Chương 1:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. 1. Giới thiệu đề tài
Từ khi nước ta bắt đầu sự nghiệp đổi mới, tình hình kinh tế xã hội nước
ta đã và đang phát triển rất nhanh. Thực trạng quản lý tài nguyên rừng kể cả
trước mắt và lâu dài không chỉ kiểm soát bởi một quyền lực là nhà nước hay
quốc doanh. Từ thực tiễn đó đồi hỏi chúng ta phải thay đổi về phương pháp
tiếp cận trong quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng và
đất rừng nói riêng. Lâm nghiệp xã hội (LNXH) ra đời là nhầm hướng tới
chuyển từ nền Lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sang nền Lâm nghiệp
nhân dân có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Trên thực tế LNXH đã xuất
hiện ở nước ta qua hai thập kỷ và hiện đang được phát triển, LNXH đã và
đang góp phần xứng đáng vào chiến lược giữ gìn và phát triển tài nguyên
rừng, xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn miền núi. LNXH nó đề cập
đến giáo diện giữa xã hội, con người tác động lên cơ sở tài nguyên rừng và
ngược lại. Tài nguyên rừng chi phối lên đời sống các cộng đồng con người để
làm cơ sở thu hút sự tham gia của các cộng đồng địa phương vào việc quản lý
tài nguyên rừng vì lợi ích của chính họ. Việc nghiên cứu chủ yếu ở cấp độ địa
phương trong vùng nông thôn ở cấp thôn xã, những nơi mà tài nguyên rừng
chi phối một cách có ý nghĩa đến đời sống của họ.
Ngày 27/5/2002, Tỉnh uỷ tỉnh Bình Thuận ban hành Nghị quyết số 04NQ/TU về xây dựng và phát triển toàn diện dân sinh kinh tế xã hội vùng dân
tộc thiểu số. Trong đó có giải pháp giao khoán bảo vệ rừng cho Đồng bào dân
tộc thiểu số quản lý bảo vệ. Việc thực hiện giải pháp này đã giúp giải quyết
phần nào đời sống khó khăn của Đồng bào sống ven rừng, đồng thời tăng
thêm một lực lượng bảo vệ rừng đáng kể cho các đơn vị chủ rừng, và là lực
lượng từng gắng bó với nghề rừng nên am hiểu địa bàn cũng như quy luật của
những đối tượng phá rừng, điều đó giúp cho những khu vực có lực lượng
nhận khoán bảo vệ rừng tình hình phá rừng đã giảm đáng kể.
1
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2005 – 2013.
- Phạm vi công việc: tác động của công tác giao khoán quản lý bảo vệ
rửng đến đời sống kinh tế, xã hội của Đồng bào dân tộc thiểu số.
1.4. Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá ảnh hưởng của công tác giao khoán bảo vệ rừng đến đời sống
kinh tế, xã hội của Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn, trên lâm phận Ban
quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; để từ đó
có những đề xuất nâng cao hiệu quả công tác giao khoán bảo vệ rừng của đơn
vị.
1.5. Mục tiêu nghiên cứu.
+ Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội của xã Phan Sơn,
huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
+ Tìm hiểu về Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy
+ Tìm hiểu quá trình thực hiện công tác giao khoán bảo vệ rừng cho
Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn trên lâm phận Ban quản lý rừng
phòng hộ Sông Lũy..
+ Đánh giá :tác động của công tác giao khoán quản lý bảo vệ rửng đến
đời sống kinh tế, xã hội của Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn
+ Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác giao khoán
quản lý bảo vệ rừng, nâng cao đời sống người dân.
3
Chương 2.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.2 Các vấn đề liên quan đến đề tài
2.2.1 Một số chính sách liên quan đến quản lý tài nguyên rừng và động
viên người dân tham gia trong giao khoán bảo vệ rừng
- Quyết định 202/TTg ngày 2/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ về
việc giao khoán QLBVR, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng.
