PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án:
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, được Mác phản ánh trong
bộ "Tư bản", là một mẫu hình, một con đường chuyển nền sản xuất
tiểu thủ công nghiệp truyền thống và nông nghiệp ở nhiều quốc gia,
của nhiều dân tộc lên thành nền đại công nghiệp, biến cải nền sản
xuất hàng hoá nhỏ thành nền sản xuất lớn tư bản hiện đại, trong đó
nổi bật lên là vai trò của hiệp tác và phân công, vai trò của các ngành
thương mại và dịch vụ.
Trong phần IV, phần nói về "sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối"
(Hay ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản), C.Mác trình bày
quá trình hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ hiệp
tác giản đơn đến giai đoạn máy móc và đại công nghiệp. Người đã
trình bày sự phát triển của quá trình phân công và hợp tác hoá, sự
phát triển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá; liên kết
những người sản xuất độc lập từ kiến tạo quan hệ trao đổi kết quả lao
động (sản phẩm), đến chỗ kết hợp hiệp tác trực tiếp ngay trong quá
trình sản xuất (quá trình lao động) với nhau; từ chỗ hợp tác giữa
những người lao động trong một xưởng thợ, đến chỗ hiệp tác và kết
hợp giữa các công trường thủ công thành công trường thủ công lớn
hơn, giữa các công ty, xí nghiệp thành các công ty, xí nghiệp lớn hơn,
làm cho quy mô của các doanh nghiệp ngày một lớn và quá trình tích
tụ và tập trung tư bản ngày càng mạnh mẽ. Quá trình đó được diễn ra
từ những quan hệ nội tại, phát triển từ thấp đến cao, từ quan hệ ban
đầu ngẫu nhiên lỏng lẻo cho đến lúc bền chặt cố kết và hoà hợp với
nhau tạo nên một chỉnh thể ngày một lớn hơn.
Trong các tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga",
"chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" và một
loạt tác phẩm bàn về "chính sách kinh tế mới", Lênin cũng vạch ra các
quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn mới và con
đường đưa nền sản xuất hàng hoá nhỏ lên chủ nghĩa xã hội thông
có Nghị quyết của Hội nghị trung ương 3 (khoá VI) với chủ trương
phát triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, thì liên kết kinh tế
đã trở thành một hiện tượng "thường nhật" của các doanh nghiệp và ở
các địa phương. Từ đó, trên các sách, báo, tạp chí, hội nghị, đề tài
khoa học, đã có không ít tác giả bàn đến vấn đề liên kết kinh tế.
Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống về bản chất, nội dung, bước đi và triển vọng
của quá trình liên kết kinh tế ở nước ta. Hơn nữa, về các vấn đề cơ
bản này, còn có những ý kiến khác nhau.
Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta
đã quyết tâm chuyển nền kinh tế từ hoạt động trong cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở rộng
quan hệ kinh tế với bên ngoài. Thực chất của công cuộc đổi mới kinh
tế này là nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu,
đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân và tìm ra con đường
phát triển kinh tế ngắn nhất.
Thực hiện chủ trương đổi mới đó, đã, đang và sẽ xuất hiện nhiều
hình thức kinh tế năng động, nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất và
thương mại khác nhau, thuộc nhiều hình thức sở hữu thuần khiết
hoặc đan xen nhau. Hình thức quan hệ kinh tế chủ yếu và ngày càng
trở nên phổ biến giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng như trong
một doanh nghiệp là quan hệ liên kết sản xuất và thương mại. Đến
lượt mình, nó làm xuất hiện những loại hình doanh nghiệp và quan hệ
kinh tế mới phức tạp hơn, nhưng hiệu quả kinh tế cao hơn, góp một
phần nhất định vào việc đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi sự
khủng hoảng, trì trệ, giữ vững sự ổn định và phát triển.
Tuy nhiên trong sự vận động, chuyển hoá, "bung ra" ban đầu và
- Phân tích, vạch rõ phương hướng, những nguyên tắc điều kiện
cần thiết và kiến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển
của các quan hệ liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại, góp
phần làm cho nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng.
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng chính được nghiên cứu trong bản luận án này là các
quan hệ liên kết kinh tế dưới góc độ kinh tế chính trị học. Nghĩa là,
bản luận án tập trung vào các vấn đề: cơ sở hình thành, bản chất, xu
hướng vận động, những hình thức, những điều kiện cần thiết và
những giải pháp thích hợp thúc đẩy quá trình phát triển liên kết kinh tế
giữa sản xuất và thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong các mối quan
hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp sản xuất và thương mại (một
số đơn vị tiêu biểu), cùng các mối quan hệ giữa các khâu sản xuất và
thương mại, dịch vụ trong một doanh nghiệp.
