Mục lục
Lời mở đầu Trang
Chơng 1: Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
3
1.1 Thực trạng quy mô và chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam 3
1.1.1 Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam 3
1.1.2 Chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam 7
1.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam 11
1.2.1 Sử dụng lao động có trình độ chuyên môn 11
1.2.2 Sử dụng lao động phổ thông 16
1.3 Đánh giá chung về nguồn nhân lực Việt Nam 21
1.3.1 Những thành công 21
1.3.2 Những hạn chế 23
Chơng 2: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phục
vụ quá trình CNH-HĐH đất nớc
25
2.1 Định hớng và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực 25
2.1.1 Yêu cầu của công cuộc CNH-HĐH về nguồn nhân lực 25
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 28
2.1.3 Định hớng và mục tiêu 30
2.2 Những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực 32
Kết luận 38
Danh mục tài liệu tham khảo 40
1
Lời mở đầu
Trong tất cả mọi hoạt động kinh tế xã hội, vì con ngời là mục tiêu cuối
cùng và con ngời cũng chính là nhân tố mang tính quyết định với những thành
quả đạt đợc. Không thể tiến hành lao động sản xuất, kinh doanh mà không có
những ngời công nhân, chủ doanh nghiệp, khách hàng. Liệu có cần bảo vệi
môi trờng, cần những quỹ phúc lợi xã hội nếu nh chúng chẳng phải để phục
vụ cho con ngời, vì sự phát triển con ngời? Chính vì vậy, con ngời vừa là chủ
(với nữ) hay những ngời nằm trong độ tuổi lao động là 43.555.500 chiếm 57,1%
dân số.
Đơn vị: %
Hình 1: Cơ cấu dân số phân theo độ tuổi lao động
(Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế xã hội Việt Nam 1975-2000)
Với quy mô nh vậy, ngời ta có thể đặt nhiều hy vọng ở một lực lợng đông
đảo của những ngời sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Hơn thế
nữa, số ngời trên tuổi lao động chiều lệ nhỏ trong dân số nên chính phủ không
phải chịu áp lực lớn về vấn đề lơng hu. Nhật Bản là nớc có nền dân số già hàng
đầu thế giới, hàng năm phải chi trả một tỷ phần rất lớn trọng GDP cho lơng hu.
Điều đó ảnh hởng bất lợi đến nền kinh tế và các hoạt động khác. Ngời ta sẽ phải
xây nhiều nhà dỡng lão, khu an dỡng hơn. Việc khai trơng những khu vui chơi
giải trí cảm giác mạnh, khi những ngành này lại rất có tiềm năng thu lợi lớn.
Một xã hội với số đông ngời già có thể kém năng động hơn nhiều so với xã hội
có đông ngời trẻ tuổi. Bên cạnh đó, lực lợng lao động (LLLĐ) dồi dào cũng là
một nguyên nhân để giá nhân công ở Việt Nam rẻ hoi so với nhiều nớc khác.
Đây là một trong những yếu tố làm hạ giá thành sản phẩm do giảm chi phí sản
xuất, từ đó kích thích sản xuất hấp dẫn nhiều nhà đầu t.
3
9,4
33,5
57,1
Tổng tỷ lệ dới tuổi lao động
Tổng tỷ lệ trong tuổi lao động
Tổng tỷ lệ trên tuổi lao động
Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc quản lý lao động còn
tồn tại nhiều bất cập, hiệu quả sử dụng nguồn lực lao động rất thấp, cha tạo đủ
việc làm nên nạn thất nghiệp trở thành một vấn đề xã hội cấp bách. Tỷ lệ thất
nghiệp không ngừng gia tăng.
6,85 7,4
năng có đợc cùng một việc làm giữa nam và nữ thông qua phân tích cơ cấu
LLLĐ phân loại theo hoạt động.
