155
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
Nguyễn Xuân Khoát
1
, Phạm Thị Thương
2
1
Đại học Huế
2
Trường Đại học Kinh tế Huế, Đại học Huế
Tóm tắt. Phát triển nguồn nhân lực (NNL) đang trở thành đòi hỏi bức thiết hiện
nay của đất nước nói chung và thành phố Huế nói riêng. Trong những năm qua,
trên địa bàn thành phố, NNL trong lĩnh vực công nghiệp (CN) đã có những bước
chuyển biến tích cực, tạo nên sắc thái mới cho lĩnh vực CN. Tuy nhiên, nguồn lực
này vẫn còn nhiều hạn chế như: NNL chất lượng cao ít, lực lượng lao động qua
đào tạo chưa cao, cơ cấu bất hợp lý… Nguyên nhân của thực trạng trên là do mặt
bằng dân trí còn thấp, công tác đào tạo và dạy nghề của thành phố chưa thật hiệu
quả,… Từ thực tế đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển có
hiệu quả nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn thành phố trong
thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
nghiệp trên địa bàn thành phố Huế để đề xuất các giải pháp phát triển hợp lý, hiệu quả
đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
2. Thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn thành phố
Huế
2.1. Quy mô nguồn nhân lực
Trong giai đoạn qua, trên địa bàn thành phố Huế, NNL CN đã có sự gia tăng về
số lượng. Năm 2005, đội ngũ lao động CN thành phố có 14.944 người, chiếm tỷ lệ
11,64% lao động trong khối ngành kinh tế, đến năm 2009 tăng lên 17.225 người chiếm
13,42% lao động trong khối ngành kinh tế.
- Sự phân bổ lao động CN theo ngành nghề
Bảng 1. Lao động trong lĩnh vực công nghiệp phân chia theo ngành
Đơn vị tính: người
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số 14.944
15.976
15.752
16.004
17.225
15405
CN khai thác 2.207
2.294
2.342
(Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).
Qua bảng 1 cho thấy, lao động tham gia trong ngành CN chế biến chiếm tỷ lệ
cao nhất, (chiếm 82,5% lao động ngành CN); thấp nhất là ngành sản xuất và phân phối
điện, nước (chỉ chiếm 3,39%). Nguyên nhân là do tính chất của ngành CNCB, DN tham
gia hoạt động thường là DN vừa và nhỏ; số lượng lao động trên một DN tuy không cao,
nhưng số lượng DN lại nhiều, nên hàng năm ngành CN chế biến có khả năng thu hút và
giải quyết nhiều việc làm cho người lao động. 157
- Lao động phân theo thành phần kinh tế.
Bảng 2. Lao động công nghiệp phân chia theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: Người
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số 14.944
15.976
15.752
16.004
17.225
15.405
Kinh tế Nhà nước 3.749
12.496
10.953
Kinh tế có vốn đầu tư n.ngoài 69
72
78
82
286
286
(Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).
Từ bảng 2 có thể rút ra nhận xét: thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới nâng cấp
hiệu quả hoạt động của DNNN đã làm cho số lượng lao động trong lĩnh vực CN có sự
biến động tăng nhẹ qua 5 năm. Đối với kinh tế tập thể, trong hai năm 2008, 2009 có
nhiều HTX và DN lâm vào tình trạng khó khăn, phá sản. Nhưng nhìn chung trong 5
năm (từ 2005 đến 2009) số lượng lao động không giảm mà có xu hướng ổn định; số lao
động được tăng thêm bình quân chỉ 7 lao động/năm.
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế có khả năng phát triển mạnh nhất trong 5
năm qua và đã thu hút được một lượng lớn lao động. Cụ thể, từ chỗ năm 2005 có 10.817
lao động đã tăng lên 12.496 lao động vào năm 2009, (tăng 115,5% so với năm 2005).
Trong đó, số lao động tăng lên chủ yếu tập trung vào các DN tư nhân, còn lao động tham
gia hoạt động kinh tế cá thể, tiểu chủ có xu hướng giảm. Đây chính là kết quả phát triển
mạnh mẽ của DN tư nhân trên địa bàn.
Mặt khác, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các DN có
26.929
3.094
203
2.003
CN khai thác 3.700
3.433
210
0
57
CN chế biến 26.755
22.689
2.461
153
1.452
SX và phân phối điện, khí đốt. 966
CN theo hướng bền vững trong thời gian tới, thành phố Huế cần tập trung nâng cao hơn
nữa chất lượng nguồn nhân lực.
2.3. Cơ cấu nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp
- Cơ cấu trình độ đào tạo
Trong ngành CN, xét về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL, lao
động nam luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với lao động nữ. Điều này thể hiện rõ ở biểu đồ 1.
Nhìn chung, lao động nữ có trình độ học vấn và tay nghề thấp hơn lao động nam.
Thực trạng này xuất phát từ ba nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, do tỷ lệ nam giới
cao hơn nữ giới; Thứ hai, do đặc thù và yêu cầu của công việc, lao động nữ thường làm
việc trong những ngành ít đòi hỏi cao ở trình độ chuyên môn của người lao động như:
thêu, đan, móc. Trong khi đó, lao động nam lại làm việc trong những ngành đòi hỏi
trình độ tay nghề cao như: sản xuất và phân phối điện; Thứ ba, do khả năng cũng như
cơ hội tiếp cận nâng cao trình độ học vấn, tay nghề của lao động nữ thấp và khó khăn 159
hơn lao động nam.
