Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta - Pdf 29

Lời nói đầu
Bớc lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai cuộc
chiến tranh giữ nớc khốc liệt, nền kinh tế nớc ta vốn đã lạc hậu lại càng thêm kiệt
quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì trệ đó, nớc
ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, khiến cho đất n-
ớc lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong khi đó, nhờ sử
dụng triệt để kinh tế thị trờng mà CNTB đã đạt đợc những thành tựu về kinh tế- xã
hội, phát triển lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Cũng nhờ kinh tế
thị trờng, quản lý xã hội đạt đợc những thành quả về văn minh hành chính, văn
minh công cộng; con ngời nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức
đua tranh phát triển. Trớc tình hình đó, trong Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời
nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển sang xây dựng kinh tế thị trờng theo
định hớng XHCN, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu
nớc mạnh xã hội công bằng văn minh.
Mới chập chững bớc vào nền kinh tế thị trờng đầy gian khó, phức tạp, nền kinh tế
Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân
nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong quá
trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học cái chung và
cái riêng có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về kinh tế thị tr-
ờng.
Để góp thêm một tiếng nói ủng hộ đờng lối phát triển kinh tế mà Đảng và
nhà nớc ta đang xây dựng, tôi chọn vấn đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và cái
chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trờng ở nớc ta" làm
công trình nghiên cứu của mình.
Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ của mình
trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi ngời vào công cuộc đổi mới của nhà n-
ớc ta, và giúp mọi ngời quen thuộc hơn với một nền kinh tế mới đợc áp dụng ở
Việt Nam- nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN trong điều kiện thế giới hiện
nay.
1
Chơng 1

tế thị trờng bắt buộc phải tuân theo.
2
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung đợc quan niệm
khác nhau. Phái duy thực đồng nhất thợng đế với cái chung và cho rằng chỉ có cái
chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng. Đối
lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh nh P. Abơla (1079- 1142),
Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tợng tồn tại riêng biệt với
những chất lợng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm cái chung chỉ là
sản phẩm của t duy của con ngời. Thấy đợc và khắc phục hạn chế của hai quan
niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cái riêng có mối liên
hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại một cách khách quan.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện
sự tồn tại. Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng. Ví dụ qui luật
bóc lột giá trị thặng d của nhà t bản là một cái chung, không thế thì không phải là
nhà t bản, nhng qui luật đó đợc thể hiện ra ngoài dới những biểu hiện của các nhà
t bản (cái riêng).
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có
cái Riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập ,Thí dụ:Mỗi con ngời là một cái riêng nhng
mỗi con ngời không thể tồn tại ngoàI mối liên hệ với tự nhiên và xã hội. Nền kinh
tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung-cầu,quy luật QHSX phù hợp với tính
chất và trình độ của LLSX,dó là cái chung .Nh vậy sự vật hiện tợng nào cũng bao
hàm cái chung
Cái chung là bộ phận,nhng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ
nhng phong phú hơn cái chung. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc
điểm chung ,cái riêng còn có cái đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái
riêng phản ánh những thuộc tính ,những mối liên hệ ổn định,tất nhiên, lặp lại ở
nhiều cái riêng cùng loại .Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất,quy định
phơng hớng tồn tại và phát triển của cái chung.
Có thể khái quát một công thức nh sau:

khi xét tập hợp các cây nh bạch đàn, phợng vĩ, bàng nhng nếu xét trong phạm vi
thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ các loại cây, mà ngoài ra
thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm... Xét một ví dụ khác, qui luật cung- cầu là cái
chung trong nền kinh tế thị trờng, nhng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong
lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc trng cho kinh tế thị trờng mà không thể là
đặc điểm chung cho mọi hình thức khác nh kinh tế tự cung tự cấp chẳng hạn.
Trong một số trờng hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng định cái
riêng là cái chung. Ví dụ nh những câu sau: hoa hồng là hoa, kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN là kinh tế thị trờng... Những trờng hợp đó thể hiện mâu
thuẫn giữa cái riêng và cái chung. Quan hệ bao trùm của cái riêng đối với cái
chung đã trở thành quan hệ ngang bằng. Tuy nhiên những định nghĩa nh trên chỉ
4
nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi không thuộc sự vật ấy, chứ
không dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật.
Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tợng,trong những điều kiện nhất
định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngợc lại cái chung có thể
biến thành cái đơn nhất ,nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo
điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con ngời trở thànhcái chung và
cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung, ta đã đa ra một
số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trờng của Việt nam một cách thích
hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trởng của các nớc phát triển trên thế giới, tăng c-
ờng cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
5
Chơng 2:
Cái chung và cái riêng nhìn dới vấn đề
Kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới
Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nớc ta đang hoà
nhập với nền kinh tế thị trờng thế giới, sự giao lu về hàng hoá, dịch vụ và đầu t
trực tiếp của nớc ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nớc ta gần gũi hơn với

sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia
đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất
cái gì, sản xuất nh thế nào và cái quyết định của ngời công nhân về việc làm bao
lâu, cho ai đều đợc dung hòa bằng sự điều chỉnh giá cả". Ta cũng có thể định
nghĩa thị trờng là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu.
Kinh tế thị trờng là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lợng và hiệu quả cao; d thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ đợc mở
rộng và coi nh hàng hoá thị trờng; năng động, luôn luôn đổi
mới mặt hàng, công nghệ và thị trờng. Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trờng, với những đặc trng cơ bản nh: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng
thị trờng, tự do kinh doanh, tự do thơng mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu,
phân phối do quan hệ cung- cầu...
3.1.2. Chuyển sang kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan
Xét về hoàn cảnh lịch sử, xuất phát điểm của nền kinh tế nớc ta là kinh tế
phong kiến. Ngoài ra nớc ta vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nớc khốc
liệt, mà ở đó, cơ sở vật chất vốn đã ít ỏi còn bị tàn phá nặng nề.
Sau chiến tranh, ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hoá tập
trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX. Trong thời gian đầu sau
chiến tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ của các nớc trong hệ
thống XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy đợc tính u việt của nó. Từ một
nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nớc đã tập trung
vào tay mình một lợng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status