Mở đầu
Cho tới nay trên thế giới có năm sự biến đổi lớn trong đó sự sụp đổ chủ nghĩa
xã hội liên Xô và các nớc Đông Âu đã có ảnh hởng mạnh mẽ tới chúng ta. Bởi lẽ
cách đây 50 năm sau khi giành đợc độc lập nhân dân ta bắt tay vào công cuộc xây
dựng đất nớc với muôn vàn khó khăn, cơ sở vật chất hầu nh không có. Trong chính
thời gian này LX và các nớc Đông Âu lúc đó vẫn còn là những nớc có nền kinh tế
phát triển, đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều đặc biệt là về vốn. Với sự giúp đỡ này trong
thời kỳ đầu nền kinh tế nớc ta đã có một bớc phát triển đáng kể. Nhng ngày nay khi
Liên Xô và Đông Âu tan rã thì nguồn viện trợ chính, nguồn vốn chính không còn
nữa, điều này đòi hỏi chúng ta phải tự thân vận động. Đồng thời trong thời kỳ này
quá trình quốc tế hoá đã và đang mở ra cho các nớc đang phát triển nói chung và nớc
ta nói riêng những cơ hội mới để phát triển kinh tế nhng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề
khó khăn thách thức, một trong những thách thức lớn nhất vẫn là tình trạng thấp nhất
của nền kinh tế. Vậy vấn đề đặt ra là phải tập trung phát triển nền kinh tế, rút ngắn
khoảng cách giữa nớc ta với các nớc phát triển, nhng thực tế hôm nay chúng ta lại
đang thiếu vốn trầm trọng bởi thế mà vốn đối với chúng ta thực sự cần thiết hơn bao
giờ hết. Có thể nói vốn là chìa khoá là một trông những điều kiện quyết của mọi quá
trình phát triển kinh tế, không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động sản xuất kinh
doanh mà không cần có vốn. Bởi vậy mà hiện nay vốn đang là vấn đề thời sự nóng
hổi đối với các doanh nghiệp nớc ta, đặc biệt là từ khi nền kinh tế chuyển từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
định hớng XHCN các doanh nghiệp này phải có trách nhiệm duy trì bảo tồn và phát
triển nguồn vốn hiện có nghĩa là doanh nghiệp tự mình sản xuất kinh doanh tự tìm
đầu vào đầu ra cho doanh nghiệp của mình. Do đó nghiên cứu lí luận tuần hoàn và
chu chuyển của t bản rất có ý nghĩa đối với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
trong các doanh nghiệp nhà nớc.
Chính vì ý nghĩa đó mà em chọn đề tài này. Tuy nhiên đề tài về vốn là một đề
tài rất rộng lớn nó bao hàm nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực liên quan đến nó, bởi vậy
1
mà trong phạm vi nhỏ hẹp của dề tài này chỉ đề cập đến vấn đề sử dụng có hiệu quả
của nguồn vốn trong các doanh nghiệp nhà nớc. Đề tài này đợc nghiên cứu bằng các
Do đó, xét về nội dung T-H biểu hiện thành T-H- TLSX, nh thế có nghĩa là T-H
\ SLĐ
3
phân thành T- SLĐ ,T- TLSX.
Số tiền T chia thành hai phần, một phần mua sức lao động, còn phần kia mua
t liệu sản xuất. Hai loại ấy diễn ra ở hai thị trờng hoàn toàn khác nhau một loại ở thị
trờng hàng hoá theo đúng nghĩa của nó còn một loại ở thị trờng lao động nhng ngoài
sự phân chia về chất ấy của số hàng hoá do T chuyển hoá thành T-H-TLSX thì còn
biểu thị một quan hệ về lợng có tính chất đặc trng.
\SLĐ
Chúng ta biết rằng giá trị hay giá cả của sức lao động trả cho ngời sỏ hữu sức
lao động đó, ngời này bán sức lao động nh bán hàng hoá, dới hình thái tiền công
nghĩa là đợc trả làm giá của một số lao động chứa đựng cả lao động thặng d nữa:
Do đó T-H-SLĐ không những biểu thị một quan hệ vật chất, không phải chỉ nói
\ TLSX
nên sự chuyển hoá của một số tiền nhất định thành t liệu sản xuất và sức lao động t-
ơng xứng với nhau nó còn biểu thị một mối quan hệ về lợng giữa cái phần tiền bỏ ra
mua sức lao động và cái phần bỏ ra mua TLSX, một quan hệ đã đợc quyết bởi tổng
số lao động thặng d tức là lao động dôi ra mà công nhân nhất định phải bỏ ra.
