ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
LÊ VĂN HẢI Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục -
đào tạo ở Việt Nam LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn: TS. Trần Trọng Phức Hà nội - 2005
hướng cho PTNNL Việt Nam “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền
giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học- công nghệ và hiện đại‟‟.
2
Như vậy, việc PTNNL trong lĩnh vực GD - ĐT phải đặt trong chiến lược
phát triển, kinh tế - xã hội, phải đặt ở vị trí trung tâm, chiến lược của mọi chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược phát triển NNL GD-ĐT của nước ta
phải đặt trên cơ sở phân tích thế mạnh và những yếu điểm của nó, để từ đó có
chính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh ấy, đồng thời cần có những giải
pháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong việc PTNNL trong GD - ĐT.
Có như vậy chúng ta mới có được nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu
cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Để góp phần giải quyết những bất cập nêu trên, phát triển nguồn nhân lực
trong lĩnh vực GD - ĐT nhằm phát triển nguồn nhân lực của đất nước, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác giả đã chọn đề tài cho luận
văn thạc sĩ của mình là: “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục -
đào tạo ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp‟‟.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây, vấn đề PTNNL đã thu hút không ít sự quan
tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, đặc biệt các nhà nghiên cứu, các
viện khoa học, các trường đại học… Đã có rất nhiều công trình khoa học được
công bố trên các sách báo, tạp chí, nghiên cứu về phương hướng, giải pháp
PTNNL và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội:
- GS.TS Phạm Minh Hạc phân tích vấn đề con người trong “sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam‟‟, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội 1996.
- TS. Nguyễn Hữu Dũng: “Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở
Việt Nam, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội 2003”.
- Tác giả Mai Quốc Chánh: “Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
nước ta; Chỉ ra những thành công, hạn chế chủ yếu và các nguyên nhân của nó.
+ Đưa ra những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm PTNNL trong lĩnh
vực GD-ĐT ở nước ta trong những năm tới .
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển NNL trong lĩnh vực
GD-ĐT với tư cách là nhân tố quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là lĩnh vực NNL trong lĩnh vực GD-ĐT trong
những năm gần đây ở nước ta. (Bao gồm: Đội ngũ những người làm công tác giảng
dạy, cán bộ quản lý GD. Không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng).
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để làm rõ những nội dung cơ bản đặt ra của luận văn, trong quá trình
nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: Phương pháp hệ thống,
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp trong quá trình nghiên
cứu.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTNNL trong
lĩnh vực GD- ĐT và đúc rút những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
trong việc PTNNL trong lĩnh vực này.
- Hai là, đánh giá thực trạng PTNNL trong lĩnh vực GD-ĐT ở Việt Nam
trong những năm qua, đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu điểm và tồn tại
trong việc phát triển NNL trong lĩnh vực GD- ĐT.
- Ba là, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm PTNNL trong lĩnh vực GD-
ĐT ở Việt Nam .
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân
lao động (Nam: 15 đến 60; nữ : 15 đến 55 ) vì người lao động phải ít nhất đủ 15
tuổi và được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đời
(Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi ) và thời gian đóng bảo hiểm xã hội ( 20 năm trở
lên). Đây là lực lượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội.
Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực,
có nghĩa là sự gia tăng dân số sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân
lực. Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không giảm ngay lập tức nhịp độ
tăng nguồn nhân lực.
7
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiển trạng thái nhất định của nguồn nhân
lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi
hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể
những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt
động sản xuất và phát triển con người. Do vậy chất lượng nguồn nhân lực bao
gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lực
phẩm chất… Chất lượng nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực
như đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động và
việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội
khác.
* Phát triển nguồn nhân lực (PTNNL).
Về phát triển nguồn nhân lực ( Human resources development ) có nhiều
cách tiếp cận khác nhau. UNESCO sử dụng khái niệm PTNNL dưới góc độ hẹp
là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan
hệ phát triển của đất nước. Các nhà kinh tế có quan niệm PTNNL gần với quan
niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạn
PTNNL trong phạm vi phát triển kĩ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về
việc làm.
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO): Sự phát triển
nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào
này liên quan đến các biến đổi về dân số, lao động tham gia vào phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
- Trình độ dân số và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực. Đây là yếu
tố cấu thành đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định của NNL trong tiếp thu,
làm chủ và thích nghi với kỹ thuật, công nghệ và quản lý nền kinh tế tri thức.
