đề tài: lý luận về tuần hoàn và chu chuyển tư bản áp dụng vào doanh
nghiệp ở Việt Nam
Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Có được những thành công đó chính là do đường lối đổi
mới kinh tế đúng đắn của Đảng ta đề ra trong hơn10 năm qua, mà trong đó có
sự đóng góp không nhỏ của việc thu hút vốn tạo cho nền kinh tế đạt được
những thành tựu vượt bậc: 5 năm liên tục tăng trưởng GDP hàng năm trung
bình 8%, lạm phát kiềm chế từ 3 số còn 1 số.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công chúng ta cũng đang phải
đương đầu với những khó khăn to lớn. Bởi vì để xây dựng thành công một
nền kinh tế mới, nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa,
chúng ta cần một khối lượng vốn đầu tư khổng lồ từ nhiều nguồn khác nhau.
Dự kiến chúng ta sẽ huy động một nửa từ các nguồn vốn nước ngoài và phần
còn lại sẽ huy động từ các nguồn vốn trong nước. Mối quan hệ giữa nguồn
lực trong nướcvà ngoài nước đã được thể hiện rất rõ trong nghị quyết kinh tế (
tháng12 năm 1997 ) của Hội nghị lần IV Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam ( khoá VIII ), đó là dựa vào: “nguồn lực trong nước là
chính đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng càng phát huy nội lực
mạnh thì càng khai thác được nhiều khả năng bên ngoài ”. Hiện nay nguồn
lực trong nước là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong công cuộc
phát triển kinh tế và vì vậy việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp
mang tính khả thi để khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nước đang là vấn
đề bức thiết hiện nay.
Với ý nghĩa đó , em đã chọn đề tài này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng,
song do trình độ có hạn, bài viết của em còn có nhiều thiếu sót. Vì vậy em
mong được sự phê bình và góp ý của các thầy, cô giáo trong khoa. Cuối
1 1
cùng em xin cám ơn thầy giáo Phạm Thành đã giúp đỡ em hoàn thành đề
tài này
TLSX ( Tư liệu sản xuất)
Hàng hoá, một mặt là tư liệu sản xuất và mặt khác là sức lao động, tức
là những nhân tố vật và người của sản xuất hàng hoá, những nhân tố mà đặc
tính đương nhiệm phải thích hợp với loại sản phẩm cần chế tạo. Nếu chúng ta
dùng SLĐ để chỉ sức lao động và TLSX để chỉ TLSX thì số hàng hoá cần
mua sẽ biểu thị thành : H = SLĐ + TLSX, hay
SLĐ
H <
TLSX
Do đó, xét về nội dung , T- H biểu hiện thành
SLĐ
T- H <
TLSX
Nghĩa là T- H phân thành T- SLĐ và T – TLSX, số tiền T chia làm hai
phần: Một phần mua SLĐ, còn phần kia mua TLSX. Hai hoạt động mua ấy,
diễn ra ở hai thị trường hoàn toàn khác nhau, một loạt ở thị trường hàng hoá
theo đúng nghĩa của nó, còn một loạt ở thị trường lao động. Nhưng ngoài sự
phân chia về chất ấy của số hàng hoá do T chuyển hoá thành , thì
SLĐ
T- H <
3 3
TLSX
Còn biểu thị một quan hệ về lượng có tính chất đặc trưng.
Giá trị hay giá cả của sức lao động trả cho người sở hữu sức lao động
đó- người này đem bán sức lao động như bán hàng hoá- dưới hình thái tiền
công , nghĩa là được trả giá cả của một số lao động chứa đựng cả lao động
thặng dư. Do đó ,
SLĐ
T- H < Không những không phải chỉ nói lên sự
chuyển
vi mua hàng hoá, vốn là hành vi lưu thông chung của hàng hoá, là giai đoạn
của quá trình tuần hoàn độc lập của tư bản , đồng thời cuãng là sự chuyển
hoá của giá trị tư bản từ hình thái tiền tệ của nó thành hình thái sản xuất của
nó, hay nói vắn tắt hơn là sự chuyển hoá của tư bản – tiền tệ thành tư bản sản
xuất. Như vậy trong hình thái tuần hoàn , tiền biểu hiện ra thành cái thứ nhất
mang giá trị tư bản và vì vậy, tư bản – tiền tệ là hình thái dưới đó tư bản ứng
ra.
Giá trị tư bản trong trạng thái tiền cũng chỉ có thể đảm nhiệm được
những chức năng của tiền thôi, ngoài ra không đảm nhiệm chức năng nào
khác. Cái làm cho những chức năng ấy trở thành những chắc năng của tư bản,
đó là vai trò nhất định của chúng trong sự vận động của tư bản, và do đó, là
mối liên hệ giữa giai đoạn trong đó những chức năng ấy xuất hiện, với các
giai đoạn kác của tuần hoàn của tư bản.