Bảng 1: Cơ cấu hoạt động cho lao động từ 13 tuổi trở lên
Nghìn ngời
Tổng số: Chia ra
Nam Nữ
Tổng số 57473,8 26182,4 28291,4
Trong đó:
Làm việc 36431,1 18773,8 17657,3
Nội trợ 4098,1 219,8 3878,3
Đi học 7153,5 3694,5 3189,0
Mất khả năng LĐ 1664,0 792,5 871,5
Không làm việc 5117,7 2427,1 2690,6
+ Có nhu cầu việc 1607,8 911,3 696,5
+ Không có nhu cầu 3509,9 1515,8 1994,1
Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế - xã hội Việt Nam 1975-2000
Nh vậy, số nam làm việc và đi học nhiều hơn nữ, còn lại trong các hoạt
động khác, nữ nhiều hơn nam. Có một sự mất cân bằng không nằm ngoài dự
kiến, đó là những ngời làm việc nội trợ, nữ chiếm 94,6%, nam chiếm 5,4%.
Điều đó cho thấy tâm lý cũng nh hiện thực xã hội vẫn coi công việc nội trợ là
của phụ nữ. Trong khi đó, phụ nữ càng đợc giải phóng khỏi công việc nội trợ
bao nhiêu thì họ càng đóng góp nhiều cho xã hội bấy nhiêu. Ngoài ra, bảng 2
cho thấy những ngời làm việc chiếm số đông trong LLLĐ (66%). Có một điểm
đáng chú ý là trong số 5.117.700 ngời không làm việc, có tới 3.509.900 ngời
không có nhu cầu việc làm chiếm 68,6%, trong khi chỉ có 1.607.800 ngời có
nhu cầu, chiếm 31,4%. Nói cách khác, trong số trong số những ngời thất nghiệp
có tới 68,6% kà thất nghiệp tự nguyện và 31,4% là không tự nguyện. Điều này
liên quan tới việc ngời lao động có thoả mãn với tiền công đợc trả để trang trải
cho cuộc sống, hoặc tình trạng lao động nông thôn di chuyển ra thành phố ....
Tuy nhiên, tỷ lệ phân bố trên cũng không giống nhau cho các thành phần
kinh tế khác nhau. Ví đụ, trong khu vực Nhà nớc số lao động công nghiệp
chiếm 35,7%, nông nghiệp chiếm 6,9%, dịch vụ chiếm 55,4%.
Nh vậy, về quy mô LLLĐ Việt Nam có u điểm lớn là sự dồi dào về số l-
ợng song lại có nhợc điểm lớn là sự bất cập về cơ cấu, sự phân bổ lao động
6
không đồng đều cả theo vùng và theo ngành. Riêng sự phân bổ theo vùng gây ra
sự phát triển không đều, sự cách biệt và chênh lệch và chênh lệch giàu nghèo,
mức sống giữa các vùng kinh tế. Còn sự không hợp lý theo ngành dẫn đến một
cơ cấu kinh tế lạc hậu, khiếm khuyết, chậm phát triển .
1.1.2 chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động, vì vậy, theo một
nghĩa hẹp, nguồn nhân lực có thể đợc hiểu nh là sức lao động bao gồm trí lực và
thể lực của con ngời, còn theo nghĩa rộng đó còn bao gồm số lợng, quy mô
những ngời lao động hay toàn bộ LLLĐ.
Về thể lực, dân số Việt Nam đã cải thiện đáng kể cả về chiều cao, cân
nặng, thể trạng, tuổi thọ. Trớc năm 1945, chiều cao trung bình là 150cm thì nay
là 155 cm, cân nặng trung bình chỉ đạt trên 30kg, nay là 45 kg, tuổi thọ trung
bình không quá 40 thì nay là 68 tuổi, đã có những cụ trên 100 tuổi. Việt Nam
không chỉ tập trung phát huy sức mạnh mà chú trọng tới cả sức bền. Ngời Việt
Nam vốn có truyền thống cần cù, yêu lao động, sức chịu đựng cao, họ là có đôi
bàn tay khéo léo, khả năng thích nghi nhanh với môi trờng làm việc. Những chủ
trơng đúng đắn của nhà nớc nh phát động các phong trào toàn dân tập thể dục,
tham gia tích cực các kỳ đại hội thể thao, phổ biến những kiến thức dinh dỡng
hợp lý tới các gia đình, đặc biệt chăm lo cho sức khoẻ con ngời từ giai đoạn trẻ
thơ đã giúp cho thể lực ngời Việt Nam không ngừng đợc nâng cao. Có sức khoẻ
tốt sẽ học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc tốt, đáp ứng mọi nhu cầu cho
mỗi vị trí công việc. Ngày nay, ngời ta đòi hỏi ngày càng cao về thể lực song
cái quyết định năng suất lao động của con ngời phải là trí lực.