- Tác giả luận án sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật,
phương pháp hệ thống, kết hợp chặt chẽ các phương pháp minh hoạ,
đối chiếu so sánh, kết hợp kinh nghiệm trong nước với kinh nghiệm
thế giới, lịch sử và hiện đại. Đồng thời cũng vận dụng tổng hợp các
phương pháp của công việc tổng kết thực tiễn như điều tra chọn mẫu,
phân tích, khái quát... để làm sáng tỏ các vấn đề.
4. Đề tài đã được nghiên cứu đến đâu:
Như ở phần trên chúng tôi đã trình bày, trong vài chục năm qua,
vấn đề liên kết kinh tế đã được nhiều nhà kinh tế học ở các nước xã
hội chủ nghĩa bàn đến. Nhiều tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt.
Các cuốn sách này chủ yếu trình bày quá trình phát triển các mối quan
hệ liên kết kinh tế trên phạm vi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới,
liên kết khoa học và sản xuất, liên kết nông- công nghiệp ở Liên Xô
cũ. Đáng chú ý là các công trình sau:
sư Hoàng Kim Giao làm chủ nhiệm và tác giả bản luận án là một
thành viên. Đề tài nghiệm thu tháng 5 năm 1989.
- Đề tài khoa học cấp Bộ "Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt
động các hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong
sản xuất-kinh doanh công nghiệp" do Phó giáo sư Nguyễn Đình Phan
làm chủ nhiệm. Đề tài nghiệm thu tháng 5-1992.
Các công trình trên chưa đề cập nhiều đến vấn đề liên kết kinh tế
giữa sản xuất và thương mại, đặc biệt trong cơ chế thị trường có sự
điều tiết của Nhà nước.
5. Đóng góp mới của luận án:
- Bằng tư duy lý luận kết hợp logic và lịch sử, tác giả bản luận án
trình bày một cách tương đối hệ thống về quá trình hình thành và phát
triển các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, cố gắng làm
rõ bản chất của liên kết kinh tế.
- Là bản luận văn đầu tiên trình bày và phân tích thực trạng và xu
hướng vận động của các quan hệ liên kết kinh tế giữa sản xuất và
thương mại ở nước ta trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường.
- Cuối cùng, đóng góp mới của tác giả bản luận án là những
kiến nghị về những giải pháp ở tầm kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy
quá trình liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại, đồng thời
góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
6. Phần kết quả nghiên cứu:
- Kết cấu của luận án:
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, bản luận án được trình bày
thành ba chương:
Chương I: Sự hình thành, phát triển của quan hệ liên kết kinh tế
trong nền kinh tế thị trường.
nền kinh tế thị trường hiện đại, luôn luôn có những doanh nghiệp mới
ra đời, một số doanh nghiệp thì bị phá sản, bị thôn tính, sát nhập và
một số khác thì ngày càng phát triển lớn mạnh, theo quy luật mà
C.Mác gọi là quy luật "tích tụ và tập trung tư bản chủ nghĩa" hay quy
luật "tích luỹ tư bản chủ nghĩa". Chính quy luật tích luỹ tư bản chủ
nghĩa chịu sự chi phối của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường.
Phân công lao động làm cho quá trình tái sản xuất xã hội ngày
càng chia nhỏ thành nhiều khâu, nhiều công đoạn và rất nhiều người
sản xuất hàng hoá khác nhau đã chuyên tâm vào một số công việc,
một số sản phẩm, tức là quá trình chuyên môn hoá. Chuyên môn hoá
ngày càng sâu sắc làm xuất hiện ngày càng nhiều các loại doanh
nghiệp khác nhau về chức năng, về sản phẩm. Sự xuất hiện các
doanh nghiệp độc lập, chuyên môn hoá đã buộc họ phải quan hệ với
nhau, lúc đầu thông qua trao đổi sản phẩm trên thị trường. Các mối
quan hệ trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp ban đầu diễn ra
một cách ngẫu nhiên. Các doanh nghiệp là những chủ thể sản xuất và
kinh doanh hàng hoá luôn luôn có nhu cầu trao đổi hàng hoá với nhau.
