BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
-----------------------
NGUYỄN VĂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA CÁC
CỘNG ĐỒNG NÔNG NGHIỆP-NÔNG THÔN TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
(Thông qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
-----------------------
NGUYỄN VĂN QUYẾT
Văn Quyết
năm 2013
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................3
MỤC LỤC ..............................................................................................................4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT............................................5
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................6
MỞ ĐẦU ................................................................................................................8
Chương 1. PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG TIẾN TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI ............................ 24
1.1. Các cơ sở lý thuyết về biến đổi văn hóa......................................... ….. ….24
1.2. Vài nét về tỉnh Đồng Nai...........................................................................30
1.3. Thành tựu kinh tế văn hóa xã hội............................................................... 37
1.4. Mô tả các cộng đồng được khảo sát...........................................................40
Tiểu kết .................................................................................................................67
Chương 2. CÁC BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC CỘNG
ĐỒNG DÂN CƯ KHU CÔNG NGHIỆP .............................................................. 69
2.1. Từ bình diện cộng đồng - sự tham gia của người dân vào các nghi lễ cộng
đồng.................................................................................................................69
2.2. Các nghi lễ tại gia đình..............................................................................91
2.3. Từ bình diện cá nhân - các hưởng thụ văn hóa trong đời sống hàng ngày 101
Tiểu kết ...............................................................................................................113
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CHO CÁC CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN TRONG CÁC KCN...........................116
3.1. Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cho
Đô thị hóa
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
KCN
Khu công nghiệp
KKT
Khu kỹ thuật
LAPTS
Luận án phó tiến sĩ
LLSX
Lực lượng sản xuất
Trang
UBND
Ủy ban nhân dân
VHTT
Văn hóa Thông tin
6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1:
Quy hoạch phát triển một số KCN lớn của tỉnh Đồng Nai
32
Bảng 2:
Tổng diện tích đất bị thu hồi qua các năm
44
Bảng 3:
Tổng diện tích đất qua các thời kỳ
48
Bảng 9:
Nhân khẩu của xã qua các thời kỳ
48
Bảng 10: Dân nhập cư qua các thời kỳ
49
Bảng 11: Cơ cấu hộ gia đình phân theo nghề qua các thời kỳ
50
Bảng 12: Cơ cấu nghề nghiệp của nhóm cư dân tại chỗ
50
Bảng 13: Cơ cấu nghề nghiệp của nhóm dân nhập cư
51
Bảng 14: Thu nhập bình quân đầu người qua các thời kỳ
52
Bảng 15: Tổng diện tích đất bị thu hồi qua các năm
Bảng 23: Khoản tiền trung bình chi cho thuê nhà một năm của người lao động
60
Bảng 24: Thu nhập trung bình của chủ nhà trọ qua các năm
62
Bảng 25: So sánh thu nhập bình quân đầu người qua các thời kỳ
64
Bảng 26: Mức độ đi chùa/nhà thờ trong thời gian rảnh rỗi
68
Bảng 27: Người tham gia sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại địa phương
69
Bảng 28: Người tham gia vào các thiết chế văn hóa: Cư dân địa phương
70
7
Bảng 29: Người tham gia vào các thiết chế văn hóa: Người dân nhập cư
Bảng 37 Tham gia các hoạt động sinh hoạt văn hóa tại nhà máy
102
Bảng 38 Nhà máy của anh chị có tổ chức bất kỳ hoạt động văn hóa nào dưới đây
103
Bảng 39 Tỷ lệ những người biết đến các hoạt động văn hóa do nhà máy tổ
chức và có tham gia các hoạt động này
104
Bảng 40 Mức độ thường xuyên trong các hoạt động giải trí dưới đây
105
Bảng 41 Mức độ thường xuyên trong các hoạt động giải trí phân theo giới tính 106
Bảng 42 Mức độ thường xuyên trong các hoạt động giải trí của nhóm chưa lập 107
