Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam - Pdf 81

A - Lời mở đầu
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các
phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò nh là một công cụ có hiệu lực, có hiệu
quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nớc, đồng thời
là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời
nay, loài ngời đã và đang tiếp tục đứng trớc một vấn đề có tầm quan trọng
đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để
từ đó xác định và đa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp,
nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi
nớc.
Tỷ giá hối đoái, nh các nhà kinh tế thờng gọi là một loại "giá của giá" ,
bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tợng
vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm
mà trái lại, là cái mà con ngời cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng
nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý những vấn đề cụ thể
liên quan đến các chính sách kinh tế trong nớc và quốc tế. Và do vậy, nhận
thức một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái
là một nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc
tế hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc
sống, thì sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi
thế so sánh của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất nớc và
là mối quan tâm đặc biệt của chính phủ các nớc trong quá trình phục hng và
phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong những nớc nh vậy.
Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Một
số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam".
Tập đề án đợc chia làm 2 phần chính.
Những vấn đề lý thuyết chung ( chơng I )
Những chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam ( chơng II )
Do đề ra, chơng I sẽ chiếm phần lớn tập đề án. ở chơng II. Và em sẽ cố
gắng trình bầy và thể hiện những gì đã đề cập trong chơng I.

n
/P
f

Pn: chỉ số giá trong nớc
Pf: chỉ số giá nớc ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ đợc sự ảnh hởng của chênh lệch lạm
phát giữa các nớc và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của một nớc.
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
a- Cầu về tiền trên thị trờng ngoại hối
Có cầu về tiền của nớc A trên thị trờng ngoại hối khi dân c từ các nớc
khác mua hàng hoá và dịc vụ đợc sản xuất ra tại nớc A. Một nớc xuất khẩu
càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nớc đó càng lớn trên thị trờng ngoịa hối.
Đờng cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống dố
phía bên phải, điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá
của nớc ấy càng trở lên đắt hơn đối với những ngời n\ớc ngoài và ít hàng hoá
xuất khẩu hơn
b- Cung về tiền trên thị trờng ngoại hối
2
Để nhân dân nớc A mua đợc các sản phẩm sản xuất ra ở nớc B họ phải
mua một lợng tiền đủ lớn của nớc B, bằng việc dùng tiền nớc A để trả. Lợng
tiền này của nớc A khi ấy bớc vào thị trờng quốc tế.
Đờng cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên
về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nớc ngoài càng rẻ và
hàng hoá ngoại đợc nhập khẩu ngày càng nhiều.
Các tỷ giá hối đoái đợc xác định chủ yếu thông qua các lực lợng thị tr-
ờng của cung và cầu. Bất kỳ cái gì làm tăng cầu về một đồng tiền hoặc làm
giảm cung của nó đều có xu hớng làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. Bất kỳ cái
gì làm giảm cầu về một đồng tiền hoặc làm tăng cung đồng tiền ấy trên các
thị trờng ngoại hối sẽ hớng tới làm cho giá trị trao đổi của nó giảm xuống ở

không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào
đó.
c- Căn cứ vào phơng tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá đợc chia ra các
loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có
kỳ hạn bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc
chuyển khoản ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản
qua ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại
hối bằng tiền mặt.
d- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán
ngoại hối của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán
ngoại hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
- Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ đợc thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ đợc thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp
đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau).
e- căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá
chia ra làm hai loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷg ía bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
4
II- Những nhân tố ảnh hởng tới tỷ giá hối đoái:
1- Cán cân thơng mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập

