LUẬN VĂN: Trình bày lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển của tư bản. ý nghĩa thực tiến rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa potx - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Trình bày lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển
của tư bản. ý nghĩa thực tiến rút ra khi
nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý
các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
Lời nói đầu

Phát triển kinh tế là một yêu cầu đòi hỏi cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nhưng một
nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm lại phụ thuộc vào những chính sách cụ thể của
từng quốc gia và các bộ, ngành ở quốc gia đó. Vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh” Đảng và Nhà nước cùng các bộ, ngành đã nỗ lực cố gắng đưa ra
các chính sách đúng đắn và các biện pháp giải quyết phù hợp để đưa nền kinh tế nước ta
phát triển nhanh, mạnh.
Trong nội dung đề án này đề cập đến một góc độ làm cho nền kinh tế có thể suy
thoái, có thể phát triển nhanh hay chậm.
Đề tài: “Trình bày lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển của tư bản. ý nghĩa thực
tiến rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của

Nghiên cứu tự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản có ý nghĩa thực tiễn đối với
chúng ta. Vì nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nên trong sản xuất kinh doanh
đòi hỏi chúng ta phải quay vòng vốn nhanh, sử dụng vốn một cách hợp lý có hiệu quả.
Có như vậy mới nâng cao được lợi nhuận, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh
hơn.
Dựa vào nhu cầu về vốn và việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp có hiệu quả hay
không, Nhà nước và các bộ, ngành có thể đưa ra các chính sách thoả đáng nhằm thu hút
vốn ở trong nước hoặc đầu tư nước ngoài về để đáp ứng nhu cầu vốn và có các chính
sách cụ thể đối với từng doanh nghiệp, xây dựng công cụ quản lý các doanh nghiệp.
Nhà kinh tế A.Smith vì: “tiền là dầu mỡ bôi trơn cỗ xe kinh tế, là bánh xe vĩ đại của
lưu thông”. Vì vậy nghiên cứu vấn đề lưu thông có ý nghĩa thực tiễn đối với chúng ta
trong khi nền kinh tế thị trường đang diễn ra náo nhiệt, sôi động. II. Nội dung.
A. Tuần hoàn tư bản.
1. Ba giai đoạn của sự vận động của tư bản và sự biến hoá hình thái của tư bản.
Mọi tư bản đều xuất hiện trước hết dưới hình thức một số lượng tiền tệ nhất định và
được sử dụng để mang lại tiền tệ phụ thêm bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để đạt
được kết quả ấy, tư bản phải vận động qua ba giai đoạn:
a. Giai đoạn thứ nhất:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường với tư cách là người mua, thực hiện hành vi T-
H.
Mới nhìn thì T-H cũng chỉ là một hành vi mua bán thông thường. Tiền tệ ở đây
được sử dụng làm phương tiện mua như mọi tiền tệ khác trong lưu thông. Nhưng nếu xét
kỹ các loại hàng hoá mà nhà tư bản đã mua thì tiền tệ đóng vai trò khác hẳn. Hàng hoá
mua được ở đây là tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là những nhân tố vật chất và
người của sản xuất hàng hoá. Dĩ nhiên là đặc tính của các nhân tố này phải phù hợp với
loại sản phẩm cần chế tạo. Ngoài sự phù hợp về tính chất ra, sức lao động và tư liệu sản
xuất còn phải phù hợp với nhau về mặt số lượng nữa. Tư liệu sản xuất phải bảo đảm đầy

là tư bản tiền tệ. Song quá trình này, giá trị tư bản đã lột bỏ “chiếc áo khoác” hình
thái tiền tệ để tồn tại dưới hình thái hiện vật là sức lao động và tư liệu sản xuất, dưới hình
thái các yếu tố của sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là hình thái tư bản sản xuất. Như vậy,
kết quả của giai đoạn thứ nhất là tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất.
b. Giai đoạn thứ hai.
Nhà tư bản tiêu dùng sản xuất các hàng hoá đã mua, tức là tiến hành sản xuất. Kết
quả là nhà tư bản có được một hàng hoá có giá trị lớn hơn giá trị của các yếu tố sản xuất
hàng hoá đó.
Quá trình này có thể được mô tả như sau: T - H
TLSX
SLĐ
H
TLSX
SLĐ
SX