Nhóm này liên quan và phụ thuộc vào sự phát triển giáo dục - đào tạo và dạy
9
nghề của một quốc gia, trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập trong xu thế toàn cầu hoá.
- Nhóm yếu tố cấu thành NNL thể hiện tính năng động xã hội và sức sáng
tạo của con người. Nhóm này liên quan đến môi trường pháp luật, thể chế và các
chính sách, cơ chế giải phóng sức lao động, tạo động lực để con người phát
triển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mình trong nền kinh tế.
- Truyền thống lịch sử, nền văn hoá của một quốc gia. Nó bồi đắp và kết
tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí,
tác phong của con người trong lao động.
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.3.1. Nguồn nhân lực - mục tiêu và động lực chính của sự phát triển.
Nói đến vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển là nói đến vai trò
của con người trong phát triển.
* Con người là động lực của sự phát triển.
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy.
Phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: Nhân lực (nguồn lực
con người), vật lực (nguồn lực vật chất: Công cụ lao động, đối tượng lao động,
tài nguyên thiên nhiên…), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)… Song chỉ có
nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực
khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Từ thời kỳ xa xưa con người bằng công cụ lao động thủ công và nguồn lực do
chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của bản
1.1.3.2. Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
Về vai trò của NNL trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước, Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: "Nâng cao dân trí
và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định
thắng lợi của CNH, HĐH đất nước."[50,tr.78].
11
Các công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của đất nước đều khẳng
định vai trò có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với quá trình CNH,
HĐH. Vai trò đó được thể hiện trên hai mặt:
Thứ nhất, Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên không có sức
mạnh tự thân. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi
được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người.
Thứ hai, con người với trí tuệ của mình - là nguồn lực không bao giờ cạn
kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực
đã được nhiều quốc gia quan tâm và vấn đề này đang nổi lên ở khu vực Đông Á.
Xuất phát là những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá và
đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong trường hợp đầu tư phát triển
nhanh nguồn nhân lực. Sự đầu tư được hiểu ở cả ba mặt: Chăm sóc sức khoẻ,
nâng cao mức sống và phát triển giáo dục, trong đó đầu tư có hiệu quả nhất là
đầu tư cho giáo dục.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX quan điểm về phát triển nguồn nhân
lực đã trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương. Con người được coi là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Không
thể xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía mà phải nhận thấy
vai trò sản xuất của nguồn nhân lực - vấn đề cốt lõi của học thuyết “vốn con
người”, và vai trò tiêu dùng của nó được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống. Cơ
chế nối liền hai vai trò là trả công cho người lao động tham gia các hoạt động
kinh tế và thu nhập đó đầu tư trở lại cho con người để nâng cao mức sống. Đặc
cách có hiệu quả. Trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra hiện
nay là Việt Nam cần tăng trưởng nguồn nhân lực này, tạo ra khả năng lao động
mới cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực, sử dụng NNL nhằm đẩy
mạnh, nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như mục tiêu Đại hội VIII
đã đề ra, đồng thời theo kịp xu hướng phát triển của khu vực và thế giới. Điều
đó không có sự lựa chọn nào khác là phải chuẩn bị tốt hơn chiến lược con người,
có ý thức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực vô tận này.
1.2. Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
13
1.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
1.2.1.1. Bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất
Nhìn chung, nguồn nhân lực GD- ĐT là lực lượng lao động có trình độ
khá cao và được đào tạo cơ bản, hệ thống là chủ yếu. Đội ngũ nhân lực GD-ĐT
này trình độ đào tạo có một phổ khá rộng:
- Trình độ THCN cho giáo viên mầm non.
- Trình độ đào tạo cao đẳng cho giáo viên THCS, tiểu học và mầm non.
- Trình độ đào tạo đại học cho giáo viên THPT, THCS và một bộ phận
giáo viên tiểu học, giáo viên mầm non.
- Trình độ sau đại học (Thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học) cho giáo viên cao
đẳng, đại học, THPT, cán bộ quản lý; cán bộ ở các cơ quan nghiên cứu khoa
học.
Bộ phận nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD từ giáo viên, giảng viên,
chuyên viên, thanh tra viên, nhân viên cho đến cán bộ quản lý GD từ Bộ, Sở cho
đến Phòng… đều có một trình độ học vấn khá cao so với nguồn nhân lực nói
chung trong nền kinh tế. Đội ngũ nhân lực GD- ĐT này cũng không ngừng tăng
cường nâng cao về chất lượng, đạt trình độ chuẩn cơ bản về mọi mặt (trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và các phẩm chất khác). Đặc điểm này tạo điều
kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lực quốc gia có một chất lượng tốt,
phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế.
độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị, có kỹ năng , nghiệp vụ, có bề dày
kinh nghiệm và cả được trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động
của mình một cách hiện đại, tiên tiến, đủ về số lượng và có sự phù hợp về cơ cấu
loại hình nhân lực. Nguồn nhân lực GD - ĐT chính là mắt xích quan trọng của
một chu trình PTNNL, nó tạo nên sự chuyển biến về chất (kiến thức, kỹ năng,
thái độ nghề nghiệp) của nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng NNL GD - ĐT
sẽ là nhân tố quyết định làm tăng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung
cho đất nước.
Bản thân hoạt động NNL GD - ĐT là một hoạt động mang tính xã hội cao,
sản phẩm của nó tạo ra có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội hay
15
không, điều đó còn phụ thuộc vào môi trường xã hội vì sản phẩm của hoạt động
này tạo ra phải có một quá trình tác động nhất định và phải có một môi trường
nhất định mới khẳng định được. Chẳng hạn hoạt động nghiên cứu khoa học hay
sinh viên tốt nghiệp ra trường có trình độ kiến thức, kỹ năng hay không, hay nói
cách khác có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội hay không thì phải
được thu hút sử dụng – tức có việc làm, có môi trường làm việc tốt, có chính
sách xã hội thích hợp thì mới đánh giá được sản phẩm của hoạt động GD cao
hay thấp. Như vậy môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuả hoạt
động NNL GD - ĐT. Môi trường xã hội ở đây bao gồm cả môi trường pháp luật,
các chính sách xã hội: việc làm, thu nhập, trả công lao động ; sự kết hợp giữa
gia đình, các tổ chức xã hội, các đoàn thể với nhà trường, ngành GD.
Kết quả hoạt động cuối cùng của NNL GD-ĐT là sản phẩm- người học có
nhân cách, có trình độ, kĩ năng, có khả năng tham gia vào các hoạt động sản
xuất, hoạt động xã hôi. Vì thực chất hoạt động của NNLGD-ĐT là đào tạo, phát
triển NNL cả về số lượng, chất lượng và nhằm biến đổi NNL theo từng thời kỳ
khác nhau cho phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế.
Ở nước ta để có một NNL vừa đảm bảo về số lượng, chất lượng đáp ứng
những yêu cầu đòi hỏi cao của sự phát triển kinh tế – xã hội, của sự hội nhập
+ Lực lượng không giảng dạy bao gồm: Các cán bộ quản lý, thanh tra
viên, nhân viên, cán bộ phụ trách, cán bộ hỗ trợ…
Tỉ lệ phân chia lực lượng này tùy thuộc vào quy mô GD-ĐT, nhu cầu thiết
yếu của ngành, vị trí công việc…và tùy từng mỗi nước khác nhau. Theo tài liệu
của UNESCO- Tổ chức của Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa
(năm 1992) ở Mỹ toàn bộ đội ngũ cán bộ nhân viên trong ngành GD chiếm 5,8%
lực lượng lao động toàn xã hội, trong đó số người giảng dạy trực tiếp là 2,7%,
không giảng dạy 3,1%; tỉ lệ nay ở một số nước khác là:
+ Nhật bản 3,1% lực lượng toàn xã hội (trong đó 2,4% lực lượng giảng
dạy trực tiếp và 0,7% là không giảng dạy.
+ Italia : 5,5% lực lượng toàn xã hội, trong đó 4,2% lực lượng giảng dạy
và 1,3% lực lượng không giảng dạy.
17
+ Australia : 4,2%, trong đó lực lượng giảng dạy là 2,9% còn lại là 1,3%
không giảng dạy [39, Tr.1 - 2].
Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, trong những
trường hợp cụ thể, cần thiết nhất định một người vẫn có thể thực hiện hai vai trò
(vừa giảng dạy, vừa quản lý).