trên dới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên dới 3.000VND, trong khi đó
tỷ giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan hệ xuất nhập khẩu giữu mức
150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung 1Rúp hàng xuất khẩu phải bù
lỗ 1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND. Kim ngạch xuất khẩu của năm
1987là 650 triệu R-USD trong đó khu vực đồng Rúp 500 triệu và khu vực
đồng USD 150 triệu, Ngân sách nhà nớc đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các
5
ngành, các địa phơng càng giao nhiều hàng xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ
với bạn, thì ngân sách nhà nớc càng phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nàh nớc
không bù lỗ đủ hoặc chậm trễ trong việc thanh toán thì công nợ giữa các
doanh nghiệp và các ngành càng tăng và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh
doanh. Đối với hàng nhập, thì khi vật t nguyên liệu thiết bị về nớc nhà nớc
đứng ra phân phối cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân với mức giá
thấp (phù hợp với mức tỷ giá 150 VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Nh
vậy, các ngành, các địa phơng đợc phân phối các loại vật t,nguyên liệu đó thì
đợc hởng phần giá thấp còn ngân sách nhà nớc lại không thu đợc chênh lệch
giá. Việc thực hiện cơ chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập
khẩu và bù lỗ hàng xuất khẩu đó là:
- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho bạn
để có thể đa hàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì mức
lỗ của ngân sách cho hàng xuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều hành
ngân sách - Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu nh-
ng trong khi đó vẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến độ, thì việc
bù lỗ hàng xuất khẩu đợc giảm ở mức độ nhất định, nhng nghĩa vụ nợ của ta
với bạn lại tăng lên đáng kể.
Tỷ giá qui định thấp nên các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ
không bán ngoại tệ cho ngân hàng, vì làm nh vậy sẽ bị mất lãi. Các tổ chức
đại diện nớc ngoài hoặc cá nhân nớc ngoài cũng không chuyển tiền tài khoản
ở ngân hàng ở chi tiêu mà thờng đa hàng từ nớc ngoài vào hoặc sử dụng
ngoại tệ tiền mặt trực tiếp trên thị trờng. Do đó cơ chế tỷ giá của thời kỳ này

ờng. Ngân hàng nhà nớc công bố tỷ giá chính thức của VNĐ với các ngoại tệ
mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thơng mại xây dựng và
công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép (khoảng 5%) so
với tỷ giá chính thức.
Về mặt ngân sách Nhà nớc, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với thị
trờng khiến cho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nớc phản ánh trung
thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm cho công
tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nớc ngoài từ ngân sách Nhà nớc thuận lợi
hơn và có cơ sở vững chắc hơn.
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và
quản lý ngoại tệ, nhng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hởng không tốt
đến quản lý, điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không đợc quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lợng ngoại tệ của Nhà nớc tăng chậm và cha tơng xứng với
mức độ tăng của cán cân thơng mại, một cơ sở của sự ổn định thu chi ngân
sách Nhà nớc là quĩ ngoại tệ cha đợc tăng cờng.
- Vì tỷ giá hối đoái chính thức theo sát tỷ giá thị trờng nếu không ổn
định thì không những ngân sách bị động mà việc tính toán thu chi Ngân sách
bằng ngoại tệ theo không kịp thời dẫn tới không sát với thực tế thị trờng, điều
hành Ngân sách Nhà nớc không tránh khỏi lúng túng, nhất là trờng hợp bị
thiếu hụt khi trả nợ đến hạn đòi phải giải quyết.
1.2: Thực trạng quan hệ tỷ giá và nợ nớc ngoài
Tỷ giá có mối quan hệ hữu cơ với nợ nớc ngoài và công tác quản lý nợ.
Trớc năm 1979, Việt Nam có sử dụng 20tỷ Yên Nhật tơng đơng 92 triệu USD
(tỷ giá 216 Yên = 1USD). Ngày 6/11/1992 chính phủ Nhật mở lại tín dụng
với Việt Nam và cho Việt Nam vay 20 tỷ Yên, tơng đơng 159 triệu USD (tỷ
giá 126 Yên= 1USD). Ngoài ra, vào thời điểm 1987 trở về trớc còn có các
7
khoản vay các công ty của Nhật 20 tỷ Yên, tơng đơng 125 triệu USD ( tỷ giá
160 Yên= 1USD). Đầu năm 1995, đồng Yên lên giá, 1USD chỉ còn 90 Yên là