gia đình phân theo giới tính
Bảng 43 Số lần bình quân/người/lần đến các điểm văn hóa dưới đây
108
Bảng 44 Các trang thiết bị chủ yếu trong các gia đình cư dân tại chỗ xã Long Thọ 109
Bảng 45 Các trang thiết bị chủ yếu trong các gia đình cư dân tại chỗ xã Hiệp Phước 110
Bảng 46 Các trang thiết bị chủ yếu trong các gia đình cư dân tại chỗ xã Thạnh Phú 110
Bảng 47 Khu sinh hoạt văn hóa, giáo dục, thông tin
111
137
Biểu đồ số 1: So sánh thu nhập bình quân đầu người của ba xã
63
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình CNH, HĐH đất nước với sự đầu tư của các đối tác nước ngoài
đã hình thành ở nước ta các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao (gọi chung là KCN), trong đó tập trung vào các tỉnh Đông Nam Bộ vốn
đã có những tiềm lực công nghiệp trước 1975 như Bình Dương, Tp. HCM,
Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Từ các mô hình này, các KCN đã được mở
rộng ra các khu vực Trung và Bắc Bộ [77]. Các KCN đã tạo nên một nguồn
lực phát triển mới về sức sản xuất, góp phần đưa nước ta tham gia vào quá
trình phân công lao động quốc tế. Phương thức CNH bằng việc phát triển các
KCN đã cho phép khai thác tốt tài nguyên, nguồn lực lao động, sử dụng vốn,
khoa học công nghệ, trình độ tổ chức quản lý,... của các nước tiên tiến vào
quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị
thương phẩm trên thị trường. Ở bình diện các tỉnh, việc quy hoạch và phát
triển các KCN trên các địa phương đang được xem như một phương thức
nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện CNH, HĐH trên địa bàn.
Về mặt xã hội và văn hoá, việc hình thành các KCN đã tạo nên những
luồng di cư mới từ nông thôn ra đô thị, từ các tỉnh có nền kinh tế chậm phát
triển đến các vùng nông thôn của các tỉnh có nền kinh tế phát triển hơn. Từ đó
hình thành ở các địa phương có KCN những vấn đề văn hóa, xã hội mới: tốc
Nghiên cứu này lấy thực trạng biến đổi trong đời sống văn hóa của các
cộng đồng dân cư vốn là các cộng đồng nông nghiệp – nông thôn được
chuyển thành các cộng đồng mang tính đô thị do những áp lực của quá trình
CNH, HĐH ở Đồng Nai là việc xây dựng các KCN, làm đối tượng nghiên cứu
chủ yếu của mình.
Do chọn khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng nên một số vấn đề sau đây
sẽ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu, đó là:
10
- Sự biến đổi kinh tế - xã hội của các cộng đồng nông nghiệp - nông
thôn sang cộng đồng đô thị - công nghiệp vừa là cơ sở của các biến đổi đời
sống văn hoá, vừa là biểu thị của sự biến đổi đời sống văn hoá cộng đồng;
- Các biến đổi trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng, thể hiện qua các tôn
giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài; các tập tục thờ cúng
tại miếu, đình, đền…;
- Các biến đổi trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng thông qua nghiên cứu
các lễ hội cộng đồng, các nghi lễ mang tính cộng đồng;
- Các biến đổi trong đời sống văn hoá tại gia đình từ đời sống tâm linh
cho đến các lễ tục liên quan đến nghi lễ vòng đời người; nếp ăn, ở, mặc…
- Các xu hướng hưởng thụ/tiêu dùng văn hoá và những biến đổi của nó
dưới tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội như mức sống, học vấn…;
- Các biến đổi trong hệ thống giá trị chuẩn mực, lối sống, nếp sống.
- Các điều kiện và yếu tố tác động đến quá trình biến đổi đời sống văn
hoá; trong đó, đặc biệt chú ý đến các yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, sự
giao lưu và tiếp biến văn hoá giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng miền,
giữa nước ta với các nước trên thế giới…;
- Các vấn đề về quản lý và chính sách phát triển văn hoá có liên quan
trực tiếp đến sự phát triển các KCN, đến việc xây dựng đời sống văn hoá cơ
Ở bình diện lý thuyết chung, lịch sử nghiên cứu về biến đổi văn hóa đã
cung cấp những lý thuyết rất quan trọng cho các nghiên cứu thực địa về sự
biến đổi của các xã hội đang chuyển đổi, trong đó đáng lưu ý là công trình
Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa và sự duy trì những giá trị văn hóa truyền
thống của Ronald Inghart và Waye E. Baker [83], đã cung cấp một cái nhìn
tổng quan và các lý thuyết về sự biến đổi văn hóa trong các xã hội đang trong
tiến trình HĐH.