Tỉ lệ này còn phản ánh qua số trường, lớp, các cơ sở GD - ĐT từ GD mầm
non cho đến đại học và sau đại học trong toàn bộ hệ thống GD quốc dân; tỉ lệ
học sinh, sinh viên/giáo viên hay tỉ lệ giáo viên/lớp học;
Tỉ lệ phần trăm số cán bộ quản lý, nhân viên, kỹ thuật viên/ cơ sở đào tạo
Ở Việt Nam theo qui định của bộ GD - ĐT nhu cầu giáo viên tính theo
định mức hiện nay là:
+ 6 trẻ em nhà trẻ / giáo viên;
+ 22 trẻ em mẫu giáo / giáo viên;
+ 1,15 giáo viên/ lớp tiểu học ( 30 học sinh);
+ 1,85 giáo viên / lớp THCS (40 học sinh);
+ 2,1 giáo viên/ lớp THPT ( 45 học sinh);
mỗi quốc gia phải mất một thời gian nhất định. Chẳng hạn ở Việt Nam để đào
tạo một giáo viên tiểu học có bằng trung học sư phạm phải mất thời gian ít nhất
là 2,5 năm, giáo viên THPT có bằng Đại học sư phạm thời gian là 4 năm hay đố
với cán bộ quản lí giáo dục cũng đòi hỏi phải được đào tạo trong một thời gian
nhất định mới đảm đương và làm tốt chức năng công việc ở vị trí lãnh đạo. Việc
phát triển NNL GD - ĐT này phải gắn với các cơ sở đào tạo đội ngũ nhân lực
trong ngành GD.
1.2.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo
Chất lượng NNL GD-ĐT thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo,
kỹ năng nghiệp vụ, quản lý GD, phẩm chất đạo đức, chính trị Nên có thể đo
chất lượng NNL GD-ĐT qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
chủ yếu sau:
19
+ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn được đào tạo và được phản ánh
qua bằng cấp, tuổi đời thâm niên công tác trong ngành. Trình độ chuyên môn
này được đo bằng :
Tỉ lệ cán bộ trung cấp;
Tỉ lệ cán bộ CĐ, ĐH;
Tỉ lệ cán bộ trên ĐH ở các cấp học, các cơ sở đào tạo, các viện nghiên
cứu giáo dục… trong cả nước.
Trong mỗi chuyên môn có thể phân thành những chuyên môn nhỏ hơn
như ĐH bao gồm: Kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, quản lý Thậm chí trong từng
chuyên môn lai chia thành những chuyên môn hẹp hơn.
Chất lượng NNL này còn phản ánh qua công tác đào tạo, bồi dưỡng
thường xuyên NNLGD-ĐT như: Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, sư phạm,
tin học, ngoại ngữ Trong ngành GD- ĐT trình độ chuyên môn thường được
phản ánh qua tỉ lệ đạt chuẩn về trình độ, tỉ lệ đạt trình độ lý luận chính trị Hay
được hiểu thông qua khái niệm chuẩn hóa. Chuẩn hóa được hiểu là một quá
trình biến đổi hoạt động hay công việc, dịch vụ hay sản phẩm,…. theo hướng đạt
Tỉ lệ đạt chuẩn đối với nhân viên ở cấp Bộ, Sở ngoài bằng cấp quy định
của bộ GD- ĐT ra còn phải có các chứng chỉ khác: Tin học, ngoại ngữ
Tiêu chí trình độ chuẩn của chất lượng NNL GD-ĐT cũng có sự khác
nhau ở các nước và cũng thay đổi theo thời kỳ. Ở Trung Quốc quy định chuẩn
đối với giáo viên hiện nay là:
- Giáo viên tiểu học phải có trình độ cao đẳng trở lên;
- Giáo viên trung học phải có trình độ từ đại học đến thạc sỹ trở lên;
- Giáo viên đại học phải có học vị tiến sỹ trở lên [27, tr.329]
+ Chỉ tiêu phản ánh năng lực phẩm chất đạo đức, chính trị, sức khỏe, lối
sống của NNL GD-ĐT; năng lực tư duy sáng tạo, tính năng động, khả năng
thích ứng với công việc hay còn được biểu hiện ở các chỉ số phản ánh cơ chế tổ
chức vận hành, quản lý quá trình dạy và học hoặc tổ chức quản lý ở cấp độ vĩ
mô (đối với cán bộ quản lý GD).