Một phần tiền , đảm nhiệm chức năng tư bản – tiền tệ trong hành vi
SLĐ
T- H <
5 5
TLSX
do hoàn thành chính ngay sự lưu thông ấy mà chuyển sang đảm nhiệm
một chức năng trong đó tính chất tư bản của nó biến mất , mà chỉ còn lại tính
chất tiền tệ của nó. Lưu thông của tư bản - tiền tệ T phân ra thành T- TLSX
và T- SLĐ là hành vi mua TLSX và mua SLĐ. Về phía nhà tư bản, T- SLĐ là
mua sức lao động, về phía người công nhân, kẻ sử hữu sức lao động thì T-
SLĐ là bán sức lao động. Cái đối với người mua là T – H ( = T- SLĐ) ,cũng
như mọi trường hợp mua , đối với người bán ( người công nhân ) nó là SLĐ -
T ( = H- T) là bán sức lao động của anh ta . Đó là giai đoạn lưu thông thứ nhất
hay là lần chuyển hoá thứ nhất của hàng hoá, về phía người bán lao động, đó
là sự chuyển hoá hàng hoá của hàng hoá của anh ta thành hình thái tiền tệ. Do
đó, toàn bộ lưu thông của hàng hoá của anh ta biểu hiện thành SLĐ- T –H tức
là thứ nhất SLĐ - T ( = H -T) và thứ hai, T- H : đó là hình thái chung của lưu
sức lao động đó. Một khi do bị đem bán đi mà sức lao động kết hợp với tư
liệu sản xuất, thì nó trở nên một bộ phận cấu thành của tư bản sản xuất trong
tay người mua nó, cũng như tư liệu sản xuất vậy.
Như vậy, thực chất của vấn đề làm cơ sở cho hành vi
SLĐ
T- H <
TLSX
là sự phân phối : không phải sự phân phối theo nghĩa thông thường, như
phân phối tư liệu tiêu dùng, mà là sự phân phối những yếu tố của bản thân sản
xuất hưn nữa những yếu tố vật thì tập trung ở 1 bên, còn sức lao động thì ở
bên khác, tách rời những yếu tố vật ấy.
7 7
Do đó trước khi hành vi T- SLĐ có thể trở thành một hành vi xã hội
phổ biến thì tư liệu sản xuất, phải đối diện với người lao động với tư cách là
tư liệu sản xuất, là tư bản cho nên đã giả thiết có tư bản dười hình thái tư bản
sản xuất và do đó giả thiết có hình thái tuần hoàn của tư bản sản xuất.
2) Giai đoạn 2:
SLĐ
T- H < .... SX... H’
TLSX
Tuần hoàn của tư bản xem xét ở đây bắt đầu bằng hành vi lưu thông T-
H, tức là sự chuyển hoá của hàng hoá của tiền thành hàng hoá, là mua vào. Do
đó, lưu thông này cần được bổ sung bằng sự chuyển hoá hình thái ngược lại,
H –T, tức là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền là bán ra. Do sự chuyển
hoá của tư bản- tiền tệ thành tư bản sản xuất, giá trị tư bản mang một hình
thái hiện vật trong đó nó không thể tiếp tục lưu thông được nữa mà phải đi
vào tiêu dùng, cụ thể là đi vào tiêu dùng sản xuất.Việc tiêu dùng sức lao động,
tức là lao động chỉ có thể thực hiện được trong quá trình lao động thôi. Nhà tư
bản không thể đem công nhân không phải là nô lệ của nhà tư bản và nhà tư
bản chỉ mua quyền sử dụng sức lao động của người công nhân trong một thời
những người sản xuất trực tiếp , tức là những người công nhân làm thuê, có
thể hoàn thành hành vi SLĐ- T- H thì các tư liệu sinh hoạt cần thiết phải luôn
luôn đối diện với họ dưới hình thái có thể mua được, tức là dưới hình thái
hàng hoá . Tình hình đó đòi hỏi sự lưu thông của sản phẩm dưới hình thái
hàng hoá phải đạt đến một trình độ cao rồi , và do đó , cũng đòi hỏi một quy
mô sản xuất hàng hoá rộng lớn. Khi sản xuất dựa vào lao động làm thuê trở
thành hình thái sản xuất phổ biến. Và khi giả định rằng sản phẩm hàng hoá
trở thành phổ biến thì về phía nó , nó lại đòi hỏi một sự phân công lao động
9 9
xã hội ngày càng tăng một sản phẩm do mỗi một nhà tư bản nhất địng sản
xuất ra hàng hoá, đòi hỏi những quá trình sản xuất bổ sung cho nhau ngày
càng được chia thành những quá trình độc lập. Cho nên, T – SLĐ càng phát
