Trình bày lí luận về tuần hoàn và chu chuyển của Tb - Pdf 20

Đề tài: Trình bày lý luận về tuần hoàn và chu chuyển của TB.
LờI NóI ĐầU
Kinh tế chính trị là môn khoa học nghiên cứu về kinh tế. Thuật ngữ kinh tế
chính trị bắt đầu có từ thế kỷ XVII và sự tìm hiểu không ngừng về thế giới
khách quan, quy luật khách quan "bàn tay vô hình", bàn tay nhà nớc . Tuy ở
từng giai đoạn từng thời kỳ lịch sử các nhà kinh tế có những quan niệm khác
nhau. Ngời thì trọng t tởng tự do kinh tế , ngời thì trọng nền kinh tế phải có bàn
tay của nhà nớc. Nhng tất cả đều có mong muốn và mục đích là làm sao cho
nền kinh tế tăng trởng ổn định và nâng cao cuộc sống ngời dân, chống lạm
pháp và thất nghiệp . Đỉnh cao là học thuyết kinh tế về nền kinh tế thị trờng
phát triển theo hớng XHCN của C. MAC Ông đã có cái nhìn đúng nhất và cụ
thể nhất về kinh tế và những quy luật kinh tế, nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc.
Nh vậy môn khoa học kinh tế chính trị đã có một thời kỳ dài biến đổi và phát
triển , hoàn thiện . Tuy từ lý thuyết đến thực tế là một khoảng cách còn rất xa.
Nó còn phụ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, sự linh hoạt của từng
doanh nghiệp . . . Nhng cái gốc , cái cốt lõi luôn luôn là nguyên tắc, là đúng
bởi vì nó là quy luật vì thế mà mọi thành phần kinh tế phải tuân theo và chỉ có
thể làm tốt quy luật đó lên. Còn nếu đi ngợc quy lụt thì doanh nghiệp cũng sẽ
dần tới phá sản .
Lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển cũng vậy. Đó là một trong những lý
thuyết quan trọng mà mọi doanh nghiệp phải quan tâm trong nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc bởi tầm quan trọng của nó.
1
A CƠ Sở Lý LUậN
Sản xuất TBCN là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất và quá trình lu
thông, giữa quá trình tạo ra giá trị thặng d và quá trình thực hiện giá trị thặng
d. Vì vậy sau khi đã nghiên cứu quá trình sản xuất càn nghiên cứu quá trình l-
u thông để xác định rõ hơn nữa vị trí của lu thông và tác dụng tích cực của nó
đối với sản xuất cùng những biểu hiện của quan hệ bóc lột TBCN . Trong quá
trình này việc nghiên cứu sẽ làm chúng ta nhận thức sâu sắc hơn bản chất

có thể mua sức lao động bằng tiền mà là ở chỗ sức lao động đã trở thành
hàng hoá. Đây là một việc mua bán, một quan hệ tiền tệ nhng trong đó ngời
mua là t bản, ngời bán là ngời lao động đã bị tách rời hoàn toàn với TLSX. Vì
không phải bản chất của tiền tệ đẻ ra mối quan của TBCN mà chính sự tồn tại
của mối quan hệ đó đã làm cho chức năng đơn giản của tiền tệ biến thành
chức năng của tbản
T-H -TLSX là t bản tiền tệ . hoàn thành quá trình này, giá trị t bản trút bỏ
hình tháI t bản tiền tệ để tồn tại hình tháI t bản hiện vật là sức lao động và
TLSX dới hình tháI các yếu tố của SXTBCN tức là hình tháI TBSX.
+Giai đoạn hai:TBSX mua đợc hàng hoá sức lao động rồi nhà tbản không
thể đem bán nó đi mà chỉ có quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định .
Hơn nữa chỉ có tiêu dùng sức lao động mới tiêu dùng đợc TLSX đã mua. Ngời
sở hữu tiền muốn thu đợc về thì phải có hàng hoá để bán . Do đó buôc anh ta
phải tiến hành sản xuất hàng hoá. Nó đợc biểu diễn nh sau.
SLĐ
H ,
TLSX. . . . . . . . H
Quá trình sản xuất ở đây diễn ra cũng nh mọi quá trínhản xuất của mọi hình
tháI kinh tế xã hội là do kết hợp hai yếu tố ngời lao động vàTLSX mà có .
Song sự kết hợp hai yếu tố vốn hoàn toàn tách rời nhau này do công lao của
nhà t bản đã ứng hẳn t bản của mình ra để thực hiện. SLĐ vàTLSX vì vậy mà
trở thành hình tháI tồn tại của giá trịTB ứng trớc. Phơng thức kết hợp đặc thù
đó không chỉ là kết quả mà còn là yêu cầu của sự vận động của t bản. Quá
trình sản xuất vì vậy trở thành một chức năng của CNTB . Kết quả của quá
trình là một hàng hoá mới đợc tạo ra khác về giá trị sử dụng và lợng giá trị so
3
với các hàng hoá cấu thành TBSX. Hàng hoá mới này đã mang giá trị thặng
d. Nó trở thành H có giá trị bằng SX+ giá trị thặng d. Nh vậy kết quả của giai
đoạn thứ hai là TB biến thành TBSX hàng hoá.
+Giai đoạn 3:H-T. Sản xuất ra hàng hoá rồi tbản không thể ngừng vận động .