Trong các nghành công nghiệp khác nhau việc sử dụng lao động phụ thêm
phải bỏ thêm một giá trị phụ đến mức nào dới hình thái t liệu sản xuất điều đó hoàn
toàn không quan trọng chỉ có một điều cần tính đến là: trong mọi tình huống cái
phần tiền chi phí về t liệu sản xuất phải đủ dùng do đó phải đợc tính toán trớc phải đ-
ợc cung cấp theo một tỷ lệ thích đáng. Nói một cách khác khối lợng t liệu sản xuất
cần phải đủ để thu hút khối lợng lao động, phải đủ để khối lợng lao dộng ấy chuyển
hoá thành sản phẩm, nếu không có một khối lợng sản phẩm đầy đủ thì không thể sử
dụng số lao động thừa ra do ngời mua chi phối, quyền chi phối của ngời đó đối với
lao động ấy sẽ không đem lại gì cả. Nếu TLSX lại có nhiều hơn số lao động mà ngời
mua chi phối đợc, thì những TLSX ấy sẽ không thoả mãn đợc lòng thèm thuồng
lao động của chúng sẽ không chuyển hoá đợc thành sản phẩm.
5
T-SLĐ là yếu tố đặc trng trong sự chuyển hoá của t bản tiền tệ thành t bản sản
xuất, vì đó là điều kiện căn bản để cho giá trị ứng ra dới hình thái tiền tệ thực tế
chuyển hoá thành t bản, thành giá trị đẻ ra giá trị thặng d. T-TLSX chỉ cần thiết để
thực hiện khối lao động đã mua đợc trong hành vi T-SLĐ. Hành vi T-SLĐ nói chung
đợc coi là đặc trng của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa là hình thái của nó bởi d-
ới hình thái tiền công lao động đợc mua bằng tiền mà điểm này lại đợc coi là đặc tr-
ng của kinh tế tiền tệ.
Có điều không hợp lý ở chỗ bản thân lao động yếu tố cấu thành giá trị không
thể có một giá trị nào cả, nhng chúng ta biết rằng tiền công chỉ là một hình thái cải
trang. T-SLĐ đợc xem là nét đặc trng của nền kinh tế tiền tệ chính là vì tính chất tiền
tệ của quan hệ bán và mua sự hoạt động của con ngời. Nhng tiền đã xuất hiện rất
sớm với t cách là ngời mua những cái gọi là những sự phục vụ và mặc dầu thế T vẫn
không chuyển hoá thành t bản tiền tệ và tính chất chung của nền kinh tế vẫn không
bị đảo lộn.
Về phía ngời công nhân thì anh ta chỉ có thể đem ứng dụng sức lao động của
mình vào sản suất khi nào sức lao động đó kết hợp với t liệu sản xuất, sau khi bán đi.
Vậy là trớc khi bán, sức lao động của anh ta tách rời với t liệu sản xuất, với những
diều kiện sản xuất của việc ứng dụng sức lao động đó. ở trong trạng thái tách rời nh
vậy, nó không thể đem dùng để trực tiếp sản xuất ra những giá rị sử dụng cho ngời sở
hữu nó, cũng không thể đem dùng để sản xuất ra những hàng hoá mà anh ta có thể
đem bán đi để sống. Nhng một khi bị đem bán đi mà sức lao động kết hợp với t liệu
sản xuất thì nó trở nên một bộ phận cấu thành của t bản sản xuất trong tay ngời mua
nó cũng nh t liệu sản xuất vậy.
Vậy những t liệu sản xuất ấy đối diện với ngời sở hữu sức lao động với t cách
là sở hữu của ngời khác. Mặt khác ngời bán lao động đối diện với ngời mua lao động
với t cách là sức lao động của ngời khác, sức lao động ấy nhất định phải đợc thuộc về
tay ngời mua chi phối, phải kết hợp với t bản của hắn để cho t bản ấy có thể thực sự
thể hiện ra là t bản sản xuất. Do đó quan hệ giai cấp giữa nhà t bản và ngời lao động
6
đây nhà t bản bắt công nhân phải vận dụng t liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm.