triển bao nhêiu thì T- TLSX cũng phát triển bấy nhiêu , nghĩa là viẹc sản xuất
ra tư liệu sản xuất cuãng tách rời bấy nhiêu cới việc sản xuất ra hàng hoá
dùng tư liệu sản xuất ấy làm ra tư liệu sản xuất, còn bản thân tư liệu sản xuất
thì lại đối diện với mỗi một người sản xuất hàng hoá với tư cách là những
hàng hoá mà họ không tư sản xuất ra, nhưng lại mua về để dùng vào một quá
trình sản xuất nhất định của mình. Những tư liệu sản xuất ấy được làm ra từ
nhiều ngành sản xuất hoàn thành tách rời với ngành sản xuất của người đó và
được kinh doanh một cách độc lập- những tư liệu sản xuất ấy đi vào ngành
sản xuất của người đó với tư cách là hàng hoá, do đó cần phải thông qua
hành vi mua. Các điều kiện vật của sản xuất hàng hoá ngày càng đối diện với
người sản xuất với tư cách là sản phẩm của những người sản xuất hàng hoá
khác với tư cách là hàng hoá, Và cũng theo mức độ ấy mà nhà tư bản nhất
định phải xuất hiện với tư cách là nhà tư bản tiền tệ, nói một cách khác là
cũng theo mức độ ấy mà địa bàn trong đó tư bản của hắn nhất định phải làm
chức năng tư bản tiền tệ được mở rộng ra.
Dù hình thái xã hội của sản xuất là những hình thái nào chăng nữa, thì
người lao động và tư liệu sản xuất bao giờ cũng vẫn là nhân tố của sản xuất.
Nhưng chừng nào còn bị tách rời nhau, thì cả hai cũng vẫn chỉ là những nhân
động không công cho tư bản và vì thế, nó tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư
bản, nghĩa là một giá trị mà nhà tư bản không phải trả bằng vật ngang giá .
Giá trị của nó = SX + M, tức là bằng giá trị của tư bản sản xuất hao phí để
chế tạo ra nó, SX , cộng với giá trị thặng dư M do tư bản sản xuất ấy đẻ ra.
3) Giai đoạn III : H-T
11 11
Hàng hoá trở thành tư bản – hàng hoá với tư cách là hình thái tồn tại
chức năng có giá trị tư bản đã tăng thêm giá trị trực tiếp do bản thân quá trình
sản xuất đẻ ra. Nếu sản xuất hàng hoá được tiến hành theo phương thức tư
bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn xã hội thì mỗi hàng hoá ngay từ đầu đã là
một yếu tố của tư bản hàng hoá.
Dưới hình thái hàng hoá của nó, tư bản nhất định phải hoàn thành chức
năng của hàng hoá . tất cả các vật phẩm cấu thành tư bản đó ngay từ đầu đều
được sản xuất cho thị trường, cần phải đem bán đi, phải chuyển hoá thành
tiền, do đó, phải thông qua vận động H- T.
Chức năng của H’ cũng là chức năng của mọi sản phẩm hàng hoá:
chuyển hoá thành tiền, bị bán đi, đi qua giai đoạn lưu thông H- T. Chừng nào
mà tư bản hiện đã tăng thêm giá trị vẫn giữ hình thái tư bản- hàng hoá, vẫn
nằm bất động trên thị trường , thì chừng ấy quá trình sản xuất vẫn bị ngừng
lại. Tư bản không tác động với tư cách là kẻ làm ra sản phẩm, cũng như n với
tư cách là kẻ làm ra giá trị. Tuỳ theo mức độ nhanh chậm khác nhau mà tư
bản dùng để trút bỏ hình thái hàng hoá và khoác lấy hình thái tiền, hay nói
một cách khác ,tuỳ theo tốc độ bán nhanh hay chậm, mà cũng một giá trị tư
bản ấy sẽ được sử dụng làm kẻ tạo ra sản phẩm và kẻ tạo ra giá trị trên những
mức độ rất khác nhau, do đó quy mô tái sản xuất cũng ẽ mở rộng ra hay thu
hẹp lại . Giờ đây, chúng ta thấy rằng quá trình lưu thông làm cho những tiền
lực mới phát huy tác dụng, những tiềm lực này quyết định mức độ hiệu
nghiệm sự bành trướng hay sự thu hẹp của tư bản, và độc lập với đại lượng
giá trị của tư bản.
Tiếp nữa, toàn bộ khối lượng hàng hoá H’, tức vật mang tư bản đã tăng
dươid hình thái tư bản – tiền tệ. ở cuối quá trình cái đã biến đổi không phải là
hình thái của giá trị ứng trước mà chỉ là đại lượng của nó thôi.
