Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A - LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các
phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu
quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời
là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay,
loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác
định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến
nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của giá",
bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng
vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm mà
trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó
trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý những vấn đề cụ thể liên
quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do vậy, nhận thức
một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là một
nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế
hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì
sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh
của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất nước và là mối quan
tâm đặc biệt của chính phủ các nước trong quá trình phục hưng và phát triển
kinh tế. Việt Nam là một trong những nước như vậy.
Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Một số
vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam". Tập đề án
được chia làm 2 phần chính.
Những vấn đề lý thuyết chung ( chương I )
Những chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam ( chương II )
Do đề ra, chương I sẽ chiếm phần lớn tập đề án. Ở chương II. Em sẽ cố
gắng trình bầy và thể hiện những gì đã đề cập trong chương I.

n
/P
f

Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm
phát giữa các nước và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của một nước.
2
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
a- Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các
nước khác mua hàng hoá và dịc vụ được sản xuất ra tại nước A. Một nước xuất
khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoịa
hối.
Đường cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống dố
phía bên phải, điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá của
nước ấy càng trở lên đắt hơn đối với những người nước ngoài và ít hàng hoá
xuất khẩu hơn
b- Cung về tiền trên thị trường ngoại hối
Để nhân dân nước A mua được các sản phẩm sản xuất ra ở nước B họ
phải mua một lượng tiền đủ lớn của nước B, bằng việc dùng tiền nước A để trả.
Lượng tiền này của nước A khi ấy bước vào thị trường quốc tế.
Đường cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên
về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nước ngoài càng rẻ và hàng
hoá ngoại được nhập khẩu ngày càng nhiều.
Các tỷ giá hối đoái được xác định chủ yếu thông qua các lực lượng thị
trường của cung và cầu. Bất kỳ cái gì làm tăng cầu về một đồng tiền hoặc làm
giảm cung của nó đều có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. Bất kỳ cái
gì làm giảm cầu về một đồng tiền hoặc làm tăng cung đồng tiền ấy trên các thị

không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó.
4
c- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các
loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ
hạn bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển
khoản ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản qua ngân
hàng.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối
bằng tiền mặt.
d- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán ngoại
hối của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán
ngoại hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
- Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận
ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng(có
thể là 1, 2, 3 tháng sau).
e- Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá chia
ra làm hai loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷg ía bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
II- Những nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái:
1- Cán cân thương mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nước tăng thì đường cung về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về

dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên dưới 3.000VND, trong khi đó tỷ
giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan hệ xuất nhập khẩu giữu mức
6
150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung 1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ
1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND. Kim ngạch xuất khẩu của năm 1987là
650 triệu R-USD trong đó khu vực đồng Rúp 500 triệu và khu vực đồng USD
150 triệu, Ngân sách nhà nước đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các ngành, các địa
phương càng giao nhiều hàng xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ với bạn, thì ngân
sách nhà nước càng phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nhà nước không bù lỗ đủ hoặc
chậm trễ trong việc thanh toán thì công nợ giữa các doanh nghiệp và các ngành
càng tăng và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối với hàng nhập, thì khi
vật tư nguyên liệu thiết bị về nước nhà nước đứng ra phân phối cho các ngành
trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợp với mức tỷ giá 150
VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Như vậy, các ngành, các địa phương
được phân phối các loại vật tư, nguyên liệu đó thì được hưởng phần giá thấp
còn ngân sách nhà nước lại không thu được chênh lệch giá. Việc thực hiện cơ
chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập khẩu và bù lỗ hàng xuất
khẩu đó là:
- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho bạn để có
thể đưa hàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì mức lỗ của
ngân sách cho hàng xuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều hành ngân sách -
Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu nhưng trong khi
đó vẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến độ, thì việc bù lỗ hàng xuất
khẩu được giảm ở mức độ nhất định, nhưng nghĩa vụ nợ của ta với bạn lại tăng
lên đáng kể.
Tỷ giá qui định thấp nên các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ không
bán ngoại tệ cho ngân hàng, vì làm như vậy sẽ bị mất lãi. Các tổ chức đại diện
nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài cũng không chuyển tiền tài khoản ở ngân
hàng ở chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào hoặc sử dụng ngoại tệ
tiền mặt trực tiếp trên thị trường. Do đó cơ chế tỷ giá của thời kỳ này đã trở

tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thương mại xây dựng và
công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép (khoảng 5%) so với
tỷ giá chính thức.
8
Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với thị
trường khiến cho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh trung
thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm cho công tác
kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài từ ngân sách Nhà nước thuận lợi hơn
và có cơ sở vững chắc hơn.
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và quản
lý ngoại tệ, nhưng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hưởng không tốt đến
quản lý, điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lượng ngoại tệ của Nhà nước tăng chậm và chưa tương xứng với
mức độ tăng của cán cân thương mại, một cơ sở của sự ổn định thu chi ngân
sách Nhà nước là quĩ ngoại tệ chưa được tăng cường.
- Vì tỷ giá hối đoái chính thức theo sát tỷ giá thị trường nếu không ổn
định thì không những ngân sách bị động mà việc tính toán thu chi Ngân sách
bằng ngoại tệ theo không kịp thời dẫn tới không sát với thực tế thị trường, điều
hành Ngân sách Nhà nước không tránh khỏi lúng túng, nhất là trường hợp bị
thiếu hụt khi trả nợ đến hạn đòi phải giải quyết.
1.2: Thực trạng quan hệ tỷ giá và nợ nước ngoài
Tỷ giá có mối quan hệ hữu cơ với nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ.
Trước năm 1979, Việt Nam có sử dụng 20tỷ Yên Nhật tương đương 92 triệu
USD (tỷ giá 216 Yên = 1USD). Ngày 6/11/1992 chính phủ Nhật mở lại tín dụng
với Việt Nam và cho Việt Nam vay 20 tỷ Yên, tương đương 159 triệu USD (tỷ
giá 126 Yên= 1USD). Ngoài ra, vào thời điểm 1987 trở về trước còn có các
khoản vay các công ty của Nhật 20 tỷ Yên, tương đương 125 triệu USD ( tỷ giá
160 Yên= 1USD). Đầu năm 1995, đồng Yên lên giá, 1USD chỉ còn 90 Yên là
như vậy, xét về góc độ tỷ giá thì trong thời gian qua sự tăng giá của đồng Yên

Thiếu vốn phải vay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào cũng
chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ, đồng
ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp sẽ
10
phải tăng, nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là một bài toán
khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát triển kinh tế có bù lại
được thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp phải trả nợ cao
hơn không?
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay, không
thể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến việc trả giá,
đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản vay. Phải thấy
được rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải làm việc nghĩa. Vấn
đề là ơe chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi ích của bên cho vay và
bên vay. Việc quảnlý nợ khônghcỉ quy định trách nhệm mà còn phải luôn chú ý
tới hiệu quả sử dụng khoản vay. Vì vậy quản lý đầu tư sử dụng các khoản vay
cho các công trình, mục tiêu là một việc có tầm quan trọng đặc biệt. Các cơ
quan tài chính và ngân hàng phải đặc biệt chú ý tới vấn đề này-vay cho mục tiêu
nào được quản lý theo mục tiêu đó.
Về viện trợ: viện trợ không hoàn lại không nhiều, nhưng cũng phải được
quản lý chặt chẽ. Những khoản viện trợ cuả nước ngoài cho chính phủ và các
cấp chính quyền phải được đưa vào ngân sách nhà nước để cân đối và sử dụng,
không hình thành quỹ riêng. Tuy các khoản này ngân sách không phải trả lại
nhưng là một nguồn khá quan trọng góp phần giải quyết các vấn đè của đất
nước.
Những khoản tài trợ của các tổ chức quốc tế và cá nhân cho các dự án
ngoài ngân sách và các tổ chức xã hội cũng phải được chuyển vào ngân sách để
quản lý và chỉ cấp phát bằng tiền Việt nam theo tỷ giá chính thức ở thời điểm sử
dụng, không cấp phát bằng ngoại tệ.
Để đáp ứng yêu cầu trên, chính phủ cần thành lập một tổ chức trực tiếp
quản lý nợ, viện trợ. Cơ quan này không những nắm các khoản nợ, viện trợ, tài

thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt Nam cho
thấy, tình hình taì chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nước) và chế độ
ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một mặt tình
12
hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nước) là một nhân tố
hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phương án điều chỉnh tỷ giá, mặt
khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ,
toàn diện đến quản lý. Nền tài chính quốc gia thông qua nhiều kênh, dưới nhiều
hình thức và góc độ khác nhau, chính vì vậy khi đặt vấn đề lựa cọn chính sách,
phương án điều chỉnh tỷ giá sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu như không đề cập,
phân tích thực trạng tài chính hiện hành của quốc gia.
1.4 Tỷ giá hối đoái đối với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.
Các nước đang phát triển thường thiết ké chính sách tỷ giá hối đoái nhằm
duy trì sức cạnh tranh quốc tế ở mức phù hợp với vị thế cán cân thanh toán quốc
tế lâu bền. Bằng cách tăng giá các hàng thương mại hoá được so với các hàng
hoá không thương mại hoá được; sự phá giá đồng thời chuyển dịch cầu tổng thể
có lợi cho các cho các hàng hoá không thương mại hoá được, và cung tổng thể
có lợi cho các hàng hoá thương mại hoá được, và do đó giảm bội dư cầu đối với
hàng hoá thương mại hoá được (tức là cải thiện được vị thế của cán cân vãng
lai). Ngoài tác dộng của chính sách chuyển đổi chi tiêu, phá giá cũng giảm cầu
tổng thể thông qua ảnh hưởng của khối lượng tài sản, một sự tăng giá nội địa sẽ
làm cho sự phá giá đồng tiền nội địa tháp hơn giá trị thực của tài sản tài chính và
giảm hấp thụ.
Do vai trò cốt yếu của tỷ giá hối đoái đói với việc duy trì sức cạnh tranh
đối với bên ngoài tỷ giá có thể làm thay đổi vượt ra khỏi điểm cân bằng của nó.
Bởi vì điểm cân bằng này được xác địng nội sinh, chính sách tỷ giá hối đoái cần
lưu ý đến các tác động của các cơn sốc khác nhau lên điểm cân bằng của tỷ giá
thực. Phần này đề cập đến các tiếp cận khác nhau trong việc xác định điểm cân
bằng tỷ giá thực và nghiên cứu tác dộng của các cơn sốc bên trong và bên

đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực do các loại cơn sốc trong nước và nước ngoài
gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mức tăng năng suất, thay đổi điều kiện
ngoại thương, cải cách thuế quan, thay đổi trong điều hành ngân sách chính
phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế) lên cân bằng của tỷ giá thực.
14
Chênh lệch về mức độ phát triển, tiến bộ trong công nghệ có tác động
quan trọng đến điểm cân bằng của tỷ giá thực, ví dụ: nếu năng suất lao động
tăng nhanh hơn trong khu vực hàng hoá thương mại hoá so với khu vực hàng
hoá không thương mại hoá, thì giá so sánh giữa hàng hoá không thương mại
hoá sẽ tăng do sự tăng đồng nhất của tiền lương trong cả hai khu vực. Với giá
hàng hoá thương mại hoá thị trường quốc tế quy định thì tỷ giá hối đoái thực cân
bằng sẽ giảm. vậy tỷ giá thực cân bằng ở các nước có tốc độ tăng năng suất thấp
các nước đang phát triển thường chịu các cơn sốc về điều kiện ngoại thương.
Giả sử điều kiện ngoại thương xấu đi vì sự giảm giá tương đối của hàng xuất
khẩu, sự xấu đi này tạo nên dư thừa cung đối với hàng hoá không thương mại
hoá và dư thừa cầu đối với hàng hoá thương mại hoá, làm cho cán cân vãng lai
xấu đi. Mất cân bằng cán cân vãng lai được điều chỉnh lại qua việc giảm giá
tương đối của hàng hoá không thương mại hoá-tức là tăng tỷ giá thực và dịch
chuyển cung nội địa từ hàng hoá không thương mại hoá sang hàng hoá xuất
nhập khẩu.
Phân tích về tác động của cải cách thuế nhập khẩu cho thấy: giảm thuế
nhập khẩu thường là tương đương với tăng tỷ giá thực cânbằng. về phương diện
định tính thì tác động của tự do hoá nhập khẩu cũng giống như việc cải thiện
điều kiện ngoại thương (do giảm giá xuất khẩu). Thuế nhập khẩu thấp hơn sẽ
giảm giá tương đối của hàng nhập khẩu, tạo nên sự dư thừa cầu đối với hàng
hoá này, và dư thừa cung đối với hàng hoá xuất khẩu. để đưa về cân bằng thì
giá tương đối của hàng hoá không thương mại hoá sẽ giảm. Như vậy phản ứng
đối với việc giảm thuế nhập khẩu là tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng lên.
Tỷ giá thực cân bằng cũng bị tác động của các biện pháp ngân sách, ngay
cả khi thiếu hụt ngân sách không thay đổi thì sự thay đổi trong cơ cấu thu chi

ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế là thực hiện quy tắc tỷ giá thực.
Như vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa được sự xuất hiện mất cân đối
lớn và lâu dài của các giá cả tương đối và do đó tránh được mất cân bằng ngoại,
bằng cách cho tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh thường xuyên và theo liều
lượng tương đối nhỏ. Người ta lập luận rằng: tỷ giá hối đoái thực tế có thể giữ
được ở mức đúng đắn, không gây ra cái giá điều chỉnh phải trả cho nền kinh tế,
16
và do đó che lấp được vấn đề phá giá có thể nổi lên trên chiến trường chính trị.
Hơn thế nữa, người ta còn khẳng định quy tắc tỷ giá thực cung cấp một mức
cho dự đoán. bởi vì nó cung cấp cho những người tham gia thị trường thông tin
bổ ích về chiều hướng có thể xảy ra các giá tương đối và do đó tránh được các
quyết định sản xuất dựa trên các dự đoán mong đợi sai lệch.
Tuy vậy, việc chấp nhận quy tắc tỷ giá thực cũng gây ra một số vấn đề
như: xác định điểm cân bằng của tỷ giá thực là không dễ dàng về lý thuyết, chứ
chưa nói về mặt thực tiễn và một số khó khăn nghiêm trọng có thể phải tính đến
nếu đích tỷ gía đặt sai. Vì vậy, trong khi phát biểu quy tắc tỷ giá thực thf phải
cho phép có một độ sai số so với điểm cân bằng của tỷ giá thực do các cơn sốc
bên ngoài hoặc trong nước gây ra. Nếu cơn sốc là tạm thời, thì có thể kiên trì
quy tắc tỷ giá thực. Nếu cớn sốc là lâu dài thì sự sai biệt lớn của tỷ giá thực so
với điểm cân bằng có thể làm giảm sức cạnh tranh quốc tế.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy: các quy tắc tỷ giá thực có thể tạo nên
sự không an tâm, đối với hệ quả cân bằng vĩ mô, dù nó có tác động tốt về mặt
cân bằng ngoại. Việc thực hiện đích tỷ giá thực, tức là buộc phải theo đuổi đích
phần thực mà lại sử dụng các công cụ đại lượng danh nghĩa với giá cả nội địa.
Vì vậy các cơn sốc đối với lạm phát trong nước có thể mang tính chất lâu dài,
và trong một số trường hợp có thể dẫn đến lạm phát, về phía cạnh khác, trong
nền kinh tế nhỏ, cung tiền tệ có thể bị gia tăng do nguồn bên ngoài tăng lên, thì
một sự bùng nổ giá cũng có thể xảy ra ngay cả khi chính sách tín dụng không
bành chướng.
Chính sách hỗ trợ đối với các biến động của giá thông qua điều chỉnh tiền

đó là khả thi.
Kinh nghiệm các nước lạm phát cao đã làm tăng sự phản đối việc chấp
nhận các quy tắc tỷ giá thực. Nhiều nước trên đã trải qua tình trạng tỷ lệ lạm
phát cao trong thập kỷ trước mà đặc trưng "mặt bằng cao". Lạm phát nhảy từng
bước đến các thời kỳ lạm phát cao hơn nhưng lại tương đối ổn định. Trong một
số trường hợp thì bước nhảy như vậy liên quan đến phá giá từng đợt, tiếp theo
là "cố định" dựa vào các quy tắc tỷ giá so sánh sức mua. Trong các nỗ lực lớn
hơn, gần đây họ cố định tỷ giá danh nghĩa để cung cấp một mốc neo danh
18
nghĩa. Điều này cũng không kết luận rằng: gắn cố định dựa trên cơ sở tỷ giá so
sánh sức mua là gây nên lạm phát cao, nhưngnthực tiễn cho thấy nguy cơ ngày
càng cao.
Tuy vậy, cũng cần nhận thấy một số lợi thế của quy tắc tỷ giá thực, ví
dụ: tỷ giá thực sẽ không cho phép chênh lệch xa điểm cân bằng, vì vậy không
phải lo lắng trước sự mất ổn định của giá nội địa.
Tóm lại, một khi đích mục tiêu đặt ra đối với tỷ giá thực vẫn còn đúng,
thì tiềm năng gây lạm phát do sử dụng đích mục tiêu tỷ giá thực gây ra có thể
được kìm hãm bằng cách sử dụng các chính sách ngân sách và tiền tệ thắt chặt,
tiếp cận này sẽ ngăn ngừa sự xuất hiện biến động gây mất ổn định của giá cả,
ngay cả khi nếu tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh để duy trì sức cạnh tranh
quốc tế. Khi không biết chắc chắn giá trị cân bằng của tỷ giá thực thì không nên
quá chú trọng vào việc đặt ra đích mục tiêu tỷ giá thực, ngya cả khi nếu các
chính sách ngân sách và tiền tệ được sử dụng một cách thận trọng. Gánh nặng
của điều chỉnh ít nhất là một phần do các chính sách tài chính chịu, hơn là hoàn
toàn dồn cho điều chỉnh tỷ giá. Theo nghĩa đó thì cần phải chú ý rằng các chính
sách như vậy bản thân chúng có thể chịu tác động bởi chế độ tỷ giá hối đoái mà
chính phủ đưa ra.
Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đưa ra khái
niệm khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh = ePo/P
Trong đó: Po: giá sản phẩm ngoài tính theo gía thi trường nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status