Trí lực là tri thức và kỹ năng lao động. Ngời Việt Nam luôn lao động một
dịch vụ sẽ tăng lên, số nông dân trong nông nghiệp sẽ giảm xuống, thay thế dần
bằng công nhân nông nghiệp. Việt Nam đã đào tạo đợc công nhân kỹ thuật cho
rất nhiều ngành nghề nh cơ khí, xây dựng lắp ráp linh kiện, điện tử, cử nhân,
thạc sĩ, tiến sĩ cho mọi lĩnh vực nh kinh tế, tin học, nguyên tử... Tập trung đẩy
mạnh đào tạo nghề giải quyết việc làm trớc mắt nhng đồng thời cũng đầu t vào
những ngành nghề mũi nhọn, những ngành có triẻn vọng nhằm phục vụ sự phát
triển bền vững. Chất lợng ngời lao động ngày càng đợc nâng cao cả về học vấn,
tay nghề, trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị. Nhờ đó, đã có những ngời
tâm huyết với nghề nh những giáo viên, bác sĩ tình nguyện đến vùng sâu, vùng
xa, những ngời thợ đóng tàu tải trọng lớn, những nhà khoa học táo bạo dám
nghĩ, dám làm với dự án nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam.
8
Tuy nhiên, bên cạnh những thành cong nêu trên, nguồn nhân lực Việt
Nam vẫn bộc lộ những hạn chế, Mặc dù lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật đã thâm nhập mọi ngành nghề, ở nhiều cấp bậc song chỉ chiếm tỷ lệ rất
nhỏ (năm 1999 là 7,6% LLLĐ) trong khi số ngời không có trình độ chuyên
môn chiếm tới 92,4% (theo số liệu thống kê kinh tế - xã hội Việt Nam 1975-
2000). Nh vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tiến bộ sẽ còn gặp
phải rất nhiều khó khăn khi phải đào tạo cho một số lợng lớn những ngời cha có
chuyên môn. Câu hỏi đặt ra là, với một chất lợng nh vậy, ngời lao động Việt
Nam đã hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đặt ra của nền kinh tế hiện nay cha?
Nguồn nhân lực Việt Nam, mới chỉ đáp ứng đợc một phần yêu cầu của
nền kinh tế. Trớc hết, thực trạng về trình độ chuyên môn thực sự cha ngang tầm
khu vực và quốc tế. Về mặt giáo dục, ngời học trang bị lý thuyết hoàn toàn
không thua kém các nớc khác. Song khi ứng dụng vào thực tế còn yếu. Nguyên
nhân là do đào tạo trong nớc không đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đầu
t cho thực hành, nghiên cứu. Ngoài ra, nguồn nhân lực Việt Nam còn thể hiện
nhiều bất cập trong cơ cấu đào tạo lao động. Trớc hết vẫn là bất cập trong tỷ lệ
những ngời có trình độ chuyên môn khác nhau.
9
Khối khoa học cơ bản 7,07% Khối thể dục thể thao 1,4%
Khối nông nghiệp 5,05% Khối nghệ thụât 1,6%
Nguồn: Nghiên cứu ngời và nguồn nhân lực đi vào CNH-HĐH (Phạm Minh Hạc)
Trong khi Việt Nam còn là một nớc nông nghiệp thì số sinh viên thuộc
khối ngành này chiếm tỷ lệ rất nhỏ (5,05%) cho thấy sự quan tâm cho nguồn
nhân lực trong nông nghiệp nông thôn còn ít. Sinh viên chủ yếu theo học s
10
phạm, kinh tế vì cho rằng những nghề này dễ kiếm việc hơn. Cần có mọt sự
tránh khỏi bỡ ngỡ khi chọn nghề, khỏi chạy theo xu thế nhất thời trong xã hội.