H ’
Quá trình sản xuất diễn ra ở đây cũng giống như mọi quá trình sản xuất của mọi
hình thái xã hội là do kết hợp hai yếu tố người lao động và tư liệu sản xuất lại mà có.
Song sự kết hợp hai yếu tố vốn hoàn toàn tách rời nhau này là do công lao của các nhà tư
bản đã ứng tư bản của mình ra để thực hiện. Vì vậy sức lao động và tư liệu sản xuất trở
ở công thức này, tư bản biểu hiện thành một giá trị thông qua một chuỗi biến hoá
hình thái quan hệ lẫn nhau, quyết định lẫn nhau. Trong các giai đoạn thì có hai giai đoạn
lưu thông và một giai đoạn trong lĩnh vực sản xuất. Sự vận động của tư bản trải qua ba
giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái để rồi lại trở về hình thái ban đầu với giá trị không
những được bảo tồn mà còn tăng lên, đây chính là sự tuần hoàn của tư bản.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành một cách bình thường chừng nào các giai
đoạn khác nhau của nó không ngừng chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Mặt
khác, bản thân sự tuần hoàn lại làm cho tư bản phải nằm lại ở mỗi một giai đoạn tuần
hoàn trong một thời gian nhất định. Do đó, sự vận động tuần hoàn của tư bản là một sự
vận động liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận động đứt quãng không ngừng, chính
trong sự vận động mâu thuẫn đó mà tư bản tự bảo tồn, chuyển hoá giá trị và không ngừng
lớn hơn.
2. Sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn của tư bản công nghiệp.
Tư bản trong quá trình vận động trải qua ba giai đoạn, lần lượt khoác lấy các hình
thái tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hoá và ở mỗi hình thái tư bản tiền tệ, tư
bản sản xuất, tư bản hàng hoá và ở mỗi hình thái như thế, nó hoàn thành một chức năng
thích hợp, tư bản đó là tư bản công nghiệp. Công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi ngành
sản xuất kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy là vì tư bản công
nghiệp là hình thái tồn tại duy nhất của tư bản, mà chức năng của nó không phải chỉ là
chiếm lấy giá trị thặng dư, mà còn là tạo ra giá trị thặng dư.
Do đó, tư bản tiền tệ, tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất đều không phải là những
loại tư bản độc lập. ở đây, các tư bản ấy chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư
bản công nghiệp; tư bản này lần lượt mang ba hình thái ấy, và nếu xét trong quá trình vận
T - H
TLSX
SLĐ
SX H


không hề chỉ ra mục đích của quá trình làm tăng thêm giá trị. Do đó, nó làm cho người ta
dễ lầm lẫn rằng mục đích của nó chỉ là bản thân sản xuất, trung tâm của vấn đề chỉ là cố
gắng sản xuất thật nhiều và thật rẻ, có trao đổi cũng chỉ là trao đổi sản phẩm để tiến hành
sản xuất được liên tục, nên không có hiện tượng sản xuất thừa.
c. Tuần hoàn của tư bản hàng hoá. Công thức: H’ - T’ - H SX H’ khác hẳn các hình thức tuần hoàn khác ở chỗ:
điểm xuất phát bao giờ cũng bắt đầu bằng H’, bằng một giá trị đã tăng thêm giá trị, một
giá trị tư bản ứng trước đã chứa đựng giá trị thặng dư với bất kỳ quy mô như thế nào.
Điểm này làm cho nó có một số đặc điểm khác là:
Một là, ngay từ điểm đầu, nó đã biểu hiện ra là hình thái của sản xuất hàng hoá tư
bản chủ nghĩa, nên từ đầu nó là hình thái của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, nên từ
đầu nó đã bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
Hai là, kết thúc bằng H’, chưa chuyển hoá trở lại thành tiền đã tăng thêm giá trị
(T’), nó là hình thái chưa hoàn thành và còn phải tiếp tục tiến hành, vì vậy nó đã bao hàm
tái sản xuất.
Ba là, nó là hình thái làm nổi bật lên sự liên tục của lưu thông. H’ điểm bắt đầu tuần
hoàn và H’ điểm kết thúc tuần hoàn đều biểu hiện một khối lượng giá trị sử dụng được
sản xuất ra để bán. Do đó nếu H’ điểm bắt đầu tuần hoàn đòi hỏi lưu thông thì điểm H’
cũng đòi hỏi ngay một quá trình lưu thông mới.
Bốn là, hình thái tuần hoàn này còn trực tiếp bộc lộ mối quan hệ giữa người sản
xuất hàng hoá với nhau. Mỗi nhà tư bản đều ném H’ vào lưu thông và dùng T’ đã thu
được để mua các hàng hoá tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Cả hai loại hàng hoá
này đều nằm trong lưu thông và cũng do các nhà tư bản công nghiệp cung cấp cho nhau.
Do đó hình thái tuần hoàn này không chỉ là một hình thái vận động chung cho mọi tư bản
công nghiệp cá biệt mà đồng thời còn là hình thái vận động của tổng số những tư bản cá
biệt, tức là hình thái vận động của tổng tư bản của giai cấp tư bản, là một vận động trong
đó vận động của mỗi một tư bản công nghiệp cá biệt, chỉ biểu hiện thành vận động bộ
phận chằng chịt với vận động của các tư bản khác và bị chế ước bởi những vận động này.