Hàng hoá "có thể trao đổi được là nhờ một hành vi tự nguyện của
những người chủ của chúng, muốn nhượng chúng lại cho nhau"(4). Vì
động cơ của các chủ doanh nghiệp là sản xuất - kinh doanh hàng hoá
nhằm thu lợi nhuận, cho nên họ luôn luôn tìm đến nhau và đến với
người tiêu dùng để trao đổi, tiêu thụ hàng hoá của mình. Hành vi
mang tính "tự nguyện", nhưng là bắt buộcđối với mọi người sản xuất
hàng hoá nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng, trở thành
hành động thường xuyên của chúng. Và "sự không ngừng lặp đi lặp
lại của trao đổi đã làm cho nó trở thành một quá trình xã hội đều đặn",
(4) và nhờ có những người khác muốn tiêu dùng chúng. Một loạt các
cuộc trao đổi (bán-mua) sản phẩm ngẫu nhiên giữa các doanh nghiệp,
bạn hàng bất kỳ cứ diễn ra liên tiếp trên thị trường. Sau rất nhiều lần
quan hệ trao đổi khi thì với doanh nghiệp này, khi thì với doanh nghiệp
hệ liên kết rất chặt chẽ với doanh nghiệp B, nhưng chỉ thực hiện
những quan hệ hợp tác tương đối lỏng lẻo trên một vài lĩnh vực, trong
một quãng thời gian với nhất định với doanh nghiệp C, đồng thời lại
phải tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay- mượn... một cách
ngẫu nhiên, nhất thời với các doanh nghiệp D, E, F... và cũng có thể
phải cạnh tranh "sống mái" với các doanh nghiệp N, K, H... và... Trong
vòng xoáy hoạt động kinh tế đan xen ấy, các quan hệ kinh tế nói
chung và quan hệ liên kết kinh tế nói riêng, diễn ra chằng chịt với nhau
và vận động phát triển, chuyển hoá không ngừng.
Cùng với đà phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là phân
công lao động xã hội của chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh, của
sự vận động biến đổi của thị trường, đồng thời nhằm tăng cường sức
mạnh cạnh tranh, hạn chế những cạnh tranh khốc liệt, các doanh
nghiệp từ chỗ chỉ tiến hành quan hệ trao đổi, mua-bán, vay-mượn...
nhất thời ngẫu nhiên, tiến lên ký kết thoả thuận hợp đồng trao đổi
cung cấp các sản phẩm thường xuyên cho nhau và sau đó tiến đến
thoả thuận ký kết hợp tác, phân công sản xuất, kinh doanh các loại
sản phẩm khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các giai đoạn hợp tác
nói trên có thể tương ứng với các hình thức Các-ten (Cartel) và Xanhđi-ca (Syndicate) mà V.I. Lênin và các nhà kinh tế học trước và sau
ông đã nêu lên (xem 25 + 83). Như vậy, về phương diện logic và lịch
sử, quá trình liên kết kinh tế diễn ra trong lưu thông trao đổi để làm
nhiệm vụ giải quyết "đầu vào" (input) và đầu ra (output) cho các doanh
nghiệp, tiếp đến là sự liên kết giữa lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực
thương mại, sau cùng là sự liên kết chính ngay trong quá trình sản
xuất. Nếu phân định theo lĩnh vực (Sector) thì quá trình liên kết được
phát triển như sau:
- Diễn ra trong bản thân lĩnh vực thương mại
- Liên kết giữa sản xuất và thương mại
năng về vốn thiết bị, công nghệ, về tình hình thị trường, các doanh
nghiệp tiến tới ký kết thoả thuận góp vốn để thành lập một doanh
nghiệp mới gọi là Xí nghiệp liên doanh hoặc Công ty liên doanh. Xí
nghiệp "liên doanh" (Joint venture) hay "hợp doanh" là sự "hùn vốn",
góp vốn của hai hoặc nhiều doanh nhân, doanh nhiệp nhỏ nhằm tạo
thành một doanh nghiệp có vốn lớn hơn để kinh doanh. Cũng có thể
chỉ là một phần vốn nào đó của các doanh nghiệp độc lập góp vào để
thành lập một doanh nghiệp mới hoàn toàn, chỉ để sản xuất - kinh
doanh ở một vài ngành nghề, lĩnh vực khác hẳn so với những lĩnh vực
đang hoạt động của các doanh nghiệp thành viên.
Xí nghiệp liên doanh có Hội đồng quản trị (bao gồm chủ tịch, phó
chủ tịch và các uỷ viên) đại diện cho các doanh nghiệp thành viên và
ban giám đốc để điều hành hoạt động của Xí nghiệp. Ban giám đốc có
thể là những nhà quản lý của các doanh nghiệp thành viên, cũng có
thể là những nhà quản lý chuyên nghiệp do Hội đồng quản trị liên
doanh thuê. Các bên liên doanh cùng nhau chịu rủi ro, lỗ, lãi đến cùng
và cùng nhau thoả thuận phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn liên
doanh. Có thể các thành viên vẫn tồn tại và hoạt động độc lập. Chỉ có
Xí nghiệp liên doanh là hoạt động dưới sự điều hành chung thông qua
Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Tuỳ theo khả năng và nhu cầu về
vốn, thiết bị, công nghệ, yêu cầu của thị trường đối với các bên tham
gia liên doanh, cũng như tuỳ thuộc vào trình độ kinh tế, luật pháp của
từng nước mà các bên tham gia liên doanh (góp vốn) có thể thành lập
các doanh nghiệp với các hình thức như: "Xí nghiệp chung vốn"
(Partnership), hoặc "Công ty" (company), hay "Công ty trách nhiệm
hữu hạn" (Co.Ltd). (xem 3 + 9 + 32 + 57 + 84 + 94).