12
Biến đổi văn hoá đã được đề cập đến từ khá sớm bởi những nhà khoa
học khởi xướng ủng hộ thuyết tiến hoá văn hoá như E. Taylor (1891) hay L.
Morgan (1877) khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung
một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hoá. Theo mô hình phát triển
tiến hóa đơn tuyến này, những nền văn hoá ngoài phương Tây được nhìn nhận
là “kém văn minh”, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ của phong
tục, và vì vậy sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp,… đối ngược lại với văn hoá
phương Tây “văn minh”, năng động và biến đổi nhanh. Mô hình tiến hóa luận
đơn tuyến về sự phát triển và biến đổi của văn hóa này bị phản đối rộng khắp
trong giới Nhân học và đây cũng là tiền đề để khá nhiều lý thuyết mới về biến
đổi văn hoá ra đời và phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: Thuyết
Truyền bá văn hoá (đại diện là G.Elliot Smith 1911, W.Rivers 1914,…) cho
rằng vấn đề mấu chốt của biến đổi văn hoá là sự vay mượn hoặc sự truyền bá
của các đặc trưng văn hoá từ xã hội này sang xã hội khác; Thuyết Vùng văn
hoá (đại diện là C.L.Wissler 1923, A.L.Kroeber 1925,…) đưa ra các khái
niệm cơ bản về vùng văn hoá, loại hình văn hoá, trung tâm văn hoá, tổ hợp
văn hoá, sự biến đổi văn hoá diễn ra rất đa chiều và nhiều cấp độ tuỳ thuộc
vào việc cộng đồng đó là trung tâm hay ngoại vi hay vùng chuyển tiếp, môi
trường và sự chuyên môn hoá của cộng đồng đó là gì? Thuyết Tiếp biến văn
Cùng hướng nghiên cứu này, các biến chuyển văn hóa xã hội của các
cộng đồng nông thôn khi tiến trình CNH được đẩy mạnh, đã được nhiều học
giả trong nước và quốc tế quan tâm, trong đó có một số công trình đăng trong
tuyển tập Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách
tiếp cận nhân học [50], do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. HCM ấn hành
năm 2010.
Các nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Tp. HCM trong
chương trình giảm nghèo của Tp. Hồ Chí Minh, từ 1995 đến 2005 đã có
những nghiên cứu sâu về các cộng đồng nông thôn ven đô khi trở thành các
14
thị trấn, thị tứ hoặc bị đô thị tác động mạnh. Các nghiên cứu của Tôn Nữ
Quỳnh Trân về chủ đề này cũng cho chúng ta thấy được tiến trình phát triển
của các làng xã ven đô, khi bị mất đất cho các nhu cầu ĐTH, họ đã phải đối
mặt với “sức hút” của đô thị, đã chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp như
thế nào, phát triển được cái gì, đang bắt gặp những khó khăn nào? [118].
Năm 2011, Nguyễn Văn Dân đã công bố công trình Con người và văn
hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập [20] đã nghiên cứu về con
người và văn hóa Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, phân tích các nhân tố
tác động, dự báo những xu hướng phát triển. Công trình này đã cung cấp cho
luận án một cái nhìn tổng quát về văn hóa thời kỳ đổi mới.