- Nhà nước ta đã ban hành nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Thủ
tướng Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Năm 1999, Chính phủ đã ban hành nghị định 02/CP, mở rộng việc
giao rừng và đất rừng, quy định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của của người
nhận đất rừng theo hai hình thức giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp. Hiện
nay, tại địa phương mới chỉ áp dụng cho các hộ đồng bào dân tộc.
- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng
Chính phủ về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được
thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Quyết định này nhằm tạo động lực
kinh tế khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
- Quyết định 3013/1997/QĐ-BNN-KL ngày 10/11/1997 của Bộ trưởng
NN&PTNT ban hành quy chế xác định ranh giới và cấm mốc các loại rừng.
- Quyết định số 2057/QĐ-CT.UBBT ngày 09/8/2002 phê duyệt
phương án giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
* Nhằm thúc đẩy cho người dân thực hiện tốt trong việc giao khoán
BVR, Nhà nước ta đã ban hành thêm nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện cho
từng hộ gia đình thực hiện:
5
- Chỉ thị số 426/TTg ngày 11/9/1993 về việc quản lý chặc chẽ việc
khai thác, vận chuyển và xuất khẩu gỗ.
- Chỉ thị số 287/TTg ngày 2/5/1997 của thủ tướng Chính phủ về việc
tổ chức kiểm tra truy quét những cá nhân, tổ chức phá hoại rừng.
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng
chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về
hợp trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương, mỗi
thành viên tham gia nhận khoán rừng sẽ góp công sức của mình trong việc
bảo vệ rừng. Khi người dân tham gia nhận khoán BVR, coi như họ đã trở
thành chủ của lô rừng, sẽ gắn trách nhiệm với lô rừng nhận khoán của mình.
Có trách nhiệm như vậy sẽ làm giảm tình trạng người ngoài tiếp cận tự do vào
rừng để khai thác gỗ trái phép. Công tác tuần tra QLBVR sẽ góp phần ngăn
chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép, hạn chế cháy rừng. Khi đó, tài
nguyên rừng sẽ không những tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng.
* Bảo vệ tài nguyên rừng:
Bảo vệ tài nguyên rừng là một trong những công việc quan trọng, trong
đó công tác giao khoán rừng là gắn trách nhiệm của người dân với rừng, đưa
người dân làm trọng tâm trong nghề rừng. Nhưng hiện nay, do sự tiếp cận
thiếu hiểu biết của cộng đồng bên ngoài vào rừng làm ảnh hưởng lớn đến
nhiều diện tích rừng. Vì nhu cầu cuộc sống buộc họ phải làm như vậy, họ
không cần biết những ảnh hưởng của rừng như thế nào, điều cần trước mắt là
ổn định thu nhập cho cuộc sống của họ. Đứng trước thực trạng tài nguyên
rừng ngày càng bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, Đảng và Nhà nước
ta đã có những chủ trương chính sách đúng đắn nhưng phải phù hợp với xu
thế phát triển lâm nghiệp hiện nay. Chính sách này không những dễ áp dụng
cho cộng đồng miền núi mà còn có thế áp dụng ở nhiều khu vực khác. Trọng
tâm của giao khoán rừng trước mắt là bảo vệ rừng.
* Bảo đảm cân bằng hệ sinh thái:
7
Hệ sinh thái trên trái đất bao gồm con người, đất, thực vật,… tất cả tồn
tại như một mắt xích chung nhất. Khi có một lý do nào đó mà một mắt xích bị
phá vỡ nó sẽ kéo theo sự mất đi của mắt xích khác. Nhưng để tồn tại thì mắt
xích đó cần phải có đầy đủ các yếu tố. Tài nguyên rừng cũng như vậy, chúng
phải có những điều kiện cần như các yếu tố về điều kiện tự nhiên (đất, nước,
của các cộng đồng người dân tộc tại vùng gần rừng.
- Người dân đã dần dần thích ứng với việc canh tác theo hướng thâm
canh trên đất lâm nghiệp. Họ cũng phần nào ý thức được tầm quan trọng của
các tài nguyên rừng và bảo vệ chúng ngày càng tốt hơn.