Cùng với đà tiến bộ của lực lượng sản xuất, trước hết là khoa học
và công nghệ, sau một quá trình hợp tác, quan hệ gắn bó lâu
dài, đồng thời nhằm mục đích tăng cường tiềm lực cạnh tranh trên thị
trường ngày càng mở rộng phạm vi, các doanh nghiệp đã tự nguyện
kết hợp, hợp nhất lại hình thành một doanh nghiệp mới, có quy mô lớn
hơn, tạo ra khả năng tiếp thu, đổi mới công nghệ kỹ thuật tiến bộ,
nâng cao năng suất lao động, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, có
sức cạnh tranh lớn trên thị trường. Khi trở thành doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân mới, lớn hơn, các doanh nghiệp này lại tiến hành
hoạt động và quan hệ kinh tế với nhiều loại hình từ thấp lên cao với
rất nhiều doanh nghiệp khác. Chúng lại tiến hành quan hệ trao đổi ,
buôn bán lẫn nhau và với các doanh nghiệp khác một cách ngẫu
nhiên, nhất thời tiến lên quan hệ hợp tác trao đổi sản phẩm một cách
thường xuyên, ổn định, lâu dài, quan hệ phân công hợp tác trong sản
xuất-kinh doanh, liên doanh và liên hợp, hợp nhất… Quá trình đó luôn
luôn vận động, biến đổi, phát triển theo những vòng xoáy trôn ốc, làm
cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, quy mô của các doanh
nghiệp ngày càng mở rộng, công nghệ, kỹ thuật, năng lực quản lý
càng ngày càng tiến bộ, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế ngày
càng nâng cao và sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn mạnh.
Cứ thế sẽ vận động mãi không ngừng, làm cho nền kinh tế ngày càng
phát triển, trình độ xã hội hoá ngày càng nâng cao.
Quá trình liên kết kinh tế ở giai đoạn liên hợp hoá diễn ra liên tục
nếu không bị giới hạn bởi điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nào đó
ràng buộc sẽ có xu hướng liên hợp hoá theo ngành rất cao hình thành
những công ty, liên hiệp ngành độc quyền. Nghĩa là quá trình tập trung
hoá về phương diện tổ chức sản xuất-kinh doanh ở quy mô rất cao,
tạo ra những tổ hợp độc quyền trong một ngành, lĩnh vực nào đó.
Nhưng bản thân sự độc quyền lại kìm hãm sự phát triển kinh tế. Vì thế
ngày nay ở rất nhiều nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới người
ta ban hành luật chống độc quyền. Luật đó sẽ quy định giới hạn doanh
thu về một loại sản phẩm, một lĩnh vữc hoạt động nào đó chỉ chiếm tỷ
khác nhau. Vào thời kỳ này ở Anh, người ta thấy những công trường
thủ công làm ra tư liệu sản xuất gắn liền với công trường thủ công làm
ra sản phẩm. Những xí nghiệp thuỷ tinh lớn ở Anh đều tự mình làm
lấy những nồi nấu bằng đất chịu lửa. Có những công trường thủ công
làm pha lê kết hợp với công trường thủ công mài thuỷ tinh và công
trường thủ công đúc đồng (xin xem 4).
Vào cuối thế kỷ 19, các hình thức kinh tế theo chiều ngang như
Các-ten, Xanh-di-ca, tờ-rớt là chiếm ưu thế. Các-ten lầ hình thức liên
kết kinh tế thấp nhất. Các doanh nghiệp tham gia vào Các-ten vẫn
hoàn toàn độc lập trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và họ thoả
thuận với nhau về giá cả, thị trường tiêu thụ và khối lượng sản phẩm
sản xuất ra. Các-ten nổi tiếng nhất là Các-ten dầu lửa đã thống nhất
những công ty lớn nhất thế giới để giữ giá dầu nhằm thu nhiều lợi
nhuận cho những giếng dầu ở Tếch-dát (Texas). Gần đây nổi tiếng là
Các-ten của các nước dầu lửa (OPEC). Trong các Xanh-di-ca thì sản
xuất là hoạt động độc lập của các doanh nghiệp, còn tiêu thụ do một
ban quản trị của tổ chức đảm nhiệm. So với Các-ten, nó là hình thức
liên kết kinh tế cao hơn. Tờ-rớt là hình thức liên kết kinh tế cao nhất
vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Nó liên kết toàn bộ các hoạt động
sản xuất, tiêu thụ và tài chính của doanh nghiệp thành viên, dưới dự
điều hành của Ban quản trị Tổ chức. Mỗi doanh nghiệp tham gia Tờrớt trở thành như một cổ đông và hưởng lợi nhuận theo cổ phần đóng
góp. Nó trở thành một công ty cổ phần khổng lồ duy nhất thống trị
trong một ngành nào đó, là những tổ chức độc quyền lũng đoạn thị
trường các nước và thế giới. Vào thời kỳ này ở Đức thì hình thức Cácten chiếm ưu thế, ở Pháp thì hình thức Xanh-đi-ca chiếm ưu thế, còn
ở Mỹ thì hình thức Tờ-rớt lại chiếm ưu thế (xin xem 25 + 44).