Các công trình này đặc biệt chú trọng nghiên cứu đến các tác động của
nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hoá của các cộng đồng dân cư,
chỉ ra các xu hướng phát triển của văn hoá trong bối cảnh kinh tế thị trường
và mở cửa. Các nghiên cứu này chủ yếu được triển khai trên cách tiếp cận xã
hội học hay nhân học văn hoá - xã hội, với các nghiên cứu của Viện Xã hội
học (Tô Duy Hợp, Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường…), Viện Văn hoá Thông tin, bao gồm các công trình Văn hoá nông thôn trong phát triển
(Lương Hồng Quang, 1997 - 1999) [79], Vai trò hệ thống truyền thông đại
năm 1995, Làng Bến Cá xưa và nay [39], xuất bản năm 1998. Hai công trình
này đều là ấn phẩm của nhà xuất bản Đồng Nai. Công trình của Diệp Đình
Hoa cung cấp một bức tranh mô tả về những cộng đồng nông thôn Việt
phương Nam, với tất cả thăng trầm của nó trong lịch sử, với các biểu hiện văn
hóa vật chất và tinh thần của các cộng đồng cư dân Việt trong một vùng dân
cư mang tính hỗn dung văn hóa. Đây là những mô tả dân tộc học rất công
phu, chi tiết, có thể làm cơ sở tư liệu đầu vào khi các nghiên cứu về biến đổi
văn hóa làng xã Việt tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ CNH, HĐH.
Về nhóm tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài, có thể kể tới công trình
nghiên cứu của nhóm tác giả do Lương Hồng Quang (chủ biên). Năm 1998,
16
Viện Văn hóa Thông tin đã nghiên cứu về làng Hiệp Phước, huyện Nhơn
Trạch - một làng trong đối tượng khảo sát của đề tài. Đây là một nghiên cứu
nhỏ, chỉ tập trung vào một xã, do đó chưa thể đại diện được tính đa dạng của
sự phát triển ở Đồng Nai, nhất là tính đến thời điểm hiện nay. Nhưng vào thời
điểm đó, làng Hiệp Phước là một làng thuần nông nghiệp, với tất cả những
biểu hiện của một văn hóa nông nghiệp - nông dân và nông thôn, đã là một tư
liệu đầu vào quan trọng để có thể thấy được bức tranh của sự biến đổi văn hóa
của một làng quê thuần nông.
Đầu những năm 2000, trong khuôn khổ chương trình khoa học công
nghệ cấp nhà nước về phát triển văn hoá - con người và nguồn nhân lực, đề
tài KX 05.03 về Đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá vùng đô thị
và KCN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá được triển khai ở Hà
Nội, Đà Nẵng, Tp. HCM và tỉnh Bình Dương, đã cung cấp những phương
pháp luận và cách tiếp cận vấn đề trong nghiên cứu đời sống văn hoá KCN và
đô thị, nhất là từ góc độ nghiên cứu phát triển chính sách quản lý đời sống văn
hoá. Đây là đề tài liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án,
phần đời sống văn hóa tinh thần của công nhân KCN sinh sống trong các cộng
đồng ven KCN. Đó chưa phải là các nghiên cứu trực tiếp về các cộng đồng
nông nghiệp – nông dân khi các KCN hình thành trên mảnh đất của mình mà
là nghiên cứu trực tiếp vào người công nhân các KCN.
Về các đề tài có liên quan tới công nhân KCN, đặc biệt là các vụ đình
công của công nhân nhập cư và công nhân tại các cộng đồng địa phương tại
chỗ. Vấn đề này gắn liền với các cộng đồng dân cư nông thôn có đất, được
trưng dụng vào việc xây dựng các KCN, tiêu biểu là các công trình của Chang
Hee Lee xuất bản năm 2006 về Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp
lao động tại Việt Nam [146]; của Jang Jung Min Sunoo: Một số giải pháp
phòng ngừa đình công tại các doanh nghiệp ở Việt Nam [150], tổ chức lao
động quốc tế xuất bản năm 2007. Các công trình này đã báo động những bất
18
ổn về mặt văn hóa xã hội của các cộng đồng dân cư “hội” vào các KCN. Một
mặt, các KCN luôn phải thiếu nhân công hay nhân công không ổn định,
nhưng mặt khác, các xã có KCN sẽ phải đối mặt với những thách thức về
lượng người sinh sống gia tăng đột biến.