7
Kết quả là nhà t bản có đợc một số hàng hoá mới mà giá trị của chúng lớn hơn giá trị
của những nhân tố đã dùng để sản xuất ra số hàng hoá đó. Vàcông lao kết hợp hai
hàng hoá này, vốn hoàn toàn bị tách rời nhau là của t bản đã ứng ra thực hiện. Sức
lao động và t liệu sản xuất, vì vậy trở thành hình thái tồn tại của giá trị t bản ứng trớc,
chúng phân thành những yếu tố khác nhau của t bản sản xuất. Phơng thức kết hợp đó
không chỉ là kết quả, mà còn là yêu cầu của sự vận động của t bản, quá trình sản
xuất vì vậy trở thành một chức năng của t bản, trở thành quá trình sản xuất t bản chủ
nghĩa. Trong khi làm chức năng của mình, t bản sản xuất tiêu dùng các thành phần
của bản thân nó để biến các thành phần ấy thành một khối lợng sản phẩm có giá trị
lớn hơn. Vì sức lao động chỉ tác động nh một trong những khí quan của t bản, nên
phần tăng ra của giá trị, sản phẩm ngoài giá trị các yếu tố hình thành ra sản phẩm tức
là phần tăng lên do lao động thặng d đẻ ra, là quả thực của t bản. Lao động thặng d
của sức lao động là lao động không công cho t bản, và vì thế nó tạo ra giá trị thặng d
(m) cho nhà t bản, nghĩa là một giá trị mà nhà t bản không phải trả bằng vật ngang
giá, do đó sản phẩm không phải chỉ là hàng hoá ,mà là một hàng hoá đã mang cho
mình một giá trị thặng d. Giá trị của nó = SX + m, tức là bằng giá trị của t bản sản
xuất hao phí để sản xuất ra nó, sản xuất cộng với giá trị thặng d m do t bản sản xuất
ấy đẻ ra.
Nh vậy kết quả của giai đoạn thứ hai là t bản sản xuất biến thành t bản hàng hoá .
c. Giai đoạn thứ ba : H
T
Sản xuất ra hàng hoá, t bản cha thể ngừng vận động vì t bản đang tồn tại dới
hình thái hàng hoá, cần phải đem bán để thu tiền về. Quá trình này có thể biểu hiện
bằng công thức: H- T.
Không khác gì hàng hoá thông thờng, hàng hoá- t bản ném vào lu thông cũng
hoá thnhf nhiều lần hay một lần: hành vi đó đợc biểu thị bằng H-T. Nhng cũng một
hành vi lu thông H-T đó lại khác nhau đối với giá trị-t bản và đối với giá trị thặng
d. Giá trị thặng d h chỉ đợc đẻ ra trong quá trình sản xuất. Do đó, nó xuất hiện trên
thị trờng hàng hoá lần đầu tiên và hơn nữa lại xuất hiện dới hình thái hàng hoá: đó là
9
hình thái lu thông đầu tiên của nó, cụ thể là hành vi h-t. Bởi vậy hành vi đó cần đợc
bổ sung bằng hành vi lu thông ngợc lai t-h.
Nhng cũng trong hành vi lu thông H-T đó, lu thông do giá trị- t bản thực
hiện thì lại khác đối với giá trị-t bản ấy, đó là hành vi lu thông H-T, trong đó H=SX,
tức là bằng số T ứng ra lúc đầu. Giá trị t bản đã mở đầu hành vi lu thông đầu tiên của
nó với t cách là T, với t cách là t bản-tiền tệ, và trở lại cũng dới hình thái ấy bằng
hành vi H-T, nh thế là nó đã thông qua hai giai đoạn lu thông đối lập: T-H và H-T,
một lần nữa lại quay về hình thái làm cho nó có thể bắt đầu lại cũng một quá trình
tuần hoàn ấy. Cái mà đối với giá trị thặng d là sự chuyển hoá đầu tiên từ hình thái
hàng hoá sang hình thái tiền, thì đối với giá trị-t bản lại là bớc quay trở lại hay sự
chuyển hoá trở lại hình thaí tiền của nó lúc đầu.
