LUẬN VĂN: Tác động của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tác động của sự phát triển khu kinh tế cửa
khẩu Lào Cai đến đời sống
kinh tế - xã hội của tỉnh
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông" với Việt Nam, có
nền kinh tế quy mô, tăng trưởng mạnh, đang thực thi chiến lược nhất thể hóa kinh tế khu
vực mà Việt Nam được coi là "cầu nối" giữa các nước phương Nam với Trung Quốc, là
"cầu nối" Đông Nam á với Đông Bắc á. Do vậy, củng cố, phát triển quan hệ hợp tác toàn
diện với Trung Quốc, phát huy vai trò "cầu nối" trước hết trong khuôn khổ khu vực mậu
dịch tự do ASEAN- Trung Quốc, tích cực khai thác thị trường Trung Quốc, đặc biệt là thị
trường Tây Nam Trung Quốc, sẽ là hướng chiến lược kinh tế đối ngoại quan trọng, góp
phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nhanh, ổn định lâu dài của Việt Nam.
Trong đó đẩy mạnh quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Vân Nam cũng như với
Quảng Tây có vai trò then chốt.

Sự kiện ảnh hưởng mạnh và trực tiếp hơn đến quan hệ kinh tế thương mại Việt
Nam - Vân Nam Trung Quốc là tháng 11/2002 Hiệp định thương mại hợp tác kinh tế toàn
diện ASEAN - Trung Quốc đã được ký kết, mở đường cho việc xây dựng khu vực mậu
dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) mà Việt Nam - Vân Nam Trung Quốc có vị
trí vai trò "cửa ngõ" của ACFTA.
Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam
Trung Quốc, có nhiều tiềm năng về kinh tế, với nhiều tuyến đường sắt, đường bộ, đường
thủy và khả năng phát triển đường hàng không, có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai
được nối thông với Côn Minh - Trung Quốc.
Lào Cai còn có ưu thề về tiềm năng khoáng sản (35 loại khoáng sản), 150 điểm mỏ và nổi
tiếng là nơi nhiều tiềm năng phát triển du lịch với những danh lam thắng cảnh như Sa Pa,
Bắc Hà. Tuy nhiên, Lào Cai vẫn là một tỉnh nghèo, cơ cấu kinh tế là nông, lâm - công
nghiệp, xây dựng - thương mại, du lịch. Đến nay sau gần 10 năm thực hiện Quyết định
100/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách

đối với khu kinh tế cửa khẩu (KTCK) đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ qua hệ kinh tế -
thương mại của Lào Cai với Vân Nam Trung Quốc, cơ sở hạ tầng của khu KTCK đã
được nâng cấp với nhiều dự án. Việc hình thành và phát triển khu KTCK Lào Cai đã đẩy
mạnh hơn nữa giao lưu kinh tế qua cửa khẩu giữa hai nước, qua đó đẩy mạnh phát triển
kinh tế hàng hóa trong nước. Chúng ta cần nhìn nhận những tác động này không chỉ
trong thời gian trước mắt mà về lâu dài, khu KTCK Lào Cai sẽ có mức phát triển nhanh
hơn, trở thành vùng động lực kinh tế để kéo các vùng nghèo hơn cùng đi lên, cùng phát
triển.
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của việc phát triển khu KTCK Lào
Cai trong công cuộc đổi mới, cần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc phát triển kinh
tế của cửa khẩu Lào Cai, qua đó chỉ rõ sự tác động của khu KTCK Lào Cai đối với đời
sống kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời đề ra những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự
phát triển khu KTCK ở Lào Cai là vấn đề cấp thiết hiện nay. Do vậy, tác giả luận văn
chọn vấn đề "Tác động của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến đời sống
kinh tế - xã hội của tỉnh" làm đề tài luận văn thạc sĩ, với hy vọng sẽ đóng góp một phần

- Nhiệm vụ của đề tài
+ Hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về KTCK: khái niệm và các mô hình
khu KTCK, sự cần thiết, vai trò của khu KTCK, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành
và phát triển khu KTCK…
+ Phân tích, đánh giá thực trạng sự phát triển, tác động kinh tế - xã hội của khu
KTCK Lào Cai.
+ Phân tích rõ triển vọng, phương hướng và giải pháp nhằm phát triển khu
KTCK ở Lào Cai.
- Phạm vi nghiên cứu