Thiếu vốn phải vay, nhng không phải ai cho vay với điều kiện nào
cũng chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ,
đồng ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nớc của doanh
nghiệp sẽ phải tăng , nhng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là một
bài toán khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát triển kinh
tế có bù lại đợc thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nớc và doanh nghiệp phải
trả nợ cao hơn không?
8
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay,
không thể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến việc
trả giá, đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản vay.
Phải thấy đợc rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải làm việc
nghĩa. Vấn đề là ơe chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi ích của
bên cho vay và bên vay. Việc quảnlý nợ khônghcỉ quy định trách nhệm mà
còn phải luôn chú ý tới hiệu quả sử dụng khoản vay. Vì vậy quản lý đầu t sử
dụng các khoản vay cho các công trình, mục tiêu là một việc có tầm quan
trọng đặc biệt. Các cơ quan tài chính và ngân hàng phải đặc biệt chú ý tới vấn
đề này-vay cho mục tiêu nào đợc quản lý theo mục tiêu đó.
Về viện trợ: viện trợ không hoàn lại không nhiều, nhng cũng phải đợc
quản lý chặt chẽ. Những khoản viện trợ cuả nớc ngoài cho chính phủ và các
cấp chính quyền phải đợc đa vào ngân sách nhà nớc để cân đối và sử dụng,
không hình thành quỹ riêng. Tuy các khoản này ngân sách không phải trả lại
nhng là một nguồn khá quan trọng góp phần giải quyết các vấn đè của đất n-
ớc.
Những khoản tài trợ của các tổ chức quốc tế và cá nhân cho các dự án
ngoài ngân sách và các tổ chức xã hội cũng phải đợc chuyển vào ngân sách
để quản lý và chỉ cấp phát bằng tiền Việt nam theo tỷ giá chính thức ở thời
điểm sử dụng, không cấp phát bằng ngoại tệ.
Để đáp ứng yêu cầu trên, chính phủ cần thành lập một tổ chức trực tiếp
quản lý nợ, viện trợ. Cơ quan này không những nắm các khoản nợ, viện trợ,

Với diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần có sách lợc chọn đồng tiền với mức
lái suất thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt nam
cho thấy, tình hình taì chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nớc) và chế
độ ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một mặt
tình hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nớc) là một nhân
tố hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phơng án điều chỉnh tỷ giá,
mặt khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hởng hết sức mạnh
mẽ, toàn diện đến quản lý. Nền tài chính quốc gia thông qua nhiều kênh, dới
nhiều hình thức và góc độ khác nhau, chính vì vậy khi đặt vấn đề lựa cọn
chính sách, phơng án điều chỉnh tỷ giá sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu nh
không đề cập, phân tích thực trạng tài chính hiện hành của quốc gia.
1.4 Tỷ giá hối đoái đối với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.
Các nớc đang phát triển thờng thiết ké chính sách tỷ giá hối đoái nhằm
duy trì sức cạnh tranh quốc tế ở mức phù hợp với vị thế cán cân thanh toán
quốc tế lâu bền. Bằng cách tăng giá các hàng thơng mại hoá đợc so với các
hàng hoá không thơng mại hoá đợc; sự phá giá đồng thời chuyển dịch cầu
tổng thể có lợi cho các cho các hàng hoá không thơng mại hoá đợc, và cung
tổng thể có lợi cho các hàng hoá thơng mại hoá đợc, và do đó giảm bội d cầu
đối với hàng hoá thơng mại hoá đợc (tức là cải thiện đợc vị thế của cán cân
vãng lai). Ngoài tác dộng của chính sách chuyển đổi chi tiêu, phá giá cũng
giảm cầu tổng thể thông qua ảnh hởng của khối lợng tài sản, một sự tăng giá
nội địa sẽ làm cho sự phá giá đồng tiền nội địa tháp hơn giá trị thực của tài
sản tài chính và giảm hấp thụ.
Do vai trò cốt yếu của tỷ giá hối đoái đói với việc duy trì sức cạnh
tranh đối với bên ngoài tỷ giá có thể làm thay đổi vợt ra khỏi điểm cân bằng
của nó. Bởi vì điểm cân bằng này đợc xác địng nội sinh, chính sách tỷ giá hối
đoái cần lu ý đến các tác động của các cơn sốc khác nhau lên điểm cân bằng
của tỷ giá thực. Phần này đề cập đến các tiếp cận khác nhau trong việc xác
định điểm cân bằng tỷ giá thực và nghiên cứu tác dộng của các cơn sốc bên