Nh vậy, hình thái tiền ở đây đóng hai vai trò: một mặt nó là hình thái trong đó
một giá trị ứng ra lúc đầu dới hình thái tiền quay trở về, mặt khác nó là hình thái
chuyển hoá đầu tiên của một giá trị mới bắt đầu đi vào lu thông dới hình thái hàng
hoá. Nếu những hàng hoá hợp thành t bản hàng hoá đợc bán theo đúng giá trị của
chúng thì H+h sẽ chuyển hoá thành cái có giá trị ngang với nó là T
+t. Bây giờ, giá trị t bản và giá trị thặng d đều là tiền. Nh vậy đến cuối quá trình giá
trị-=t bản lại trở về cía hình thái mà nó đã khoác lấy khi mới bớc vào quá trình và do
đó nó lại có thể bắt đầu và thực hiện quá trình ấy với t cách là t bản-tiền tệ. Chính vì
hình thái ban đầu và hình thái cuối cùng của quá trình đều là hình thái t bản tiền tệ
cho nên chúng ta gọi quá trình tuần hoàn dới hình thái này là tuần hoàn của t bản-
tiền tệ.
T+t chẳng qua chỉ là một số tiền có một lợng nhất định. Nhng với t cách là kết
quả của tuần hoàn t bản, là t bản-hàng hoá đã đợc thực hiện, số tiền ấy gồm giá trị t
bản và giá trị thặng d: nhng cả hai không chằng chịt với nhau mà bây giờ chúng tồn
năng độc lập khác hẳn nhau. Tchẳng qua chỉ là việc thực hiện H.
Cả hai, H và T,chỉ là những hình thái khác nhau của giá trị-t bản hình thái
hàng hoá và hình thái tiền tệ đã tăng thêm giá trị,cả hai cùng có một điểm chúng đều
11
là giá trị-t bản đã tăng thêm giá trị. Cả hai đều là t bản đang hoạt động. T và H chỉ
là một, chỉ biểu hiện một vật, nhng chẳng qua chỉ biểu hiện dới những hình thái khác
nhau thôi: chúng phân biệt với nhau không phải với t cách là t bản-tiền tệ và t bản-
hàng hoá, mà với t cách là tiền và hàng hoá. Trong chừng mực chúng là giá trị đã
tăng thêm giá trị thì chúng chỉ biểu hiện cái kết quả của chức năng t bản sản xuất,
chức năng duy nhất trong đó t bản đẻ ra giá trị. Điểm chung của chúng là cả hai đều
là phơng thức tồn tại củăt bản. Một bên là t bản dới hình thái tiề, một bên là t bản dới
hình thái hàng hoá. Vì vậy những sự khác nhau của các chức năng đặc thù làm chúng
phân biệt nhau, chẳng qua chỉ là sự khác nhau giữa chức năng tiền tệ và chức năng
hàng hoá.
Tổng hợp quá trình vận động của t bản trong cả ba giai đoạn ta có công thức:
T-H SLĐ SX H-T
TLSX
Trong công thức này, với t cách là một giá trị, t bản đã trải qua một chuỗi biến
hoá hình thái có quan hệ với nhau, quy định lẵn nhau, có beo nhiêu hình thái là có
bấy nhiêu thời kỳ hay giai đoạn của quá trình vận động của t bản. Trong giai đoạn
đó, có hai giai đoạn thuộc lĩnh vực lu thông, và một giai đoạn thuộc lĩnh vực sản
xuất.
Vậy tuần hoàn của t bản là sự biến chuyển liên tiếp của t bản qua ba giai đoạn,
trải qua ba hình thái, thực hiện ba chức năng tơng ứng, để trở về hình thái ban đầu
với lợng giá trị lớn hơn.
Tuần hoàn của t bản chỉ có thể tiến hành bình thờng chừng nào các giai đoạn
khác nhau của nó không ngừng chuyển tiếp. Mặt khác, bản thân sự tuần hoàn lại làm
cho t bản phải nằm lại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Do
đó, sự vận động tuần hoàn của t bản là một sự vận động kiên tục không ngừng, đồng
12