Thực trạng phát triển khu KTCK Lào Cai từ 2001 - 2005; tác động của khu
KTCK Lào Cai đến kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quan hệ kinh tế
đối ngoại, những chủ trương, chính sách, pháp luật về khu KTCK. Luận văn còn kế thừa
có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các bài viết đã được
công bố có liên quan đến đề tài.
- Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp logic kết hợp với lịch sử để phân tích,
đánh giá sự tác động kinh tế - xã hội của khu KTCK Lào Cai. Ngoài ra, luận văn còn sử
dụng các phương pháp khác như thống kê, khảo sát, tổng hợp, so sánh.
5. Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về khu KTCK.
- Đưa ra những đặc thù của khu KTCK Lào Cai.
- Đánh giá đúng thực trạng sự phát triển khu KTCK Lào Cai, sự tác động kinh tế
- xã hội của khu KTCK Lào Cai.
- Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban
ngành của tỉnh tham khảo trong việc hoạch định các chính sách phát triển khu KTCK của
tỉnh. Đồng thời, luận văn còn là tư liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên

45
2.1. Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai 45
2.2. Tác động của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến đ
ời
sống kinh tế - xã hội của tỉnh
56

Chương 3: phương hướng và một số giải pháp chủ yếu thúc đ
ẩy
sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu lào cai tác đ
ộng
đến đời sống kinh tế - xã h
ội của tỉnh trong thời
gian tới
91
3.1. Các quan điểm cơ bản và phương hư
ớng phát triển khu kinh tế cửa
khẩu Lào Cai
91
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 98
Kết luận
121 những công trình liên quan đến luận văn đã được công bố
123

Danh mục tài liệu tham khảo
124


Kông đang có nhiều dự án xây dựng cầu, đường thúc đẩy phát triển kinh tế theo tuyến
hành lang Đông - Tây trên cơ sở dòng chảy tự nhiên của sông Mê Kông. Tất cả các điều
kiện thuận lợi trên chỉ có thể phát huy tốt khi có mô hình kinh tế thích hợp, đặc biệt phải
kể đến khu KTCK.

Khái niệm khu KTCK được hình thành trên cơ sở hàng loạt các khái niệm có liên
quan. Trước hết là khái niệm: "Giao lưu kinh tế qua biên giới". Theo nghĩa hẹp, khái
niệm này bao gồm các hoạt động trao đổi thương mại, trao dổi hàng hóa giữa các cư dân,
các doanh nghiệp nhỏ đóng tại địa bàn biên giới xác định, thường là những nơi có các
cửa khẩu biên giới. Trên thực tế, những hình thức này có thể được thực hiện ở các dạng
chợ biên giới, thậm chí ở các đường mòn biên giới với một khối lượng hàng hóa và giá trị
theo quy định của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương. Với nhiều mức độ khác nhau,
giao lưu kinh tế biên giới theo nghĩa hẹp là hình thức diễn ra phổ biến ở tất cả các quốc
gia có đường biên giới chung trong điều kiện hòa bình. Tuy nhiên, có một điều dễ thấy là
quy mô, mức độ hoạt động kinh tế - thương mại diễn ra khác nhau giữa các vùng, miền,
khu vực biên giới cả nước vì nó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ
phát triển kinh tế; điều kiện tự nhiên; vị trí địa lý; chính sách biên mậu; các tiềm năng,
thế mạnh tại chỗ; sự ổn định về an ninh chính trị Vì vậy, xuất hiện một nội dung rộng
hơn, bao quát hơn trước tức giao lưu kinh tế qua biên giới là tất cả các hoạt động kinh tế -
thương mại, đầu tư khoa học và công nghệ qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia
có đường biên giới chung. Nội dung của giao lưu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng
không chỉ đơn thuần là buôn bán, trao đổi hàng hóa thông thường, mà còn bao hàm cả
các hoạt động về hợp tác khoa học - công nghệ, đầu tư lẫn nhau, hoạt động XNK, liên
doanh phát triển kết cấu hạ tầng, du lịch qua biên giới Chúng ta thấy rõ rằng, giao lưu
kinh tế qua biên giới được phát triển từ hình thức trao đổi hàng hóa đơn giản trở thành
các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng. Kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Thái
Lan cho thấy, đây chính là một hướng phát triển quan trọng để thành lập các khu mậu
dịch tự do biên giới, khu hợp tác kinh tế tiểu vùng, khu KTCK. Đây là những điều kiện
chuẩn bị cho sự hội nhập, mở cửa với kinh tế khu vực và thế giới. Trong lịch sử, các hình
thức kinh tế song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia có đường biên giới chung,