đây chỉ ra sự thay đổi chỉ số tỷ giá thực quan đợc có thể là biểu hiện của sự
thay đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực do các loại cơn sốc trong nớc và nớc
ngoài gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mức tăng năng suất, thay đổi
điều kiện ngoại thơng, cải cách thuế quan, thay đổi trong điều hành ngân
sách chính phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế) lên cân bằng của tỷ giá
thực.
Chênh lệch về mức độ phát triển, tiến bộ trong công nghệ có tác động
quan trọng đến điểm cân bằng của tỷ giá thực, ví dụ: nếu năng suất lao động
tăng nhanh hơn trong khu vực hàng hoá thơng mại hoá so với khu vực hàng
hoá không thơng mại hoá, thì giá so sánh giữa hàng hoá không thơng mại
hoá sẽ tăng do sự tăng đồng nhất của tiền lơng trong cả hai khu vực. Với giá
hàng hoá thơng mại hoá thị trờng quốc tế quy định thì tỷ giá hối đoái thực
11
cân bằng sẽ giảm. vậy tỷ giá thực cân bằng ở các nớc có tốc độ tăng năng
suất thấp các nớc đang phát triển thờng chịu các cơn sốc về điều kiện ngoại
thơng. Giả sử điều kiện ngoại thơng xấu đi vì sự giảm giá tơng đối của hàng
xuất khẩu, sự xấu đi này tạo nên d thừa cung đối với hàng hoá không thơng
mại hoá và d thừa cầu đối với hàng hoá thơng mại hoá, làm cho cán cân vãng
lai xấu đi. Mất cân bằng cán cân vãng lai đợc điều chỉnh lại qua việc giảm
giá tơng đối của hàng hoá không thơng mại hoá-tức là tăng tỷ giá thực và
dịch chuyển cung nội địa từ hàng hoá không thơng mại hoá sang hàng hoá
xuất nhập khẩu.
Phân tích về tác động của cải cách thuế nhập khẩu cho thấy: giảm thuế
nhập khẩu thờng là tơng đơng với tăng tỷ giá thực cânbằng. về phơng diện
định tính thì tác động của tự do hoá nhập khẩu cũng giống nh việc cải thiện
điều kiện ngoại thơng (do giảm giá xuất khẩu). Thuế nhập khẩu thấp hơn sẽ
giảm giá tơng đối của hàng nhập khẩu, tạo nên sự d thừa cầu đối với hàng
hoá này, và d thừa cung đối với hàng hoá xuất khẩu. để đa về cân bằng thì giá
tơng đối của hàng hoá không thơng mại hoá sẽ giảm. Nh vậy phản ứng đối
với việc giảm thuế nhập khẩu là tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng lên.

