách khác, nếu tăng quy mô quan
tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực
quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó.
Nâng cao chất lượng NNL là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn
diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân

động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá
trình lao động.
Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ
tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu hiện
trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động
làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động
được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức
và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những
người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang
tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số
lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là
nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người
không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những
người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động
quy định nhưng đang đi học…
2.2. Vai trò của NNL đối với phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực
quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế – xã hội. Vai trò đó bắt nguồn từ
vai trò của yếu tố con người.
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy.
Phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn
lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn lực về tài chính,
tiền tệ), vv.., song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự
phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể
thông qua nguồn lực con người. Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
11
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn
lực con người bởi lẽ:

nhng iu kin hon thin chớnh bn thõn con ngi.
Lch s phỏt trin ca loi ngi ó chng minh rng tri qua quỏ trỡnh lao
ng hng triu nm mi tr thnh con ngi ngy nay v trong quỏ trỡnh
ú, mi giai on phỏt trin ca con ngi li lm tng thờm sc mnh ch
ng t nhiờn, tng thờm ng lc cho s phỏt trin kinh t - xó hi.
Nh vy, ng lc, mc tiờu ca s phỏt trin v tỏc ng ca s phỏt
trin ti bn thõn con ngi cng nm trong chớnh bn thõn con ngi. iu
ú lý gii ti sao con ngi c coi l nhõn t nng ng nht, quyt nh
nht ca s phỏt trin.
2.3. Ngun nhõn lc - Mc tiờu ng lc chớnh ca s phỏt trin
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực trong thời
kỳ đổi mới đó là: nâng cao nguồn vốn nhân lực đối với tăng trởng kinh tế kết
hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khoẻ và dinh dỡng. Giáo dục có vai
trò đáng kể khuyến khích sự phân bổ hợp lý các nguồn lực, giảm chi phí và
tăng lợi nhuận cận biên đối với các thông tin về sản xuất ( đặc biệt trong khu
vực sản xuất của nhà nớc). Nâng cao trình độ giáo dục và giảm nghèo, bất
bình đẳng và ổn định kinh tế vĩ mô nh phát triển giáo dục đào tạo và tiến bộ
công nghệ: đổi mới, sáng tạo, mô phỏng công nghệ làm năng suất tăng tỷ lệ
thuận với trình độ vốn nhân lực đợc tích luỹ từ trớc mà đổi mới, sáng tạo, mô
phỏng và du nhập công nghệ, năng suất phụ thuộc vào khoảng cách giữa trình
độ, kiến thức công nghệ bên ngoài và trình độ nguồn vốn nhân lực trong nớc.
Phát triển nguồn nhân lực trải qua bốn thời kỳ cơ bản sau:
Thời kỳ ổn định và khôi phục phát triển kinh tế ( những năm 1970)đây là thời
kỳ tạo nền tảng và phát triển các ngành công nghiệp nhẹ cũng nh một số các
ngành khác nh: xây dựng, năng lợng nhằm tạo ra tích luỹ ban đầu cho nền
kinh tế và cơ sở hạ tầng cho cất cánh công nghiệp.
Phm Th Hoan Nm 2011
13
Trng Cao ng Ngoi ng- Cụng ngh Vit Nht
Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo là mở

Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ Việt Nhật
Giai đoạn chuyển dịch lao động từ các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng
thấp lên các ngành có giá trị gia tăng cao.
Như vậy đóng góp chính của phát triển nguồn nhân lực cho quá trình công
nghiệp hoá là đào tạo và cung cấp đủ nguồn nhân lực đáp ứng kỹ năng và
sức khoẻ để thực hiện được hai giai đoạn chuyển dịch trên.
II. Những nhận định cũ và mới về đối tượng nghiên cứu
Tác Phẩm: Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta.
Tác giả: Nguyễn Trung.
Tác Phẩm: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực.
Tác giả: PGS,TS. Huỳnh Thị Gấm.
1. Những hiểu biết sơ lược về đề tài
1.1 Đối tượng
1.2. Phạm vi
1.3. Kết luận và đóng góp
2.Những nhận định về phần nội dung
2.1. Nội dung cơ bản
2.2. Mặt tốt mặt xấu
Trong những năm gần đây, vấn đề PTNNL đã thu hút không ít sự quan tâm
các nhà quản lý , các nhà khoa học ,đặc biệt các nhà nghiên cứu , các viện
các trường đại học… Đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên
các sách báo, tạp chí, yêu cầu về phương hướng , giải pháp PTNNL và sử
dụng nguồn nhân lực có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội .
Tuy nhiên những kết quả được nghiên cứu về nguồn nhân lực mới chỉ đề
cập tới những vấn đề chung của nguồn nhân lực, và mới chỉ từng bước giải
quyết tháo gỡ những khó khăn trước mắt của những vấn đề cơ bản này. Còn
nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT ít được đề cập đến. Kế thừa có chọn
lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn tập trung phân tích
Phạm Thị Hoan – Năm 2011

Lần 1: từ ngày 10/3 đến ngày 15/3/2011 nghiên cứu sơ bộ tổng thể hoạt
động, cơ cấu tổ chức Hệ thống giáo dục và đào tạo.
Lần 2: từ ngày 16/3 – 26/3 nghiên cứu tìm hiểu, thu thập các số liệu.
Lần 3:ngày 02/4 – 14/5 lên kế hoạch phân tích so sánh hoàn thiện chuyên
đề nghiên cứu.
III. Tiến hành nghiên cứu
1. Là một bộ phận NNL có học vấn cao nhất
2. Kết quả hoạt động NNL trong lĩnh vực GD-ĐT không chỉ phụ thuộc
vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội
3. Chất lượng NNL GD-ĐT quyết định chất lượng đào tạo NNL nói
chung của quốc gia.
IV. Kết quả
Phạm Thị Hoan – Năm 2011
17

Trích đoạn Đổi mới, nõng cao chất lượng cụng tỏc quản lý nhà giỏo và cỏn bộ quản lý giỏo dục. Kết luận chun g.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status