13 13
T =t chẳng qua chỉ là một số tiền có một lượng nhất định. Sự phân chia
ấy, do việc thực hiện tư bản- hàng hoá gây nên, xét về mặt nội dung không
phải chỉ có một tính chất hình thức mà phần dưới chúng ta sẽ nói đến, nó có
một ý nghĩa, tuỳ theo t được thêm toàn bộ, một phần, hay hoàn toàn không
thêm một chút nào vào T, nghĩa là tuỳ the t có tiếp tục làm chức năng thành
phần của giá trị – tư bản ứng trước hay không. Lưu thông của t và T cũng có
thể hoàn thành khác hẳn nhau.
Mặ dù T’ = T+ t là hình thức bất hợp lý của tư bản, nhưng đồng thời nó
cỉ biểu thị thư bản- tiền tệ dưới hình thái đã thực hiện tức là dứơi hình thái
tiền đã đẻ ra tiền. Nhưng ở đây cần phải thấy sự phân biệt với chức năng của
tư bản – tiền tệ ở giai đoạn thứ nhất.
SLĐ
T- H < TLSX
Trong giai đoạn thứ nhất này, lưu thông với tư cách là tiền. T làm chức
năng tư bản tiền tệ chỉ là vì trong trạng tahí tiền có thể chuyển hoá thành các
yếu tố của sản xuất, tơức là SLĐ và TLSX, những yếu tố đối diện với nó với
tư cách là hàng hoá. trong hành vi lưu thông này, T chỉ làm chức năng tiền tệ
thôi; nhưng vì hành vi ấy là giai đoạn thứ nhất trong quá trình vận động của
giá trị – tư bản, cho nên đồng thời nó lại là chức năng của tư bản tiền tệ, do
hình thái sử dụng đặc thù của hàng hoá SLĐ và TLSX mà nó mua vaò. Trái
lại, T’ – gồm có T, giá trị- tư bản, và t, giá trị thặng dư do giá trị tư bản đẻ ra-
lại biểu hiện một giá trị – tư bản đã tăng thêm giá trị- là mục đích và kết quả,
là hcức năng của toàn bộ quá trình tuần hoàn của tư bản. Sở dĩ T’ biểu hiện
kết quả ấy dưới hình thái tiền , thành tư bản tiền tệ đã thực hiện, điều đó
không phải vì T’ là hình thái tiền của tư bản, là tư bản- tiền tệ, mà trái lại, nó
là tư bản – tiền tệ, tức là tư bản dưới hình thái tiền, vì tư bản đã mở đầu quá
trình dưới hình thái đó, vì nó đã được ứng dưới hình thái tiền. Việc quay trở
15 15
khác nhau giữa chức năng tiền và chức năng hàng hoá. Tư bản- hàng hoá, với
tư cách là sản vật trực tiếp của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, mang
những dấu vết nói lên nguồn gốc đó của nó từ quá trình sản xuất, và chính vì
thế mà xét về mặt hình thái thì nó hợp lý hơn, không hợp lý như tư bản – tiền
tệ là cái mà trong đó không còn một vết tích nào của quá trình sản xuất , cũng
như nói chung , tiền thì mọi hình thái sử dụng đặc thù của hàng hoá đều biến
mất. Vì vậy , chỉ khi nào bản thân T’ làm chức năng tư bản, chỉ khi nào nó là
sản vật trực tiếp của một quá trình sản xuất , chứ không phải là hình thái
chuyển hoá của sản vật ấy , do đó , chỉ trong ngành sản xuất ra sản vật ấy, do
đó , chỉ trong ngành sản xuất ra bản thân vật liệu dùng làm tiền , thì tính chất
độc đáo của hình thái tiền của tư bản mới biến đi. Đối với việc sản xuất vàng,
chẳng hạn, thì công thức sẽ là:
SLĐ
T- H < ... SX ... T’
TLSX
( T + t) trong đó T’ biểu hiện ra thành sản phẩm hàng hoá, vì sản xuất
( SX) cung cấp một số vàng lớn hơn số vàng người ta ứng ra trong T lúc
đầu – tức là tư bản – tiền tệ- cho các yếu tố sản xuất ra vàng . Vậy là ở đây,
chỗ bất hợp lý trong biểu hiện T –T ( T +t) đã biến mất , trong biểu hiện này,
một bộ phận của một số tiền là cái đẻ ra một bộ phận khác của cũng một số
tiền ấy.
Như chúng ta đã thấy , đến cuối giai đoạn thứ nhất của nó, tức là
SLĐ
T- H < ,
TLSX
thì quá trình lưu thông bị sản xuất, SX, làm đứt đoạn, trong đó những
hàng hoá SLĐ và TLSX mua trên thị trường đều bị tiền dùng làm những bộ
phận cấu thành về vật chất và gía trị, của tư bản sanư xuất , sản phẩm của sự
16 16