(2) Kết quả nghiên cứu của Đặng Quang Dần, luận văn tốt nghiệp
2003 - Đại học Nông – Lâm thành phố Hồ Chí Minh, tại Lâm trường Đức
Trọng, Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy:
- Tiến trình thực hiện và hiệu quả của dự án giao rừng cho hộ thành
viên quản lý bảo vệ còn ít nhiều ảnh hưởng bởi sự quản lý Lâm nghiệp truyền
thống nên khi xây dựng dự án để thực thi nó còn mang xu thế khảo hướng từ
trên xuống và người ngoài cuộc (người quản lý lâm nghiệp) quyết định là chủ
yếu.
- Vì cách quản lý như vậy, trong quá trình thực thi dự án hiệu quả đạt
chưa cao và chưa ổn định tài nguyên rừng, kinh tế xã hội, vấn đề con người
cũng chưa được giải quyết thỏa đáng.
(3) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận - Đại học Nông – Lâm
thành phố Hồ Chí Minh, luận văn tốt nghiệp 2005, tại Lâm trường Sông Kôn,
Bình Định. Kết quả tìm hiểu tiến trình giao khoán đất rừng thực hiện ở xã
Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, bước đầu đạt được:
- Qua dự án, người dân có thêm thu nhập hàng năm từ 2-3 triệu đồng/
hộ/ năm, từ tiền trả công quản lý bảo vệ rừng và tiền nhận đất trồng rừng mới,
đã nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân.
- Qua dự án, khoảng cách giữa người dân và chính quyền được rút ngắn
9
lại, thuận lợi cho việc triển khai các chủ trương, chính sách của nhà nước sau
này. Mặt khác, người dân học hởi được một số kiến thức về kĩ thuật trồng cây,
chăm sóc cây từ cán bộ dự án.
- Việc triển khai dự án gặp phải một số hạn chế sau: đa số người dân
(2009) “Sự tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý bảo vệ
rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình
Thuận”. Phạm Minh Dương (2009) “Tìm hiểu tình hình giao khoán bảo vệ
rừng và trồng rừng trên địa bàn Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Mao, huyện
Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận”.
11
Chương 3.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu:
+ Điều kiện cơ bản của địa phương xã Phan Sơn có ảnh hưởng đến
tiến trình cũng như kết quả của chính sách giao khoán bảo vệ rừng và phát
triển rừng.
+ Một số chính sách về giao khoán quản lý bảo vệ rừng, cho thuê đất
lâm nghiệp và một số văn bản chính khác có liên quan.
+ Chính sách giao khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng đã được áp
dụng tại xã Phan Sơn
+ Quá trình thực hiện công tác giao khoán bảo vệ rừng cho Đồng bào
dân tộc thiểu số xã Phan Sơn, trên lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ Sông
Lũy..
+ Tác động của công tác giao khoán quản lý bảo vệ rửng đến đời sống
kinh tế, xã hội và môi trường của Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn
+ Đánh giá mặt mạnh và mặt yếu, thuận lợi và khó khăn làm cơ sở đề
xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao đồi sống người dân nhận khoán và
hiệu quả của công tác giao khoán bảo vệ rừng tại đơn vị Ban quản lý rừng
phòng hộ Sông Lũy.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi thực hiện những
Chương 4.
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
4.1. Đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế, xã hội của xã Phan Sơn
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu:
4.1.1.1. Diện tích:
Xã Phan Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 17.850 ha, trong đó
Đất lâm nghiệp 13.306 ha
Đất nông nghiệp 1.900 ha;
Đất chưa sử dụng : 1.050 ha ;
Đất khác : 1134 ha ; Đất khu dân cư : 42 ha
Quỷ đất nông nghiệp địa phương còn nhiều, nhưng nắng suất cây trồng
thấp ; cần được đầu tư lớn, đồng bộ, nhất là phải có các hồ, đập trữ nước nhằn
nâng cao năng suất, tăng vụ và bố trí cây trồng phù hợp để cải thiện đời sống
nhân dân địa phương.