Từ cuối những năm 20 của thế kỷ này trở đi ở Mỹ và một số nước
tư bản chủ nghĩa khác liên kết kinh tế theo chiều dọc trở nên chiếm ưu
thế. Những liên minh (union) kinh tế giữa sản xuất và tiêu thụ của một
+ 44 + 61 + 62 + 63 + 78). Để cạnh tranh trên thị trường thế giới, ở
hầu khắp các nước trên thế giới, các doanh nghiệp đều liên kết với
nhau dưới hình thức "Hiệp hội". Hiệp hội là những tổ chức liên kết
kinh tế dọc theo ngành bao gồm các nhà sản xuất và tiêu thụ trong
một ngành hàng nào đó. Nó là một tổ chức liên kết kinh tế theo "mô
hình cấu trúc lỏng" (Slack - Structure Model). Các doanh nghiệp tham
gia vào Hiệp hội vẫn hoạt động một cách độc lập với pháp nhân đầy
đủ. Hiệp hội được Nhà nước thừa nhận và được tham gia với Nhà
nước trong việc điều hoà phối hợp thị trường trong và ngoài nước
thông qua việc cấp hạn ngạch (quota) xuất - nhập khẩu. Các doanh
nghiệp tham gia và Hiệp hội được thảo luận thống nhất giá cả thị
trường, phối hợp hoạt động sản xuất - kinh doanh và được phân phối
quota xuất khẩu vào thị trường một nước nào đó. Có rất nhiều Hiệp
hội hiện đang tồn tại và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nó như:
CHEMICAL INDUSTRIES ASSOCIATION OF JAPAN, PETROLIUM
ASSOCIATION OF BRITIAN … (Xem: 85 + 87 + 89 + 90 + 92).
Chúng ta vừa trình bày về phương diện logic và lịch sử quá trình
hình thành và phát triển của liên kết kinh tế, thông qua những nấc
thang của những mối quan hệ, những hình thức liên kết kinh tế và
được thể hiện bởi những hình thức tổ chức và quan hệ kinh doanh.
Vậy thì bản chất hay thực chất và những đặc trưng chủ yếu của liên
kết kinh tế là gì? Chúng ta sẽ chuyển qua phần tiếp theo.
1.2 Bản chất và những đặc trưng chủ yếu của liên kết kinh tế
a/. Chúng ta nhận thấy rằng, cho đến nay, trong hệ thống dịch
thuật và giữa các nhà khoa học hầu như thống nhất coi danh từ quốc
tế tương đương của "liên kết" là integration. Trong hệ thống thuật ngữ
kinh tế quốc tế, integration (hay integratio) nguyên là một từ gốc latinh,
có nghĩa là sự góp vào, hợp nhất, hoà hợp, phối hợp, sát nhập nhiều
doanh nghiệp. Quá trình liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp diễn ra
trước hết trong lưu thông, trao đổi sản phẩm. Nó được đánh dấu bởi
sự hợp tác trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Sự bán - mua,
trao đổi hàng hoá không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, nhất thời
giữa các doanh nghiệp mà đã trở nên thường xuyên, liên tục, có hợp
đồng kế hoạch từ trước và ổn định bạn hàng trong một thời gian
tương đối dài. Rõ ràng là, vào thời điểm này, quan hệ kinh tế giữa các
doanh nghiệp đã chuyển biến về chất, nâng tầm quan hệ lên một trình
độ cao hơn, thường xuyên, ổn định và cố kết hơn, có sự thoả thuận
hợp tác lâu dài và bền vững hơn.