53.9%
46.1%
51.7%
48.3%
62.2%
37.8%
53.7%
46.3%
71.9%
28.1%
0.0%
10.0%
20,62%; ngành CN cung cấp nước có tỷ lệ nam và nữ lần lượt tương ứng là 68,44% và
31,56% lao động.
Với đặc thù công việc, ngành CN khai thác được xếp vào loại lao động nặng nhọc,
độc hại và nguy hiểm. Tuy nhiên, tại các DN này, lao động nữ vẫn có thể tham gia vào các
hoạt động lao động giản đơn như: xúc cát, sạn, xúc than, dọn dẹp vệ sinh nhà máy, xí
nghiệp,… Vì vậy, trong ngành này, tỷ lệ cơ cấu về giới tính lại có sự tương đồng: 54,8%
lao động là nam và 46,2% lao động là nữ, và qua các năm tỷ lệ này tương đối ổn định, ít
thay đổi.
- Cơ cấu lao động phân theo độ tuổi.
Cũng như tình hình chung trên địa bàn thành phố Huế, NNL trong lĩnh vực CN
có độ tuổi bình quân khá trẻ, chủ yếu tập trung từ 15 đến 35 tuổi, chiếm đến 52,39%. 160
Lực lượng lao động trẻ, có lợi thế về sức khỏe, năng động sáng tạo, có trình độ văn hóa,
có khả năng tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, công
tác đào tạo nghề còn nhiều hạn chế, vì vậy lực lượng lao động này vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của các DN. Cạnh đó, hiện tại đội ngũ lao động có trình độ,
tay nghề cao lại đang bị già hóa, tạo ra sự hụt hẫng giữa các thế hệ. Vì vậy, đây cũng là
một trong những trở ngại lớn trong quá trình phát triển CN ở thành phố Huế hiện nay.
2.4. Đánh giá chung
- Kết quả đạt được
Trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Huế, ngành CN đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong việc phát triển NNL: Thứ nhất, quy mô NNL trong ngành
không ngừng tăng lên, lực lượng lao động dồi dào; Thứ hai, NNL trong lĩnh vực CN ở
thành phố có cơ cấu trẻ và tương đối cân bằng về giới tính; Thứ ba, trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ và kỹ năng làm việc của NNL đang dần được nâng cao.
- Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc phát triển NNL trong lĩnh vực
động có trình độ cao đến làm việc.
3.2. Nhóm giải pháp thuộc nội bộ doanh nghiệp công nghiệp
- Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp bằng cách:
đánh giá đúng thực trạng số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực của doanh
nghiệp; dự báo nhu cầu nguồn nhân lực nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển
doanh nghiệp; thực hiện các biện pháp đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
của doanh nghiệp.
- Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng bằng cách: xác định đúng nhu cầu,
vị trí nguồn nhân lực cần tuyển dụng của doanh nghiệp; xây dựng quy trình tuyển dụng
công khai, bình đẳng, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, đặc biệt là nguồn nhân lực chất
lượng cao.
- Đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, thông qua
các biện pháp: Thứ nhất, xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể của mỗi DN; thứ hai, thực
hiện quá trình đào tạo lại NNL của DN, với những hình thức chủ yếu như: đào tạo tại
chỗ; cử người đi học các lớp ngắn hạn và dài hạn; tham gia hội thảo, nghiên cứu
khoa học…; thứ ba, tạo điều kiện cho người lao động học tập nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ.
- Cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người
lao động, xây dựng văn hoá DN bằng cách: đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới
trang thiết bị và điều kiện làm việc cho người lao động; tạo sự gắn kết giữa người lao
động và doanh nghiệp, giữa những người lao động với nhau; phát huy quyền dân chủ ở
cơ sở, tạo điều kiện cho người lao động đóng góp ý kiến, hiến kế phát triển DN; xây
dựng văn hóa DN và thương hiệu của DN.
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong lĩnh vực
công nghiệp nói riêng ở thành phố Huế đang là một đòi hỏi bức thiết hiện nay và trong
thời gian tới. Để phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực đó, điều quan trọng là phải phân
tích, đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp của thành phố
Huế và vận dụng sáng tạo, hợp lý các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ấy trong từng
địa bàn, cơ sở. Lãnh đạo các cấp, các ngành, các doanh nghiệp của thành phố Huế cần
xác định đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự phát triển nhanh và bền
College of Economics, Hue University
Abstract. The development of human resources has become an urgent demand in
the present situation of the country in general and Hue City in particular. In recent
years, Hue City has experienced certain positive changes in human resources in
industry, which creates encouraging improvements in this area of the economy
However, there have been a number of limitations to overcome such as lack of high
quality or well trained labor force. In the course of this research, the author has
figured out the causes of the situation including low levels of education, ineffective
vocational training, and the most fundamental one is the lack of enterprises’
investment and interest in improving the quality of human resources.