21
Ngoài ra, chất lượng NNL GD - ĐT còn phản ánh qua công tác nghiên
cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đánh giá qua việc đội
ngũ cán bộ QLGD, cán bộ giảng dạy được đi khảo sát thực tế, tham gia hội thảo
về các chuyên đề hoặc các chuyên ngành đào tạo và qua việc đào tạo bồi
dưỡng thường xuyên và định kỳ về nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý…
1.2.2.3.Xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo phù hợp
Cơ cấu đội ngũ NNL GD - ĐT bao gồm số: CBQLGD, nhân viên, chuyên
viên kỹ thuật ; số giáo viên các cấp, bậc học trong toàn ngành GD - ĐT. Cơ cấu
NNL GD - ĐT được phản ánh qua các chỉ số % như :
- % CB lãnh đạo, QL GD, chuyên viên GD, thanh tra viên từ Bộ/ cơ quan
ngang Bộ đến Sở , Phòng;
- % Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường CĐ, ĐH , THCN, phổ thông
- % Trưởng khoa, phó trưởng khoa các trường ĐH, CĐ
- % Cơ cấu loại hình giáo viên các cấp học:
+ Giáo viên mầm non
kinh tế của đất nước.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực giáo dục -
đào tạo
Phát triển NNL GD-ĐT bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố như: Chính
sách phát triển GD-ĐT ( trong đó có chính sách PTNNL GD - ĐT), chính sách
sử dụng, bố trí sắp xếp NNL, chính sách đầu tư và hàng loạt các chính sách
khác. Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến một số chính sách cơ bản có ảnh hưởng đến
PTNNL GD -ĐT ở Việt Nam.
1.2.3.1 Chính sách phát triển giáo dục - đào tạo
Chính sách phát triển GD- ĐT trong đó trọng tâm là chính sách phát PT
NNL GD - ĐT đã được nhiều quốc gia quan tâm, bởi đây là chính sách cơ bản
quyết định đến việc PT NNL nói chung cho đất nước. Để PTNNL nói chung này
cần phải thông qua chính sách phát triển GD - ĐT, chính sách GD - ĐT là nhân
tố quyết định đến việc đào tạo NNL cho đất nước (chính sách điều tiết quy mô
23
đào tạo, cơ cấu đào tạo…). Chính sách phát triển GD - ĐT ở mỗi quốc gia trong
mỗi thời kỳ nhất định, nhìn chung đều xuất phát trên quan điểm, đường lối chính
sách của nhà nước (Chính phủ) và căn cứ từ đặc điểm tình hình của hệ thống
GD, sự phát triển quy mô người học để định hướng cho việc PT NNL GD- ĐT
cho phù hợp đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đó. Chính vì vậy trong quá trình phát triển
GD- ĐT các quốc gia luôn xác định vấn đề xây dựng chính sách PT NNL GD-
ĐT đóng vai trò then chốt, quyết định đến sự phát triển nền kinh tế.
Ở Việt Nam, Chính sách phát triển GD-ĐT mà trong đó trọng tâm là
chính sách PTNNLGD-ĐT thể hiện ở, đường lối, chính sách của Đảng và nhà
nước, được ghi nhận trong các nghị quyết của đại hội Đảng và các Nghị quyết
của các hội nghị BCHTW Đảng (Hội Nghị trung ương 4 khoá VII; Nghị quyết
trung ương 2 khoá VIII )
Xuất phát trên quan điểm, đường lối, chính sách và mục tiêu của Đảng và
nhà nước để xây dựng chiến lược phát triển GD-ĐT mà trong đó nòng cốt là
chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý GD; chi cho việc đầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị… ở các trường Sư phạm, trường CBQLGD, ở các viện nghiên cứu GD;
- Chi cho việc nghiên cứu khoa học, khoả sát tham quan thực tế trong
nước và ngoài nước là động lực thu hút phát triển NNLGD-ĐT và lực lượng
lao động khác tham gia vào ngành GD-ĐT.
Đầu tư cho việc phát triển NNLGD-ĐT cần nhiều lực lượng tham gia:
Nhà nước, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nứơc, hay là các tổ chức quốc tế
chính phủ và phi chính phủ. Nhưng trong đó nhà nước đóng vai trò chủ yếu và
quyết định. Việc tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đội ngũ NL GD-ĐT sẽ
là nhân tố tác động rất lớn đến việc làm tăng về số lượng và nâng cao chất lượng
NNLGD-ĐT. Đặc biệt việc tăng cho trả lương, phụ cấp ưu đãi, và tăng cho việc
đào tạo, bồi dưỡng cũng sẽ có tác dụng kích thích lực lượng lao động trong
ngành GD-ĐT nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính năng
động sáng tạo và cả tính yêu nghề. Ngoài ra, để tăng cường cho đầu tư cho
NNLGD-ĐT sẽ khắc phục, hạn chế khả năng của ngân sách nhà nước nên cần
phải thúc đẩy tăng cường nhiều nguồn đầu tư khác nhau: Nguồn đầu tư của các