Quá trình đó được phát triển lên một giai đoạn cao hơn, tức là sự
hợp tác diễn ra ngay trong quá trình sản xuất. Giai đoạn này cũng
được phát triển qua nhiều nấc thang của nó. Bắt đầu chỉ là sự thoả
thuận phân công chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm, chi tiết, bán
thành phẩm hoặc kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư thiết
bị giữa các doanh nghiệp với nhau, hoặc là cùng nhau góp vốn để
thực hiện một dự án, một nhiệm vụ chung cho các doanh nghiệp, như
đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa
học-kỹ thuật, tìm nguồn nguyên liệu mới, khai thác thị trường, nguồn
tài nguyên và lao động dồi dào… Quá trình liên kết kinh tế giữa các
doanh nghiệp còn phát triển lên đến những giai đoạn cao hơn đó là
liên hiệp, hợp nhất các doanh nghiệp lại với nhau hình thành một
doanh nghiệp thống nhất lớn hơn.
Nó là một quá trình kinh tế với nhiều hình thức cụ thể luôn luôn
vận động và phát triển, là những hình thức vận động của quan hệ sản
xuất xã hội thích ứng với trình độ của lực lượng sản xuất ở từng giai
đoạn trong nền kinh tế hàng hoá. Nó phản ánh các mối quan hệ về
hợp tác, liên doanh và liên hợp. Khi quá trình liên kết đạt tới việc sát
điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý. Không thể áp đặt về phương
diện tổ chức từ bên ngoài, hoặc từ bên trên bất kỳ một hình thức tổ
chức liên kết kinh tế theo ý muốn chủ quan.
b. Xem xét trên những khía cạnh khác nhau ta thấy liên kết kinh tế
có những nét đặc trưng sau:
Một là, liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan. Nó
phản ánh những mối quan hệ nội tại khách quan xuất phát từ những
lợi ích kinh tế khách quan giữa những chủ thể kinh tế. Đồng thời nó
phản ánh một quá trình vận động phát triển tự nhiên của lực lượng
sản xuất xuất phát từ trình độ và phạm vi của sự phân công lao động
xã hội, chuyên môn hoá sản xuất-kinh doanh.
Hai là, chúng là những quan hệ kinh tế đạt đến trình độ gắn bó
chặt chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài, thông qua những thoả thuận
hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết. Khác với cách quan
niệm có tính chất "phổ thông", "dân dã", không phải tất cả các quan hệ
kinh tế theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp đều là liên kết kinh tế.
Những quan hệ kinh tế nhất thời, những quan hệ buôn bán trao đổi
thường nhật, ngẫu nhiên bất kỳ giữa các doanh nghiệp… không phải
là liên kết kinh tế.
Ba là, liên kết kinh tế là một quá trình là xích lại gần nhau và ngày
càng cố kết, đi đến thống nhất trên tinh thần tự nguyện giữa các thành
viên liên kết. Quá trình này vận động phát triển qua những nấc thang
quan hệ từ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất
lại.Và như vậy, quá trình phân công chuyên môn hoá là quá trình tiền
đề, điều kiện, là quá trình vừa đối lập biện chứng , vừa bổ sung không
thể thiếu được của quá trình liên kết kinh tế. Còn hợp tác hoá và liên
hợp hoá là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những
bước phát triển khác nhau của liên kết kinh tế. Quá trình liên kết kinh
tế phát triển đến bước hợp nhất, thống nhất lại thành một đơn vị kinh
địa phương nào đó gọi là liên kết liên vùng;
- Giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, tức là
vượt ra ngoài phạm vi khuôn khổ một quốc gia nào đó, gọi là liên kết
quốc tế.
Các hình thức liên kết kinh tế được biểu hiện về phương diện tổ
chức hình thể đã và đang diễn ra trong lịch sử với nhiều tên gọi rất
phong phú: Các - ten (Cartel), Xanh - đi - ca (Syndicate), Tờ - rớt
(Trust), Công – xooc – xi - om (Consortium), doanh nghiệp chung vốn
(Partnership), Công ty, Công ty cổ phần, Tổng công ty (Company,
Corporation, General Co.), Công ty trách nhiệm hữu hạn (Co.Ltd), Tập
đoàn (Concern, Conglomerate, Group), Xí nghiệp (Công ty) liên doanh
(Joint venture), Nhóm sản phẩm, Vệ tinh, Xí nghiệp liên hợp
(Combinate), Liên hiệp các xí nghiệp (Union of enterprises), Tổ hợp
sản xuất - lãnh thổ (APK), Tổ chức hiệp tác (Cooperation), Hiệp hội
(Society, Association)…
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUAN HỆ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA
SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI
2.1 Quá trình phát triển các quan hệ liên kết kinh tế ở nước
ta:
Trước khi đi vào phân tích tình hình thực tiễn của quá trình liên kết
kinh tế giữa sản xuất và thương mại, cần phải điểm qua quá trình lịch
sử vận động và thực trạng quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nói chung để hiểu rõ hơn về bối
cảnh.