4.1.1.2. Vị trí khu vực giao khoán
- Khu vực giao khoán bảo vệ rừng thuộc các Tiểu khu 24, 47, 48, 56,
58°, 64, 65, 74, 82, 97, 98, 99, 100, 101, 105; do Ban quản lý Rừng phòng hộ
Sông Lũy quản lý..
Tứ cận:
- Bắc giáp đất lâm nghiệp được quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho
nhân dân xã Phan Sơn.;
- Nam giáp rừng tự nhiên thuộc Tiểu khu 101;
- Đông giáp rừng tự nhiên thuộc Tiểu khu 100;
- Tây giáp đất lâm nghiệp được quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho
nhân dân xã Phan Sơn..
4.1.1.3. Địa hình - Thổ nhưỡng
Địa hình:
14
Khu vực giao khoán bảo vệ rừng có sông Đakêtrou là con sông lớn nhất
của xã Phan Sơn, bắt nguồn từ ranh giới tỉnh Lâm Đồng ; là nguồn cung cấp
nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp trong vùng.. Trong lâm phận có rất
nhiều suối nhỏ nước chảy xiết vào mùa mưa, dễ gây ra lũ quét cục bộ, nhưng
khô kiệt vào mùa nắng.
4.1.2. Dặc điểm kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số : theo số liệu thống kê năm 2010 thì xã Phan Sơn có
706 hộ với số nhân khẩu là 3541. , trong đó Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
95 % (chủ yếu là dân tộc Rắc Lây, Kờ Ho. Số` hộ già và khá giả là 342 hộ, số
hộ nghèo 260 hộ, tỷ lệ hộ nghè toàn xã là 36,8 %, hộ cận nghèo là 104 hộ
chiếm 14,7%.
Số lao động trong toàn xã là 1364 người, chiếm 38,5% ; trong đó số lao
động sản xuất nông nghiệp chiếm 98 %. Nhìn chung chất lượng lao động còn
rất thấp, việc học tập và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn
rất nhiều khó khăn, thu nhập của các hộ sản xuất nông nghiệp thuộc hàng thấp
nhất trong huyện.
4.1.2.2. Thủy lợi: xã có 01 hồ chứa nước (mục đích chính là thuỷ điện,
kết hợp sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt), 06 đập dâng. Năng lực tưới tiêu
cho 281,57 ha. Nhìn chung số lượng công trình còn khá ít do với diện tích sản
xuất nông nghiệp của xã, khả năng trữ nước cho mùa khô còn hạn chế. Đa số
các công trình nhỏ, hệ thống kênh mương chủ yếu là kênh hở bằng đất, không
được gia cố nên thưởng xuyên bị hư hỏng, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất của
nhân dân.
4.1.2.3. Về giao thông liên lạc:
Trụ sở UBND của xã nằm trên trục lộ Đại Ninh cách huyện lỵ Bắc bình
khoảng 30 km về phía Nam và nối với quốc lộ 20 từ thành phố Hồ Chí Minh
đi Đà Lạt khoảng 30 km về hướng Tây Bắc, tương đối thuận lợi trong giao
thông.
17
Diện tích giao khoán tối đa là 40 ha/ hộ.
Hồ sơ giao khoán bảo vệ rừng phải thể hiện đầy đủ về diện tích, ranh
giới lô, khoảnh, trên bản đồ và trên thực địa, có điều tra trữ lượng, chất lượng
rừng.
Nội dung giao khoán bảo vệ rừng phải thể hiện rỏ quyền lợi và nghĩa
vụ, trách nhiệm của chủ rừng,, người nhận khoán, bảo đảm tính pháp lý để
thực hiện có hiệu quả theo quy định.
Theo mục tiêu ban đầu đề ra mức kinh phí 03 năm đầu là 100.000
VNĐ/ ha/ năm. Sau đó giảm dần và chuyển sang thực hiện đầy đủ chính sách
hưởng lợi theo Quyết định số: 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/01/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho
thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp để dần dần tăng thu nhập của hộ
nhận khoán, bảo đảm mức thu nhập này phải cao hơn mức kinh phí 100.000
VNĐ/ ha/ năm; coi đây là nguồn thu ổn định, lâu dài, gắn kết giữa quyền lợi
và trách nhiệm của hộ nhận khoán.