Ngoài ra, tình trạng không sử dụng hết quỹ thời gian trong sản xuất nông
nghiệp cũng là một vấn đề bức xúc. Từ năm 1996, tỷ lệ này là 72,11% và đã đ-
ợc cải thiện đến 2002, sơ bộ là 75,4%. Sự cải thiện này là cha đáng kể, thời gian
lao động ở nông thôn bị bỏ phí còn lớn. Nó cho thấy sự yếu kém cả về KHKT
và chất lợng lao động, giải quyết lao động d thừa ở nông thôn. Ngoài ra, vấn đề
ngời lao động trong doanh nghiệp nớc ngoài cha quen tác phong công nghiệp,
kỷ luật cũng ảnh hởng xấu tới chất lợng lao động.
Vì vậy có thể nói rằng LLLĐ Việt Nam có nhiều điểm mạnh nhng cũng
không ít điểm yếu cần khắc phục. Không chỉ là mở rộng về quy mô mà phải
nâng cao chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam để có thể đáp ứng yêu cầu nền
kinh tế đặt ra trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh trên toàn cầu.
1.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam
Nguồn nhân lực Việt Nam bao gồm cả lao động có trình độ chuyên môn
và lao động phổ thông. Vậy tình hình sử dụng các lao động này hiện nay ra sao?
Đó luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chiến lợc phát triển
kinh tế bởi đầu t cho con ngời mới thực sự là đầu t chắc chắn, lâu dài và đảm
bảo bền vững.
1.2.1 Sử dụng lao động có trình độ chuyên môn
Nh trên đã trình bày, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật
Việt Nam ta rất hạn chế, chiếm 7,6% LLLĐ. Đây là lực lợng đã qua đào tạo tại
các trờng Đại học, Cao đẳng , trung học chuyên nghiệp. Họ là những cử nhân,
ơng trình đặc biệt chú ý đào tạo công nghệ phần mềm, tăng tỷ lệ giờ thực hành
ở các môn công nghệ thông tin, cập nhật liên tục tại các chơng trình ứng dụng.
Chơng trình tập trung vào nhiệm vụ cấp bách trớc mắt là đào tạo giáo viên,, đa
tiếng Anh vào trực tiếp giảng dạy và học tập, nghiên cứu khoa học, trang bị các
phòng thí nghiệm chuyên đề (200 phòng máy mở cửa 16-24 giờ/ngày, 100
phòng truy cập Internet...). Tại một cuộc họp mới đây, lãnh đạo bộ BCVT, GD -
ĐT, KHCN, Công nghiệp, đại diện của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng và các đại biểu đều cho rằng ứng dụng CNTT ở Việt Nam những năm qua
tạo đợc nhiều khởi sắc nhng cha tạo đợc một nền tảng CNTT vững chắc thực sự
12
cho quốc gia, nhất là nguồn nhân lực CNTT còn thiếu và yếu (theo thời báo
kinh tế số ra ngày 20/1/2003).
ở Việt Nam hiện nay, bất kỳ đâu cũng cần ngời có trình độ chuyên môn
nhng đâu cũng thiếu. Lao động đã qua đào tạo phần lớn tập trung trong các
ngành kinh tế then chốt của nhà nớc hay khu vực thành thị chính thức. Trong
khi đó, Việt Nam vẫn thiếu nhân lực cho ngành CNTT và những công nhân kỹ
thuật lành nghề. Riêng ở tỉnh Quảng Ninh, theo báo cáo năm 2002 đã giải quyết
việc làm cho 21.017 lao động, tỷ lệ thất nghiệp 6,85%. Quảng Ninh có tỷ lệ lao
động qua đào tạo là 28,5% (vợt 1% so với kế hoạch), cao hơn tỷ lệ 19% của cả
nớc, trong đó công nhân kỹ thuật là 16,7% tuyển mới 12.184 học sinh đào tạo
nghề. Những thành tích ấy đã giúp Quảng Ninih dịch chuyển cơ cấu lao động.
21% công nghiệp và xây dựng, 25% dịch vụ và du lịch, 54% nông - lâm - ng
nghiệp. Song phần lớn lao động đã qua đào tạo lại tập trung vào ngành than
(85%) trong khi các ngnàh khác lại đang khát lao động, nh ngành lái tàu
sông, xây dựng, đóng tàu, công nhân cho khu công nghiệp Cái Lân, Cẩm Phả...
Ngay cả ngành thủy sản mà Quảng Ninh với rất nhiều lợi thế là vậy cũng không
có nơi nào đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật thủy sản. Riêng ngành du lịch
của Quảng Ninh cũng thiếu lao động có đào tạo trầm trọng (600-1000 ngời).