a/ Mặc dầu nền kinh tế hàng hoá nước ta còn kém phát triển, song
khi tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, tiếp thu
những quan điểm kinh tế và chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa,
với sự choáng ngợp bởi thành tựu trong chiến tranh giải phóng dân
tộc do có sự đóng góp phần nào của phong trào hợp tác hoá và cải
tạo công thương nghiệp nói trên mà tháng 8 năm 1974 tại Hội nghị
tổng kết công tác tổ chức sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình đã đề ra
yêu cầu phải tạo ra các "công trường thủ công XHCN". Cho nên, trong
nông nghiệp đã đẩy mạnh phong trào quy mô hợp tác xã toàn xã và
còn có ý đồ đưa nhanh lên quy mô hợp tác xã liên xã, cùng với tư
tưởng xây dựng huyện nông-công nghiệp và pháo đài bảo vệ tổ
quốc… Mặc dù, trình độ lực lượng sản xuất-công cụ sản xuất và kỹ
thuật canh tác thô sơ, lạc hậu, cán bộ quản lý năng lực kém, trình độ
sản xuất hàng hoá còn thấp.
Trong công, thương nghiệp thì sự áp dụng quá trình liên hợp hoá
một cách máy móc cũng được tiến hành một cách tràn lan. Hình thức
liên hiệp các xí nghiệp ở nước ta bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1974
(thành lập Liên hiệp các xí nghiệp chè) và cuối năm 1975 thành lập
liên hiệp các xí nghiệp dệt. Từ chủ trương "đẩy mạnh chuyên môn
hoá, tổ chức tốt việc hợp tác hoá và liên hợp hoá trong sản xuất, tạo
điều kiện tổ chức các nhóm sản phẩm, công ty, xí nghiệp liên hợp, liên
hiệp các xí nghiệp" của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV,
sau đó là Chỉ thị số 548-TTg ngày 1 tháng 12 năm 1978 của Thủ
tướng Chính phủ về việc "Tổ chức các Liên hiệp sản xuất" và Nghị
định số 302-CP ban hành điều lệ về "Tổ chức và hoạt động của Liên
hiệp các xí nghiệp", bằng các biện pháp tổ chức hành chính chúng ta
đã tiến hành sát nhập rất nhiều xí nghiệp, công ty, cửa hàng, nông
trường. Trạm trại... vào thành các liên hiệp các xí nghiệp, xí nghiệp
liên hợp, nhóm sản phẩm, tổng công ty một cách ồ ạt, máy móc mà
không tính đến tất yếu kinh tế-kỹ thuật, không tuân theo nguyên tắc tự
nguyện... Theo thống kê chưa đầy đủ của Viện quản lý kinh tế Trung
ương thì đến nay trên cả nước có trên 200 Liên hiệp (Tổng công ty)
thường xuyên cung cấp cho người tiêu dùng theo kế hoạch trên giao.
Có thể nói, cùng với việc tiếp thu và áp dụng một cách máy móc,
duy ý chí quan niệm xây dựng nhanh CNXH và nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, quá trình liên kết kinh tế ở nước ta trước những năm
1980 không được tiến hành một cách tự nguyện và dần dần từ thấp
đến cao, thông qua những tất yếu kinh tế, xuất phát từ trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, cùng với sự đáp
ứng về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý. Nó diễn ra
một cách tràn làn, ồ ạt, bất chấp quy luật, bằng biện pháp hành chính
tổ chức dội từ trên xuống, chủ yếu thông qua mối quan hệ liên kết dọc,
thậm chí đi ngay vào quá trình liên kết ở giai đoạn cao và dẫn đến có
nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế, hiệu quả kinh tế vô cung thấp.
b/ Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ 6 (khoá IV) cuối năm 1979 đề ra chủ trương đẩy mạnh phát triển
công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp địa phương, tăng cường và
phát huy quyền tự chủ của các địa phương và cơ sở đã tạo điều kiện
cho việc tìm tòi phát hiện nhiều hình thức kinh tế năng động, thích
hợp, mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế
cơ sở. Mặt khác, đầu những năm 80 (1981) trên trường quốc tế,
chúng ta bắt đầu tham gia vào quá trình liên kết kinh tế quốc tế XHCN
(sau khi đã trở thành thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế
(SEV)), cũng là một nhân tố thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa
các doanh nghiệp trong nước ra đời và phát triển với nhiều hình thức
phong phú đa dạng.