Có một số hội nghị, hội thảo liên quan tới sự phát triển các KCN cũng
như các vấn đề về đời sống văn hóa xã hội của KCN. Năm 2010, Bộ Kế
hoạch Đầu tư đã phối hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam tổ chức hội
thảo: Xây dựng môi trường sống cho công nhân xung quanh các KCN tại Việt
Nam, trong đó ghi nhận những đóng góp của các cộng đồng dân cư nông thôn
vào việc cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho bản thân công nhân và gia
đình của họ. Trong năm 2011, Bộ Kế hoạch Đầu tư cũng đã tổ chức hội thảo:
Vấn đề lao động và điều kiện sống của công nhân KCN, khu kỹ thuật trong
khuôn khổ chương trình tổng kết đánh giá 20 năm phát triển KCN, khu kỹ
thuật đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hội thảo chỉ ra những mối liên
1780/QĐ-TTg ngày 12/10/2011, với mục tiêu xây dựng đội ngũ công nhân có
nếp sống văn hóa lành mạnh, có tác phong làm việc công nghiệp, năng suất,
chất lượng và hiệu quả. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2015 sẽ có 70% công
nhân và người sử dụng lao động ở các KCN được phổ biến pháp luật về xây
dựng đời sống văn hoá, 100% địa phương (có KCN) hoàn thành việc phê
duyệt quy hoạch phát triển thiết chế văn hoá, thể thao phục vụ công nhân.
Phấn đấu 50% công nhân ở các KCN tham gia các hoạt động văn hoá, thể
thao và 50% “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hoá”. Các chỉ tiêu trên sẽ tiếp tục
được duy trì, củng cố và nâng cao để đến năm 2020, 100% công nhân và
người sử dụng lao động ở các KCN được phổ biến pháp luật về xây dựng đời
sống văn hoá. Lượng công nhân ở các KCN tham gia các hoạt động văn hoá,
thể thao được nâng lên 70%, đặc biệt là số “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hoá”
nâng lên 80%.
20
Để đạt các mục tiêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tổ chức phát
động, đăng ký thi đua xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các địa phương
(có KCN). Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các doanh
nghiệp trong việc thực hiện các chính sách pháp luật về lao động, bảo hiểm và
các chế độ an sinh xã hội đối với công nhân. Thực hiện nghiêm việc phê
duyệt phát triển các KCN phải có quy hoạch xây dựng nhà ở và các công trình
văn hóa, xã hội phục vụ công nhân làm việc ở các KCN. Chủ các doanh
nghiệp phải cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội trong việc chăm lo xây
dựng đời sống văn hóa của công nhân.
Với các công trình nghiên cứu có liên quan cũng như các công trình
liên quan trực tiếp đến đề tài, chúng ta có thể thấy những điểm cần lưu ý sau:
- Với chủ đề biến đổi văn hóa của cư dân KCN tỉnh Đồng Nai, các
nghiên cứu về các cộng đồng nông thôn trước tác động của tiến trình công
nghiệp - nông thôn sau khi bị cắt một phần đất nông nghiệp, đất thổ cư để xây
dựng các KCN tập trung, đã bị biến đổi như thế nào trong một bối cảnh phát
triển nhanh chóng, phát triển “nóng”, mang tính “cưỡng bức” từ trên xuống.
- Thông qua sự khảo sát này, cùng với các trường hợp khác mà tác giả
luận án đã thâm nhập trong quá trình công tác tại tỉnh, khái quát lên một bức
tranh phát triển đời sống văn hóa của những cộng đồng dân cư có KCN tập
trung, với tất cả những lợi thế, hạn chế, thời cơ và thách thức đối với họ.
- Xây dựng một số giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn để góp
phần vào việc hình thành các quan điểm, cơ chế chính sách phát triển văn hóa
của các cộng đồng nông thôn Đồng Nai có KCN, từ đây, cung cấp các luận
giải khoa học và căn cứ thực tiễn cho việc quản lý văn hóa nông thôn ở tầm vĩ mô.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn này được phát triển trên cơ sở các luận điểm
của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH đất nước, về quá trình xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó
22
nhấn mạnh đến vai trò của phát triển kinh tế, vị trí của việc phát triển các lĩnh
vực xã hội – văn hoá như là nền tảng của sự phát triển.