Đội ngũ hiện nay cho du lịch qúa nóng và kém chất lợng. Năm 2002, Quảng
Ninh cần tuyển 79% lao động kỹ thuật và 21% lao động có trình độ trung cấp
độ phúc lợi của ngời lao động làm việc theo biên chế và theo thể thức hợp đồng
không có gì khác biệt (báo đầu t 22/1/2003). Theo bộ tài chính, tính đến nay
trong 61 tỉnh thành mới có 22 địa phơng thực hiện khoán biên chế. Tại 22 tỉnh
thành lại mới có 181 cơ quan thực hiện khoán, chiếm 36% tổng số cơ quan, đơn
vị trên cả nớc. Tiền lơng tối thiểu của những đối tợng hởng lơng từ ngân sách
nhà nớc và ngời lao động trong các doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp nớc ngoài)
cũng đợc điều chỉnh từ 210.000đ/tháng lên 290.000đ/tháng. Song nếu xét bình
quân lơng tối thiểu theo đầu ngời cho một gia đình, xem xét tốc độ tăng giá cả
hàng hoá, và tốc độ tăng trởng kinh tế thì lơng tối thiểu có thể là cha đủ sống.
Trong 4 nguồn lực cơ bản của sản xuất kinh doanh, KHCN đang ngày
càng dóng vai trò quan trọng. Nó làm tăng năng suất lao động của con ngời,
làm thay con ngời những công việc khói khăn, nguy hiểm. KHCN cũng là
nguồn lực không có giới hạn, không ngừng phát triển. Tuy nhiên, cần phải thấy
14
rõ rằng KHCN lại phụ thuộc rất chặt chẽ vào trình độ con ngời. Nhận thức của
con ngời về thế giới càng cao bao nhiêu, sự thành công của con ngời trong
chinh phục và khám phá tự nhiên càng tốt bao nhiêu thì các phát minh, sáng
kiến càng nhiều và KHCN càng phát triển bấy nhiêu. Con ngời mới là chủ thể
tạo ra KHCN và khi hình thành rồi, KHCN quay lại giúp con ngời lao động sản
xuất và phần nào đó nâng cao nhận thức và trình độ con ngời. Con ngời sử
dụng, điều khiển KHCN và vì vậy, chính con ngời mới quyết định sự thành
công hay thất bại của công việc, của KHCN. Nguồn lực con ngời và nguồn lực
KHCN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng đều là nguồn lực vô tận để
phát triển kinh tế. Tất nhiên để phát triển KHCN, cần đầu t cả vốn và nguồn
nhân lực, việc quyết định sử dụng vốn thế nào lại dựa vào con ngời, con ngời
cũng luôn tác động vào tự nhiên, đất đai, môi trờng... Do đó, cả 4 nguồn lực đều
tác động qua lại lẫn nhau nhng nhân tố con ngời vẫn luôn giữ vai trò chủ thể
quyết định. Để thực hiện vai trò đó, con ngời càng ngày càng cần đến tri thức,
chuyên môn, cần đợc giáo dục và đào tạo một cách nghiêm túc.
Tóm lại, có thể nói, lao động có trình độ chuyên môn ở Việt Nam còn rất
Chính vì thế việc đa KHKT và cơ giới vào đồng ruộng gặp không ít khó khăn.
Năng suất lao động của ngời nông dân rất thấp, thời gian lao động chỉ đạt hơn
70%, kỹ thuật lạc hậu, chịu ảnh hởng tập quán thói quen nhiều hơn. Những cơ
quan khuyến nông ở các địa phơng cha phát huy đợc hiệu quả, song đã làm đợc
những việc nh tìm ra giống cây con phù hợp cho từng vùng miền, đảm nhiệm
công tác điện khí, thủy lợi. Nhìn chung, bộ phận này cũng góp phần giúp nông
dân nâng cao năng suất. Vậy vì sao nông thôn lại là địa bàn có số lao động phổ
thông lớn nh vậy? Trớc hết đó là do tính kế thừa cố hữu trong hoạt động nông
nghiệp. Những ngời nông dân Việt Nam cho rằng, họ kế thừa đất đai, đồng
16