sản xuất. Nhưng tư bản không phải chỉ biến hoá hình thái một lần rồi dừng lại mà “tư bản
là một sự vận động, chứ không phải là một vật đứng yên”. Tư bản nếu muốn tồn tại là tư
bản thì phải không ngừng đi vào lưu thông, tiếp tục thực hiện liên tục quá trình biến hoá
hình thái, tức là tiếp tục sự tuần hoàn liên tục không ngừng. Sự tuần hoàn của tư bản
được lặp đi lặp lại nhiều lần và có định kỳ, đó là sự chu chuyển của tư bản. Mác nói:
“Tuần hoàn của tư bản, khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một quá
trình bị cô lập, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản”. Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi nhà tư bản ứng tư
bản ra dưới một hình thái nào đó cho đến khi thu về cũng dưới hình thái ấy có kèm theo
giá trị thặng dư. Chu chuyển của tư bản chỉ là tuần hoàn tư bản xét trong một quá trình
định kỳ nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng là tổng số thời gian lưu thông và thời
gian sản xuất.
a. Thời gian sản xuất của tư bản.
Thời gian sản xuất của tư bản là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời
gian sản xuất lại bao gồm:
- Thời gian lao động, tức là thời gian mà người lao động sử dụng tư liệu lao động
tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian duy nhất tạo ra giá
trị thặng dư của nhà tư bản.
- Thời gian gián đoạn lao động, là thời gian để đối tượng lao động hoặc bán thành
phẩm chịu tác động của tự nhiên mà không cần lao động của con người góp sức. Đó là
những trường hợp của thóc giống đã gieo, rượu để cho lên men, gỗ, gạch để phơi khô,
chẳng hạn.
- Thời gian dự trữ sản xuất, tức là thời gian mà tư bản sản xuất đã sẵn sàng làm điều
kiện cho quá trình sản xuất, nhưng chưa phải là yếu tố hình thành sản phẩm, cũng chưa phải
là yếu tố hình thành giá trị. Bộ phận tư bản này là ở hàng hoá, nhưng tình trạng này là điều
kiện để tiến hành không ngừng quá trình sản xuất.
- Thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất là thời gian không hề
tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Do đó, rút ngắn các thời gian này cũng giảm bớt sự

toán và so sánh với nhau được thì phải có một đơn vị đo lường thống nhất. Đơn vị đó là
năm. Dùng năm làm đơn vị đo lường tốc độ chu chuyển của tư bản có nghĩa là muốn xác
định tư bản đã quay được mấy vòng trong một năm. Với n là số lần chu chuyển; C
H