Luận án cũng dựa vào một số lý thuyết của xã hội học và nghiên cứu văn
hoá khi đề cập tới vấn đề biến chuyển văn hoá, trong đó nhấn mạnh đến lý
luận cho rằng sự biến đổi văn hoá cần được nghiên cứu trong những bối cảnh
lịch sử, kinh tế, chính trị và xã hội cụ thể, trong những tương tác văn hoá giữa
truyền thống và hiện đại, giữa trong nước và quốc tế. Trong các lý thuyết biến
đổi văn hóa này, cần cân bằng hai quan điểm: Những nhà lý thuyết hiện đại
hoá, ví dụ như Ronald Inglehart và Wayne E. Baker trong công trình: Hiện
đại hoá, biến đổi văn hoá và sự duy trì những giá trị văn hoá truyền thống
[84] đã cho rằng: từ Karl Marx tới Daniel Bell đã cho rằng sự phát triển kinh
các hiện tượng văn hóa tiêu biểu của 3 cộng đồng dân cư trong nhiều năm,
qua đó, thấu hiểu đời sống và những biến đổi của cư dân tại chỗ. Các quan sát
này được tiến hành trước khi làm luận án, do tác giả có thời gian dài công tác tại
các địa phương, cũng như sau này, trong suốt quá trình thực hiện viết luận án.
- Phương pháp chuyên gia: Trực tiếp xin sự tư vấn của các chuyên gia
về phát triển KCN, về văn hóa nông thôn, về phát triển văn hóa gắn với phát
triển kinh tế xã hội, bao gồm các chuyên gia của tỉnh và trung ương.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu (16 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo
(14 trang) và Phụ lục (40 trang), luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Phát triển các KCN trong tiến trình CNH, HĐH ở tỉnh Đồng
Nai (45 trang).
Chương 2: Các biến đổi trong đời sống văn hoá của các cộng đồng dân
cư KCN (47 trang).
Chương 3: Phương hướng, giải pháp về xây dựng đời sống văn hóa cho
các cộng đồng KCN (33 trang).
24
Chương 1
PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG
TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH ĐỒNG NAI
1.1. Các cơ sở lý thuyết về biến đổi văn hóa
Các lý thuyết về biến đổi văn hóa được hình thành chủ yếu dựa trên các
lý thuyết về biến đổi xã hội được các học giả phương Tây xây dựng trong
ngành nhân học và xã hội học, ở đó biến đổi xã hội là một quá trình qua đó
các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội
lặp lại mãi trong những chu kỳ không bao giờ kết thúc. Các nhà khoa học và
sử học trước đây nhìn chung đều phản đối những tư tưởng này, mặc dù họ cho
rằng các xã hội có những chu kỳ sống của nó, và mỗi xã hội được sinh ra
trưởng thành, rồi sau đó biến mất. Một số nhà lý thuyết, như Amold Toybee
lại có quan điểm tương tự, nhưng ông phản đối "sự không thể tránh được" của
sự suy tàn và cho rằng "những nỗ lực được tạo nên bởi con người có thể cho
phép văn minh hóa đối với sự sống". Trong khi đó Pitirim Sorokin lại đưa ra
lý thuyết chu kỳ về sự biến đổi với một bước tiến xa hơn, và cho rằng sự văn
minh hóa được dao động trong ba kiểu của "những trạng thái tâm lý" hoặc
rộng hơn - kiểu hệ tư tưởng, kiểu cảm giác và kiểu lý tưởng - trong tất cả các
hệ thống văn hóa, sự biến đổi xuất hiện khi mô hình cụ thể của suy nghĩ nắm
được giới hạn logic của nó.
(2) Các quan điểm tiến hóa: với hai mô hình kinh điển và quan điểm tiến
hóa mới. Mô hình kinh điển là những mô hình được lấy từ khoa học sinh học,
đã giành được vị trí ở thế kỷ XIX, nhiều nhà xã hội học đã tán thành với lý
thuyết phổ biến được gọi là sự tiến hóa một chiều, sự tiến hóa theo lộ trình
dọc, chỉ tiến về phía trước chứ không lùi hoặc đi ngược về phía sau cho rằng
tất cả các hình thức sống, tất cả các xã hội đều tiến hóa từ những hình thức