4.2.2. Cơ sở pháp lý công tác giao khoán bảo vệ rừng ở Ban quản lý rừng
phòng hộ Sông Lũy nói chung, trên địa giới hành chính xã Phan Sơn nói
riêng.
- Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 của Chính Phủ về mục
tiêu, nhiệm vụ chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng.
- Quyết định số: 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/01/2001 của Thủ tướng
Chính phủ về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê,
nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Nghị quyết số: 04-NQ/TU, ngày 27/5/2002 của Tỉnh uỷ tỉnh Bình
Thuận về xây dựng và phát triển toàn diện dân sinh kinh tế xã hội vùng dân
tộc thiểu số.
Quyết định số: 2057/QĐ-CT.UBBT ngày 09/8/2002 của
19
UBND tỉnh Bình Thuận về việc phê duyệt phương án giao khoán bảo vệ rừng
cho hộ Đồng bào dân tộc thiểu số 11 xã thuần và các thôn xen ghép và Quyết
định số: 178/SNN/PTLN ngày 20/8/2002 của Sở Nông nghiệp & PTNT về
việc hướng dẫn thực hiện phương án giao khoán bảo vệ rừng cho hộ Đồng
bào dân tộc thiểu số 11 xã thuần và các thôn xen ghép; Ban Quản lý rừng
phòng hộ Sông Lũy đã tiến hành xây dựng Hồ sơ thuyết minh - thiết kế giao
khoán bảo vệ rừng cho hộ Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn và Phan
Tiến (là 02 xã thuần dân tộc thiểu số của huyện Bắc Bình) với những nội dung
chính sau:
Phương thức giao khoán: giao khoán đến hộ Đồng bào dân tộc thiểu
số trên cơ sở tự nguyện có sự chứng kiến của UBND các xã có liên quan.
- Tổng diện tích thiết kế: 7059,51 ha ha.
- Tổng diện tích giao khoán: 7024,97 ha.Trong đó::
Thiết kế giao khoán bảo vệ rừng cho 175. hộ Đồng bào dân tộc thiểu
số xã Phan Sơn, thuộc các Tiểu khu: 24, 47, 48, 56, 58°, 64, 65, 74, 82, 97,
98, 99, 100, 101, 105; lâm phận ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, địa bàn
hành chính xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
- Tổng trữ lượng khu giao khoán BVR là 491235. m 3; trữ lượng bình
quân là 254,885 m3/ ha.
- Hiện trạng tại thời điểm giao khoán là:
IIIA3: 168,04 ha;
IIIA2: 1876,97 ha;
IIIA1: 951,81 ha;
IIA: 2305,58 ha;
IIB: .1429,25 ha;
tiện việc sinh hoạt, thông tin và tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng. Các tổ tiến hành
bầu chọn Tổ trưởng, Tổ phó để điều hành tổ gắn kết với các trạm bảo vệ rừng
tương ứng trên địa bàn của đơn vị chủ rừng. Căn cứ vào số thành viên mà các
21
tô trưởng, Tổ phó cùng với Trạm trưởng Trạm BVR lên kế hoạch phân công
các thành viên luân phiên tuần tra bảo vệ rừng để vừa đảm bảo quân số đủ
mạnh, vừa không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của bà con.
Công tác nghiệm thu:
Hàng tháng, các Tổ trưởng cùng trạm trưởng tổ chức họp rút kinh
nghiệm quá trình hoạt động trong tháng, lên kế hoạch công tác tháng, quý tiếp
theo.
Hàng quý đơn vị chủ rừng cùng với UBND xã tổ chức nghiệm thu
công tác giao khoán bảo vệ rừng để làm cơ sở thanh toán tiền công cho các
4.3. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện công tác giao
khoán bảo vệ rừng cho Đồng bào dân tộc thiểu số xã Phan Sơn.