TBCN, TB lần lợt mang 3 hình thái ấy và nếu xét trong quá trình vận động
liên tục thì mỗi hình thái có thể xem là điểm xuất phát đồng thời là điểm quy
hồi của nó . Tuần hoàn của TBTT hoặc là tuần hoàn của TBSX hoặc có thể
là dạng tuần hoàn của TB hàng hoá
Tuần hoàn của TBTT với điểm xuất phát là tiền và điểm kết thúc là T, đã
biểu thị một cách rõ rệt nhất các động cơ, mục đích vận động của TB là giá
trị tăng thêm giá trị, tiền đẻ ra tiền và tích luỹ tiền. . . trong tuần hoàn này tiền
là phơng tiện ứng ra trong lu thông . T là mục đích đat đ ợc trong lu thông. Vì
vậy hình nh lu thông đẻ ra giá trị còn sản xuất chỉ là khâu trung gian. Chính
do đó mà nó là hình thái phiến diện nhất che dấu quan hệ bóc lột TBCN.
Tuần hoàn TBSX có công thức SX-H-T. . . SX nói lên hoạt động lắp lại
một cách có chu kỳ của t bản SX. Hình thái này cho thấy rõ là nó từ quá trình
SX mà ra, là kết quả trực tiếp của SX. Tuần hoàn này cũng đã vạch rõ đợc
nguồn gốc của TB đều từ quá trình Sx mà ra. Song tuần hoàn này lại không
biểu thị việc SX ra giá trị thặng d kết cục nó cũng chỉ xuất hiện dới hình tháI
cần thiết để làm chức năng TBSX, thực hiện quá trình táI SX. Nó không hề
chỉ ra mục đích của quá trình là làm tăng giá trị. Do đó làm cho ngời ta dễ
lầm là mục đích của nó chỉ là bản thân SX, trung tâm vấn đề chỉ là cố gắng
SX thật nhiều và thật rẻ, có trao đổi cũng chỉ là trao đổi bình thờng để tiến
hành SX liên tục nên cũng không có hiện tợng SX thừa.
Tuần hoàn TB hàng hoá H-T-H-SX-H khác hẳn các hình thái tuần hoàn
khác ở chỗ điểm xuất phát bao giờ cũng bắt đầu bằng H, bằng một giá trị đã
tăng thêm giá trị, một giá trị TB ứng trớc đã chúa đựng giá trị thặng d với bất
kỳ quy mô nào.
5
II. >CHU CHUYểN CủA TB
1. Thời gian chu chuyển và số vòng chu chuyển
Sự tuần hoàn củaTB nói lên sự biến hoá hình thái TB của các giai đoạn lu
thông và SX. Nhng TB không phải chỉ biến hoá hình thái môt lần rồi dừng lại.
TB là một sự vận động chứ không phải là một vật đứng yên. TB luôn tồn tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status