năm đơn vị đo lường, và c
h
là thời gian chu chuyển một vòng của tư bản thì sẽ có công
thức tính số vòng của chu chuyển tư bản là:
n = Error! 2. Tư bản cố định và tư bản lưu động.
Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm toàn bộ thời gian chu chuyển của các bộ
phận tư bản phải ứng ra để tiến hành sản xuất. Nhưng phương thức chu chuyển của các
bộ phận tư bản không giống nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau, người
ta chia các bộ phận tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá
trị của nó thì chuyển từng phần sang sản phẩm. Được xếp vào tư bản cố định, trước hết là
bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, )
đang được sử dụng trong quá trình sản xuất. Hình thái giá trị sử dụng của bộ phận tư bản
này luôn luôn được duy trì, tồn tại như lúc nó mới gia nhập vào quá trình lao động. Chức
năng tư liệu lao động trong quá trình sản xuất giữ chúng lại đó, và do đó bộ phận giá trị
tư bản ứng ra được cố định lại dưới hình thái ấy. Bộ phận tư bản này lưu thông không
phải dưới hình thái giá trị sử dụng của nó, chỉ có giá trị của nó lưu thông thôi và lưu
thông dần dần từng phần một theo nhịp độ mà giá trị đó được chuyển vào sản phẩm. Phần
giá trị cố định như vậy không ngừng giảm cho đến khi tư liệu lao động trở thành vô dụng.
Tư liệu lao động càng bền bao nhiêu càng chậm hao mòn bao nhiêu thì giá trị tư bản bất
biến sẽ được cố định dưới hình thái sử dụng ấy trong một thời gian càng lâu bấy nhiêu.
Xếp vào tư bản cố định còn có bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái các tư liệu sản

- Kỹ thuật cải tiến nên người ta sản xuất được những máy móc tuy có giá trị bằng
giá trị của máy cũ hoặc cao hơn chút ít, nhưng lại có công xuất vượt xa công suất của
máy cũ. Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình bình quân của tư bản cố định đều được
tính chuyển giá trị vào sản phẩm, lưu thông cùng sản phẩm, chuyển hoá thành tiền và trở
thành quỹ dự trữ tiền tệ để đổi mới tư bản cố định khi đến kỳ tái tạo ra tư bản đó dưới
hình thái hiện vật. Đó là quỹ khấu hao của tư bản. Để phát huy hiệu quả của tư bản bộ
phận quỹ khấu hao này có thể được đưa ra sử dụng để mở rộng doanh nghiệp tức tăng
quy mô theo chiều rộng hoặc cải tiến máy móc nhằm làm cho máy móc tăng thêm hiệu
suất, tức tăng quy mô theo chiều sâu. Vậy là có thể thực hiện được tái sản xuất mở rộng
mà không cần có sự tích luỹ tư bản thực sự.
Để tránh những hao mòn bất thường và bảo đảm phát huy hiệu quả cao, tư bản cố
định đòi hỏi những chi phí bảo quản đặc biệt. Việc bảo quản ấy được thực hiện một phần
ở bản thân quá trình lao động sử dụng nó, bảo tồn nó và chuyển giá trị của nó vào sản phẩm. Việc bảo quản này là một cống hiến của tự nhiên không mất tiền của lao động
sống. Nhưng để bảo quản tốt, tư bản cố định còn đòi hỏi phải thực sự chi phí sức lao
động nữa. Máy móc yêu cầu thỉnh thoảng phải được lau chùi. Đấy là một công việc phụ,
nhưng nếu không làm thì máy móc sẽ nhanh hỏng. Ngoài việc cần được bảo quản, tư bản
cố định còn cần được tu bổ, sữa chữa cần thiết, do đó đòi hỏi phải có những khoản chi về
tư bản và lao động.
Thông thường, mỗi tư bản cố định đầu tư trong một ngành công nghiệp nhất định
đều được dự tính theo kinh nghiệm những công việc lau chùi, những yêu cầu tu sửa sau
những quãng thời gian hoạt động nhất định cũng như sửa chữa thông thường và bất
thường có thể xảy ra. Những chi phí cho những khối lượng công việc bảo quản và sửa
chữa đó được phân phối bình quân vào suốt cuộc đời phục vụ trung bình của tư bản và
được tính vào giá cả sản phẩm được sản xuất ra. Như vậy là những chi phí đó đã được dự
tính trước để phân phối đồng đều cho các vòng chu chuyển của tư bản ngay từ vòng đầu.
Số tư bản chi ra cho công việc bảo quản và sửa chữa, xét về nhiều mặt, là một thứ tư bản
có tính chất đặc biệt, không thể xếp vào tư bản lưu động cũng không thể xếp vào tư bản