tranh đối với bên ngoài ở hầu hết các nớc đang phát triển là tỷ lệ lạm phát nội
địa cao kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷ giá danh nghĩa cố định. Các
tiếp cận để ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế là thực hiện quy
tắc tỷ giá thực.
Nh vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa đợc sự xuất hiện mất cân đối
lớn và lâu dài của các giá cả tơng đối và do đó tránh đợc mất cân bằng ngoại,
bằng cách cho tỷ giá danh nghĩa đợc điều chỉnh thờng xuyên và theo liều l-
ợng tơng đối nhỏ. Ngời ta lập luận rằng: tỷ giá hối đoái thực tế có thể giữ đợc
ở mức đúng đắn, không gây ra cái giá điều chỉnh phải trả cho nền kinh tế, và
do đó che lấp đợc vấn đề phá giá có thể nổi lên trên chiến trờng chính trị.
Hơn thế nữa, ngời ta còn khẳng định quy tắc tỷ giá thực cung cấp một mức
cho dự đoán. bởi vì nó cung cấp cho những ngời tham gia thị trờng thông tin
bổ ích về chiều hớng có thể xảy ra các giá tơng đối và do đó tránh đợc các
quyết định sản xuất dựa trên các dự đoán mong đợi sai lệch.
Tuy vậy, việc chấp nhận quy tắc tỷ giá thực cũng gây ra một số vấn đề
nh: xác định điểm cân bằng của tỷ giá thực là không dễ dàng về lý thuyết,
chứ cha nói về mặt thực tiễn và một số khó khăn nghiêm trọng có thể phải
tính đến nếu đích tỷ gía đặt sai. Vì vậy, trong khi phát biểu quy tắc tỷ giá
thực thf phải cho phép có một độ sai số so với điểm cân bằng của tỷ giá thực
do các cơn sốc bên ngoài hoặc trong nớc gây ra. Nếu cơn sốc là tạm thời, thì
có thể kiên trì quy tắc tỷ giá thực. Nếu cớn sốc là lâu dài thì sự sai biệt lớn
của tỷ giá thực so với điểm cân bằng có thể làm giảm sức cạnh tranh quốc tế.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy: các quy tắc tỷ giá thực có thể tạo
nên sự không an tâm, đối với hệ quả cân bằng vĩ mô, dù nó có tác động tốt về
mặt cân bằng ngoại. Việc thực hiện đích tỷ giá thực, tức là buộc phải theo
đuổi đích phần thực mà lại sử dụng các công cụ đại lợng danh nghĩa với giá
cả nội địa. Vì vậy các cơn sốc đối với lạm phát trong nớc có thể mang tính
chất lâu dài, và trong một số trờng hợp có thể dẫn đến lạm phát, về phía cạnh
khác, trong nền kinh tế nhỏ, cung tiền tệ có thể bị gia tăng do nguồn bên
ngoài tăng lên, thì một sự bùng nổ giá cũng có thể xảy ra ngay cả khi chính

kiện khác không thay đổi. Bên cạnh đó cần lu ý không phải tất cả các đích tỷ
giá thực là khả thi và không phải tất cả các quy tắc tỷ giá đều đa nền kinh tế
đến đích, ngay nh nếu đích đó là khả thi.
Kinh nghiệm các nớc lạm phát cao đã làm tăng sự phản đối việc chấp
nhận các quy tắc tỷ giá thực. Nhiều nớc trên đã trải qua tình trạng tỷ lệ lạm
phát cao trong thập kỷ trớc mà đặc trng "mặt bằng cao". Lạm phát nhảy từng
bớc đến các thời kỳ lạm phát cao hơn nhng lại tơng đối ổn định. Trong một
số trờng hợp thì bớc nhảy nh vậy liên quan đến phá giá từng đợt, tiếp theo là
"cố định" dựa vào các quy tắc tỷ giá so sánh sức mua. Trong các nỗ lực lớn
hơn, gần đây họ cố định tỷ giá danh nghĩa để cung cấp một mốc neo danh
nghĩa. Điều này cũng không kết luận rằng: gắn cố định dựa trên cơ sở tỷ giá
so sánh sức mua là gây nên lạm phát cao, nhngnthực tiễn cho thấy nguy cơ
ngày càng cao.
Tuy vậy, cũng cần nhận thấy một số lợi thế của quy tắc tỷ giá thực, ví
dụ: tỷ giá thực sẽ không cho phép chênh lệch xa điểm cân bằng, vì vậy không
phải lo lắng trớc sự mất ổn định của giá nội địa.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status