Cũng chính vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 này, nền
kinh tế nước ta gặp khó khăn nhất trong sản xuất kinh doanh. Hầu hết
các xí nghiệp đều thiếu vật tư nguyên liệu cho sản xuất, phụ tùng thiết
bị thay thế, mức huy động công suất máy móc thiết bị vào sản xuất chỉ
nghĩa "liên kết kinh tế" để hoạt động phi pháp, biến vật tư quý hiếm
được phân bổ theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước thành những "vật tư
dư thừa' hoặc "sản phẩm phụ" để "liên kết" thu lãi lớn… Thực chất là
đã gây khó khăn thêm cho việc thực hiện kế hoạch nhà nước nói
chung. Vì vậy, để chấn chỉnh một bước các hoạt động kinh tế của các
doanh nghiệp quốc doanh, nhằm thực hiện chủ trương "bung ra đúng
hướng", cũng như quy định hướng dẫn nội dung, tính chất và phạm vi
hoạt động liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, Hội đồng Bộ trưởng
đã ban hành Nghị quyết số 56/HĐBT về cải tiến quản lý kinh tế nhằm
sửa đổi Nghị quyết số 25, 26/CP và Quyết định số 162/HĐBT quy định
về hoạt động liên kết kinh tế vào tháng 11 năm 1984. Với các quyết
định này, phạm vi của liên kết kinh tế đã bị thu hẹp hơn, do đó làm
lành mạnh hơn các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế giữa các
doanh nghiệp, dù vẫn còn "kế hoạch hai phần" và "kế hoạch ba phần".
Do vậy, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp từ đó có hai dạng
khác nhau: dạng quan hệ thứ nhất thực hiện theo ý đồ của Nhà nước,
của cơ quan quản lý cấp trên, tức theo địa chỉ chỉ định của kế hoạch
Nhà nước, dạng quan hệ thứ hai hình thành khi các đơn vị sản xuất
kinh doanh tự tìm đến nhau hợp tác làm ăn. Dạng quan hệ thứ hai chủ
yếu diễn ra trong phạm vi giải quyết những nhiệm vụ "thứ yếu", nhiệm
vụ "phụ thêm", nhiều doanh nghiệp đã dựa vào thế mạnh của mình và
tìm thấy thế mạnh của nhau, đã tiến hành thoả thuận hợp tác, liên kết
làm ăn với nhau tương đối lâu dài.
Mười tám xí nghiệp của Tổng công ty tạp phẩm (nay là Tổng công
ty Nhựa Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ) hàng năm có khả năng
sản xuất 180 mặt hàng, trong khi đó chỉ có 80 mặt hàng kế hoạch
được Nhà nước đảm bảo vật tư, còn lại 100 mặt hàng tự cân đối qua
khâu liên kết và sản xuất phụ. Nổi bật nhất là mặt hàng mũ thợ lò là
sản phẩm liên kết có hiệu quả nhất giữa Công ty xuất nhập khẩu than
(coallimex) và Tổng công ty tạp phẩm. Còn ở Công ty bột giặt miền
c/ Từ cuối năm 1985 trở đi, sau khi có Nghị quyết Hội nghị trung
ương Đảng lần thứ 8 (khoá V), chuyển hoạt động kinh tế của các
doanh nghiệp sang hạch toán kinh doanh, đặc biệt từ sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, quyết định chuyển nền kinh tế nước ta
sang sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, cùng với Quyết định
217/HĐBT (1987) giao quyền tự chủ cho giám đốc các doanh nghiệp
Nhà nước, làm cho hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh
nghiệp ngày càng linh hoạt, năng động, cácc quan hệ kinh tế giữa các
doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ, sôi động, đan xen phức tạp và ngày
càng gắn bó mật thiết với nhau hơn. Các quan hệ kinh tế nhất thời
giữa các doanh nghiệp luôn luôn vận động chuyển hoá phát triển sang
quan hệ hợp tác, liên kết lâu dài hơn, ngày càng nhiều. Các quan hệ
liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp đi vào thực chất hơn, diễn ra
theo đúng quy luật tất yếu của quá trình phát triển kinh tế nói chung,
của các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp nói riêng và phạm vi
của chúng đã bao trùm trên toàn bộ các mặt hoạt động, trên toàn bộ
nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh của mỗi doanh nghiệp . Hoạt động liên
kết kinh tế trở nên sôi động, phong phú hơn, diễn ra trên tất cả các
lĩnh vực, các thành phần kinh tế, cho nên Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 3 (khoá VI) đưa vấn đề liên kết trở thành một nội dung
quan trọng của Nghị quyết. Tinh thần của Nghị quyết đã xác định liên
kết kinh tế trở thành một nội dung quan trọng của các hoạt động kinh
tế, đặc biệt trong nền kinh tế hàng hoá, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và
phát triển. Đồng thời Nghị quyết cũng nêu rõ yêu cầu hoạt động liên
kết kinh tế phải tuân thủ pháp luật, không gây tổn hại đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo các bên cùng có lợi. Mặt
khác ngày 22 tháng 3 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị
định số 28/HĐBT về "Điều lệ xí nghiệp liên doanh" (hay "Xí nghiệp cổ