bản cố định và tư bản lưu động và tỷ lệ nghịch với giá trị của tổng tư bản ứng trước.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản thì sẽ tăng được hiệu suất sản xuất và mang
lại giá trị thặng dư nhiều hơn cho nhà tư bản. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố
định thì nhà tư bản có thể tránh được thiệt hại hao mòn vô hình và còn có thể tăng
cường sử dụng được quỹ khấu hao vào mở rộng và cải tiến kỹ thuật sản xuất.
Đặc biệt đối với tư bản lưu động, tăng tốc độ chu chuyển sẽ có tác dụng rất lớn. Đối
với bộ phận tư bản bất biến lưu động, tức là bộ phận tư bản bỏ ra mua nguyên liệu, nhiên
liệu và vật liệu, Nếu chu chuyển nhanh thì sẽ tiết kiệm được tư bản ứng trước, hoặc nếu
giữ số tư bản lưu động ấy như cũ thì sẽ có điều kiện mở rộng được sản xuất. Đối với tư bản
khả biến lưu động, tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển càng hết sức quan trọng và có
ý nghĩa quyết định trong việc tăng thêm giá trị thặng dư. Giả định có hai tư bản A và B, có
lượng tư bản khả biến ứng ra như nhau là 20.000đ, có tỷ suất bóc lột như nhau là 100%
nhưng tốc độ chu chuyển của tư bản A mỗi năm chỉ một lần, còn tư bản B được hai lần thì
số lượng giá trị thặng dư của hai tư bản ấy thu được sẽ khác nhau tư bản A thu được:
20.000 x 100% = 20.000đ. Còn tư bản B thu được 20.000đ x 2 x 100% = 40.000đ. Do đó
mà tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm của hai tư bản cũng sẽ khác nhau. Tư bản A đạt tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư là:
Error! x 100 = 100%
Tư bản B đạt tỷ suất bóc lột là:
Error! x 100 = 200%
Sở dĩ có tình hình đó là vì tuy hai tư bản khả biến ứng trước như nhau nhưng do chu
chuyển khác nhau nên tư bản khả biến thực tế sử dụng lại khác nhau, và do đó tuy tỷ suất
giá trị thặng dư thực tế như nhau lại dẫn đến tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm khác
nhau. Thời gian chu chuyển các tư bản gồm có thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
nên muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản thì phải ra sức rút ngắn các khoảng thời gian
này lại.
Phương pháp rút ngắn thời gian sản xuất được thực hiện bằng cách áp dụng kỹ thuật
mới, cải tiến cách thức sản xuất, mở rộng phạm vi phân công hợp tác, cải tiến tổ chức và

tích luỹ còn thấp thì tiết kiệm những chi tiêu có thể tiết kiệm được không chỉ là quốc sách
mà cần phải có giải pháp đi thẳng vào thực tế, tức là phải có biện pháp khuyến khích tiết
kiệm ở tất cả các khu vực: Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình, các tổ chức tài chính,
phải gắn tiết kiệm với tích luỹ dưới tác động của các nhân tố kích thích về lợi ích kinh tế
đã huy động tối đa các nguồn vốn trong nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cụ
thể là:
+ Đổi mới và kiện toàn hệ thống các tổ chức trung gian tài chính:
Phải đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống bao gồm các ngân hàng thương mại, các
công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ bảo hiểm, quỹ trợ cấp và hưu trí, các công ty
đầu tư, Hệ thống này phải là những nhân tố tích cực kích thích tiết kiệm và huy động tối
đa các nguồn vốn trong nước. Muốn vậy cần khẩn trương:
- Mở rộng mạng lưới hoạt động của các tổ chức nói trên đến mọi khu vực thành thị
và nông thôn, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa và hải đảo trong nước.
- Đa dạng hoá việc huy động vốn thông qua mở rộng và phát triển nhiều hình thức
như: phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu có mục đích, có khả năng chuyển
nhượng và thanh toán linh hoạt, phổ cập hình thức gửi tiền một nơi rút nhiều nơi; thực
hiện cá nhân mở tài khoản, phát triển các hình thức tiết kiệm giáo dục, tiết kiệm bậc thang, phát triển các loại cổ phiếu, trái phiếu ở các cấp: chính phủ, địa phương và công
ty; mở rộng hoạt động của các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, kết hợp các
hình thức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Cải tiến chất lượng hoạt động của các trung gian tài chính bằng cách đa dạng hoá,
hiện đại hoá các công cụ thanh toán, đảm bảo tính tiện lợi nhanh chóng, bí mật, an toàn
cho người có vốn.
- Thực hiện chế độ bảo toàn các loại tiền gửi, trước hết là tiền gửi có kỳ hạn của
nhân dân tại Ngân hàng thương mại.
+ Nâng cao hiệu quả huy động vốn qua ngân sách:
Thu ngân sách, đặc biệt là thu từ thuế có độ nhạy cảm rất cao đối với sản xuất kinh
doanh, cho nên điều chỉnh thuế suất làm tăng nguồn vốn cho ngân sách và định hướng