4.3.1. Thuận lợi:
Chủ trương giao khoán đất lâm nghiệp để sản xuất và giao khoán bảo
vệ rừng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân là có đất sản xuất ổn định, có
công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập, nên được người dân rất đồng tình, từ
đó ổn định tư tưởng, ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Công tác giao khoán bảo vệ rừng được sự quan tâm của các cấp chính
quyền địa phương. Ngay sau khi Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số: 04-NQ/TU,
ngày 27/5/2002 thì ngày 09/8/2002,UBND tỉnh Bình Thuận ra Quyết định số:
2057/QĐ-CT.UBBT việc phê duyệt phương án giao khoán bảo vệ rừng cho hộ
Đồng bào dân tộc thiểu số 11 xã thuần và các thôn xen ghép và ngày
20/8/2002, Sở Nông nghiệp & PTNT ra Quyết định số: 178/SNN/PTLN về
việc hướng dẫn thực hiện phương án giao khoán bảo vệ rừng cho hộ Đồng
bào dân tộc thiểu số 11 xã thuần và các thôn xen ghép.
4.3.2. Khó khăn:
Hiện nay trên địa bàn tỉnh, việc giao khoán chỉ dừng lại ở tuần tra bảo
vệ rừng, mà chưa được giao bất kỳ một quyền lợi nào đối với diện tích rừng
được giao; Với mức tiền công nhận khoán bảo vệ rừng 100.000 đồng/ ha/
năm, bình quân một hộ nhận khoán 40 ha có thu nhập 4.000.000 đồng/ năm,
23
một tháng khoảng 333.333 đồng là quá thấp so với nhiệm vụ bảo vệ 40 ha, và
càng thấp so với mức tiền công lao động hiện nay là 120.000 – 150.000 đồng/
ngày. Vì vậy các hộ nhận khoán vẫn thường xem số tiền này như là của Nhà
nước hổ trợ hơn là tiền công nhận khoán bảo vệ rùng; Sự ràng buộc trách
nhiệm của người nhận khoán cũng chưa rỏ ràng, khi xảy ra phá rừng trên diện
tích giao khoán thì đơn vị chủ rừng vẫn là người chịu trách nhiệm trước pháp
luật. Từ đó thức trách nhiệm của hộ nhận khoán, tinh thần làm chủ tài nguyên
đất nước của cộng đồng chưa được nâng cao.
Các hộ nhận khoán đa số có trình độ học vấn chưa cao, nhận thức về
pháp luật và các chính sách bảo vệ và phát triển rừng còn kém, trang thiết bị
gần như không được cấp nên hiệu quả công tác bảo vệ rừng chưa cao.
4.4.. Đánh giá tác động của công tác giao khoán quản lý bảo vệ rửng đến
đời sống kinh tế, xã hội và môi trường của Đồng bào dân tộc thiểu số xã
Phan Sơn
Quá trình thực công tác giao khoán bảo vệ rừng cho Đồng bào dân tộc
thiểu số xã Phan Sơn, lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy đến nay
đã đạt được một số kết quả nhất định.:
4.4.1. Về kinh tế:
Việc nhận khoán bảo vệ rừng tuy trước mắt tiền công nhận khoán
chưa cao (100.000 VNĐ/ha/năm), với diện tích rừng nhận khoán bảo vệ bình
quân 40 ha/ hộ thì tiền công nhận khoán bình quân mỗi hộ được 4.000.000
VNĐ là số tiền không lớn, nhưng với mức thu nhập bình quân của các hộ
hoặc do thiếu đất phải phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp làm nương rẫy trái
phép nên rất rỏ những quy luật, mánh khóe, thủ đoạn của bọn lâm tặc đã góp
phần ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng khá hiệu
quả; và các hộ này cũng đã bỏ hẳn việc phá rừng.
Với mối quan hệ thân tộc hoặc xóm giềng, các hộ nhận khoán có điều
kiện xâm nhập nội bộ các đối tượng phá rừng để nắm bắt thông tin và cung
25