KTCK, chúng ta xem xét nó trong sự so sánh với các mô hình kinh tế khác:

- Khu công nghiệp, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,
không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên của Chính phủ hay địa
phương, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
- Khu chế xuất, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất
khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu với hoạt động xuất khẩu, có
ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc
biệt của Chính phủ, do Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
- Khu công nghệ cao, là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu, triển
khai khoa học - công nghệ, đào tạo các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định,
được hưởng chế độ ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập.
Như vậy, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao là ba loại hình của
đặc khu kinh tế, chúng có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ mục đích, đối tượng
tham gia, mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. Khu công nghiệp thường được
thành lập ở những vùng đình trệ về kinh tế, nơi có nhiều người thất nghiệp, nhưng lại có
sẵn ưu thế phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý thuận lợi. Được nhận sự
ưu tiên nhất định từ phía chính quyền địa phương và Chính phủ, có vai trò thúc đẩy phát
triển kinh tế địa phương. Khu công nghiệp bao gồm những doanh nghiệp trong nước,
doanh nghiệp nước ngoài. So với khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được xác định là
khu công nghiệp nhưng tập trung những doanh nghiệp chuyên sản xuất, chế biến các
hàng xuất khẩu, được sự ưu tiên đặc biệt của Chính phủ, có vai trò then chốt trong việc
chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở. Còn khu công nghệ cao, điểm khác
biệt chính là ở mục đích phát triển công nghệ kỹ thuật cao, thu hút công nghệ nước ngoài,
tiếp thu và chuyển giao công nghệ cao, nâng cao năng lực công nghệ trong nước [34, tr.
15].


* Mô hình không gian: Là mô hình đòi hỏi được xây dựng trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản như tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, các hiệp
định và hiệp ước quốc tế; đảm bảo sự phối hợp tốt tất cả các yếu tố để các quốc gia có
đường biên giới chung đều có lợi, đảm bảo về môi trường, sự phối hợp các nguồn lực khi
triển khai; tìm kiếm các yếu tố tương đồng, các vị trí tạo ra khả năng phát triển đối xứng,
Mặt khác, có mối liên hệ tốt trong nội địa dể bù đắp sự thiếu hụt về nguồn lực và trao đổi
hàng hóa, cũng như tránh các vị trí bất lợi xảy ra tranh chấp, lấn chiếm, nơi chứa chấp
các hoạt động tội phạm. Trong mô hình không gian có một số loại hình cụ thể sau:
- Mô hình đường thẳng: Đây là mô hình có ưu điểm là một mặt giảm sự tập trung
cao về biên giới, một mặt có thể sử dụng kênh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở
đường giao thông. Vì thế nó phải có các tuyến đường sắt, đường bộ hoặc đường sông,
kèm theo đó là các khu công nghiệp, đô thị, cảng biển ở mỗi bên với một cự ly hợp lý.
Thông thường, mô hình này được lựa chọn ở những nơi có lối mòn dân cư hai bên qua lại,
do nhu cầu trao đổi tăng, giao thông phát triển trở thành cửa khẩu. Đây là mô hình cơ sở
cho các mô hình khác (hình 1.1.a).
- Mô hình có quạt giao nhau ở cán: Là mô hình dựa trên cơ sở hai bên đã có
hàng loạt các đô thị, khu công nghiệp, các vùng sản xuất nông nghiệp có khoảng cách
thích hợp với đường biên giới, khoảng cách này được hình thành tự nhiên hoặc do quy
ước giữa hai bên, việc trao đổi hàng hóa tập trung về khu kinh tế theo đường giao thông
gần nhất. Mô hình này có tính tập trung cao về thương mại, còn gọi là khu thương mại tự
do (hình 1.1.b).
- Mô hình quạt giao nhau ở cánh: Là mô hình được xây dựng dựa trên việc các
khu đô thị, khu công nghiệp tập trung, hàng hóa ở hai bên trao đổi phân tán ở nhiều cặp
chợ biên giới, thích hợp cho những nơi có địa hình bằng phẳng, đông dân cư (hình 1.1.c).
- Mô hình lan tỏa: Mô hình lan tỏa được sử dụng thích hợp dựa trên
cơ sở tập quán sinh hoạt của dân cư, phù hợp với các cặp chợ, thị trấn ven đường biên
giới. Sử dụng mô hình này sẽ tận dụng được các yếu tố tự nhiên, các công trình kết cấu hạ
tầng sẵn có hoặc do hai bên cùng hợp tác xây dựng (hình 1.1.d).
Hình 1.1.c: Mô hình quạt
giao


cánh

Hình 1.1.b: Mô hình quạt
giao nhau


cán

Hình 1.1.d: Mô hình
lan t

a

Chú thích:
Khu kinh tế cửa khẩu: Đường biên giới:

Đường giao thông đô thị Khu công nghiệp: độc lập, cạnh tranh cùng phát triển. Do đó chúng có những điểm bố trí tương đồng nhau
về kết cấu, bao gồm: Khu dân cư; khu thương mại và dịch vụ; khu vui chơi giải trí; khu
sản xuất và khu hành chính.
Khu sản xuất Các cửa kiểm soát Khu hành chính

Khu thương mại
và dịch vụ


và dịch vụ

doanh đầu tư
phát triển và kinh
doanh hạ tầng
thuê đất)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khu KTCK đặc biệt
* Mô hình thể chế: Đây là phương thức để Nhà nước soạn thảo chính sách phù
hợp với thực tế hoạt động của khu KTCK ở các quốc gia có đường biên giới chung. Việc
xây dựng thể chế, chính sách phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, các hiệp định,
thỏa thuận song phương hoặc đa phương, truyền thống và tập quán, bản sắc văn hóa của
mỗi quốc gia. Đảm bảo giữ gìn hòa bình, cùng có lợi, bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững. Chủ động cùng trao đổi với nhau những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc, tạo điều
kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, cư dân mỗi nước tham gia hoạt động sản xuất kinh
doanh. Những thông tin về tình hình xây dựng cơ chế, chính sách phát triển khu KTCK mỗi
nước cần được trao đổi thường xuyên, cùng phối hợp điều chỉnh, thực hiện cho phù hợp.
Các nhóm thông tin cần thường xuyên trao đổi bao gồm:
- Khảo sát thực tế nguồn lực trong khu vực hai bên cùng quy ước: Điều kiện tự
nhiên; kinh tế, xã hội, văn hóa; dân tộc, tập quán, các thế mạnh và những hạn chế được
bổ sung.
- Những vấn đề về cơ chế, chính sách chung như đường lối, chủ trương, chính sách
của Nhà nước Trung ương và địa phương, những văn bản pháp lý gắn với việc xây dựng,
phát triển khu KTCK, cũng như những hiệp định, thỏa ước có liên quan.
- Các thông tin về chính sách thực hiện cụ thể trong hoạt động XNK, các biểu
thuế và thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập cảnh đối với người, phương tiện; những văn
bản quy định về đầu tư trong nước và nước ngoài vào khu vực KTCK, cũng như tất cả
các biện pháp bảo vệ an ninh, môi trường cho sự phát triển khu KTCK.
- Những văn kiện dự kiến đưa ra trao đổi, thỏa thuận và phân cấp hợp tác giữa
hai bên, các dự án phối hợp tiến hành cùng với những đối tác trực tiếp tham gia.

-

Th


ch
ế

kinh t
ế

c

a

các cơ chế, chính sách ưu đãi tại khu KTCK. Chính sự thu hút này đã làm cho các ngành,
các địa phương trong cả nước, tùy theo quy mô, sự hấp dẫn của cơ chế, chính sách ưu đãi
mà thực hiện sự chuyển dịch sản xuất, lưu thông hàng hóa cho phù hợp. Trong điều kiện của
Việt Nam, nông nghiệp hàng hóa đang cần mở rộng thị trường đầu ra, cần sự đầu tư và
trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến. Những nhu cầu này sẽ được đáp ứng tốt nếu
chúng ta biết sử dụng, khai thác có hiệu quả mô hình KTCK. Đối với các ngành thuộc
lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và du lịch cũng có yêu cầu như vậy, thậm chí còn cao hơn,
vì thế phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để nhanh chóng hội nhập với các nước trong
khu vực, trên thế giới. Điều này càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế hàng hóa chậm phát
triển, thị trường nhỏ hẹp, sức mua thấp, khả năng cạnh tranh còn yếu như nước ta.
Khu KTCK là nơi tiếp giáp, cửa ngõ của mỗi quốc gia với bên ngoài. Trong điều
kiện hòa bình, hữu nghị đây thường là nơi qua lại thăm thân nhân và diễn ra trao đổi,
buôn bán giữa dân cư biên giới hai nước, bên cạnh đó khi môi trường kinh tế phát triển
thuận lợi, khu KTCK cũng là nơi thể hiện sự giao thoa về các chính sách kinh tế đối
ngoại của các quốc gia có đường biên giới chung. Cho nên, những nhu cầu về kinh tế cả