Do quyền quản lý và sử dụng không tách rời quyền sở hữu về vốn của các chủ đầu
tư nước ngoài, nên việc thu hút nguồn này không chỉ tuỳ thuộc vào sự hoàn thiện môi
trường đầu tư của nước ta mà còn tuỳ thuộc vào sự tính toán của chủ đầu tư nước ngoài.
Mặt khác để thu nhận một lượng vốn nước ngoài, chí ít trong nước phải có một lượng
vốn tương đương. Hơn nữa chúng ta lại bị khá nhiều đối thủ trong khu vực và trên thế
giới cạnh tranh thu hút nguồn vốn này. Vì vậy, cần phải chủ động lập các dự án để giới
thiệu và gọi vốn đầu tư nước ngoài. Các dự án phải có tính chất khả thi cao. Mở rộng các
hình thức đầu tư trong cả nước. Đối với các dự án liên doanh đầu tư với nước ngoài, phải
phấn đấu: ngoài phần đóng góp về đất cần huy động liên kết nhiều đơn vị thuộc mọi
thành phần kinh tế, nâng tỷ suất góp vốn trong nước bằng 50% số vốn trong các dự án,
cùng với chính sách ưu đãi có biện pháp giới thiệu hướng dẫn, cung cấp thông tin để
người Việt Nam sống ở nước ngoài đầu tư về nước mình.
Đối với đầu tư gián tiếp, giải pháp để thu hút mạnh mẽ nguồn vốn này không chỉ ở
chỗ cần làm tốt hơn nữa công việc vận động cá nhân, các tổ chức tiền tệ quốc tế và chính
phủ các nước giúp đỡ vốn phù hợp với yêu cầu của nước ta, mà còn phải hết sức coi
trọng việc quản lý và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn, phải tính đến khả năng trả
nợ đúng hạn và những yêu cầu khác về việc đảm bảo độc lập, chủ quyền về kinh tế và
chính trị. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, hoạt động
dịch vụ, thực hiện tỷ giá hối đoái linh hoạt hợp lý, có chính sách thích hợp đảm bảo huy động có hiệu quả các nguồn thu từ người và các tổ chức nước ngoài vào ta hợp tác đầu
tư, thực tiễn các mặt hoạt động này ở nước ta vừa qua còn nhiều yếu kém, cần phải
khẩn trương khắc phục.
2. Nâng cao việc sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp.
Trong mối quan hệ nhân quả của nó, để huy động mạnh mẽ các nguồn vốn, đòi hỏi
phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được.
a. Lựa chọn hướng đầu tư.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giải pháp quan trọng trước tiên là lựa chọn đúng
hướng đầu tư. Việc lựa chọn này theo kinh nghiệm các nước, không thể thoát ly chiến

trên, có thể cần thiết sử dụng dịch vụ của các tổ chức thẩm định quốc tế. Khắc phục tình
trạng lựa chọn những dự án đầu tư với chi phí lúc đầu không rõ ràng và càng về sau càng
phát sinh một cách không quản lý nổi.
Ngoài các việc trên, cần phải thành lập công ty tư vấn đầu tư, công ty bảo hiểm,
kiểm toán, làm dịch vụ tư vấn, hướng dẫn, đảm bảo cho quá trình thực hiện kế hoạch và
dự án đầu tư có hiệu quả, phải vận dụng quy luật thị trường qua việc sử dụng công cụ lãi
suất và các trung gian tài chính để dẫn vốn đến đúng các dự án cần đầu tư, khắc phục tình
trạng các lực lượng trung gian tài chính can thiệp vào quá trình phân bố và sử dụng vốn
làm méo mó vai trò của vốn đầu tư.
d. Những vướng mắc đối với các doanh nghiệp.
+ Những vướng mắc thuộc phạm vi chính sách:
Việc vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư còn nhiều khó khăn phiền hà, vấn đề nổi cộm là
sự chậm trễ trong việc giải ngân. Nguồn vốn cho vay ưu đãi vẫn còn nhỏ, lại chủ yếu tập
trung cho các doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1999, nguồn vốn cho vay từ quỹ là 510 tỷ
(với 186 dự án) thì khối doanh nghiệp Nhà nước được vay tối đa là 72,2%. Vì vậy các
doanh nghiệp tư nhân sẽ bị hạn chế nhiều trong việc vay mượn vốn. Ưu đãi về thuế thu
nhập doanh nghiệp là chính sách quan trọng mà nhà đầu tư được hưởng, song khi thực
hiện không có hướng dẫn cụ thể, hoặc hướng dẫn triển khai chậm. Doanh nghiệp trong nước thiếu nhiều ưu đãi hơn doanh nghiệp FDI nhưng chịu mức thuế suất cao hơn (với
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp chênh lệch từ 5-8%). Thời gian để được miễn giảm
thuế lợi tức đối với doanh nghiệp trong nước ít hơn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
+ Những vấn đề nổi cộm trong tư vấn đầu tư.
Để nhận được giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo luật thì các doanh nghiệp phải
hoàn thiện một bộ hồ sơ do rất cồng kềnh, thủ tục xin phép hết sức phức tạp. Do vậy đã
làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước. Luật khuyến khích đầu tư trong nước mới chỉ
tập trung khuyến khích đầu tư vào 3 tiêu chí chủ yếu là khuyến khích theo ngành nghề
đầu tư, theo địa bàn đầu tư và theo số lao động mà dự án đầu tư tạo ra. Điều này chưa đủ

thực tế, sau khi xây dựng nhà xưởng và đi vào hoạt động, không phải doanh nghiệp nào
cũng yên tâm, bởi nếu cần phải bán hoặc phát mại toàn bộ bất động sản thì việc giải
quyết hết sức phức tạp và rủi ro.
Một trở ngại không dễ tự vượt qua đối với các nhà đầu tư trong nước là sự chậm
phát triển thị trường vốn tại Việt Nam. Cho tới nay, tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm đại bộ
phận thị phần của thị trường tín dụng. Việc chậm chuyển đổi các doanh nghiệp kinh
doanh không thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước đã ngăn cản khu vực tư nhân tham gia
đầu tư để thực hiện sự chuyển hướng có tính chiến lược đã đặt ra.
3. Những chính sách cơ bản nhằm nâng cao vai trò chủ đạo và hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp.
Để phát huy được vai trò của các doanh nghiệp, cần phải có những chính sách về
những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Nhà nước cần phải có những giải pháp quan trọng nhất để luật khuyến khích đầu tư
trong nước thực sự đi vào cuộc sống và phát huy mạnh mẽ nội lực; Nhà nước tăng cường
kiểm tra giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách, luật pháp về phát triển kinh
tế nói chung và khuyến khích đầu tư trong nước nói riêng. Trong đó, nhiệm vụ làm lành
mạnh hoá môi trường kinh tế, môi trường đầu tư phải đặc biệt quan tâm. Nhà nước tranh thủ và tiếp thu tối đa ý kiến của cơ sở, nhất là các doanh nghiệp để
sửa đổi luật. Để tiến tới sự bình đẳng về chính sách và pháp luật giữa các hình thức đầu
tư, loại hình doanh nghiệp, khẩn trương, nghiên cứu và ban hành một luật chung cho
khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài.
Có kế hoạch rà soát lại những bất hợp lý, bất bình đẳng và thông qua các văn bản
dưới luật để bổ sung, hoàn chỉnh. Cải cách thủ tục hành chính nói chung và cải cách thủ
tục trong kinh tế nói riêng đang là vấn đề cấp thiết cần phải đẩy nhanh thực hiện,
Trung bình việc đầu tư có mục tiêu làm giảm phiền hà, sách nhiễu làm nản lòng các
nhà đầu tư. Chính phủ cần có một bộ phận chuyên trách làm đồng bộ hoá, thống nhất hoá
và giữ ổn định các văn kiện pháp luật liên quan trực tiếp đến các dự án đầu tư trong nước.
Đơn giản hoá các thủ tục hành chính cho mỗi chủ đầu tư được hưởng các ưu đãi theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status