các kênh hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong cả nước phát triển, nhờ đó kinh tế - xã hội của
vùng (địa phương) cũng ngày càng phát triển. Ngược lại, kinh tế - xã hội càng tiến bộ sẽ
có điều kiện tạo ra nhiều loại hàng hóa phong phú, giá thành rẻ, khả năng cạnh tranh cao
đáp ứng nhu cầu giao lưu kinh tế - thương mại cửa khẩu, từ đó quy mô, vị trí và tỷ trọng
thương mại KTCK cũng tăng lên là nền tảng thúc đẩy khu KTCK phát triển. Mối quan hệ
này gắn bó chặt chẽ hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển nếu trong quá trình
thực hiện biết xác định đúng mục tiêu, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế và đảm bảo sự
hỗ trợ kịp thời về mặt pháp lý của Nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương
1.1.2.2. Vai trò của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu
* Thúc đẩy mở rộng thị trường và lưu thông hàng hóa
Khu KTCK phát triển tạo điều kiện để tỉnh Lào Cai và các địa phương khác
trong nước mở rộng thị trường XNK, giảm chi phí trung gian do đó nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa, dịch vụ trao đổi. Khu KTCK Lào Cai thúc đẩy quá trình chuyển

dịch nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phát triển ở các
vùng để hình thành nên một khu vực thị trường rộng lớn có khả năng thu hút và thâm
nhập với các khu vực thị trường khác. Sự phát triển của thị trường do khu KTCK tạo ra
còn có tác động thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, tạo thêm những
ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động không chỉ
ở khu vực cửa khẩu mà ở nhiều vùng lân cận. Trao đổi thương mại thông qua khu
KTCK đã góp phần tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế của khu, vùng và cả
nước, đặc biệt là các tỉnh thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa.
* Thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội vùng cửa khẩu
- Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn: Khu KTCK nói chung, Lào Cai
nói riêng góp phần hiện đại hóa nông thôn và thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Thông qua
hoạt động của khu KTCK, các sản phẩm nông nghiệp có được thị trường tiêu thụ, hạ giá
thành, nâng cao chất lượng. Mặt khác, chúng ta sẽ có điều kiện nhập từ nước khác nhiều
thiết bị, vật tư, giống cây trồng, vật nuôi cần thiết, học hỏi được nhiều kinh nghiệm của
họ để phát triển nông nghiệp. Sự phát triển khu KTCK nói chung, Lào Cai nói riêng còn

thu nhập dân cư. Buôn bán tại khu KTCK cũng làm giảm bớt tỉ lệ đói nghèo, đời sống
nhân dân được nâng cao từng bước. Sự phát triển khu KTCK còn tạo điều kiện hình
thành các khu dân cư tập trung dọc biên giới, phát triển kết cấu hạ tầng, các tuyến đường
giao thông, hệ thống bưu chính viễn thông, hệ thống chợ, mạng lưới cung cấp điện góp
phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của dân cư, đẩy mạnh giao lưu kinh tế văn hóa,
đẩy lùi các tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới, thắt chặt tình
hữu nghị giữa hai nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới.
- Thúc đẩy quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo và các lĩnh vực khác: Phát triển
khu KTCK sẽ là cơ sở để thúc đẩy quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo. Cùng với việc

thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế hai bên sẽ có điều kiện trao đổi nghiên cứu
khoa học, phối hợp đào tạo. Trong quá trình phát triển khu KTCK Lào Cai một vài năm
gần đây, việc hợp tác khoa học giữa Vân Nam và Việt Nam đã được đẩy mạnh một bước
trong các lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật chế biến sản phẩm, công nghiệp khai
thác tài nguyên và hương liệu thiên nhiên. Hợp tác kinh tế tại khu KTCK Lào Cai cũng
tạo điều kiện để hai nước Việt Nam - Trung Quốc tăng cường hợp tác văn hóa như tôn
tạo, bảo tồn các khu di tích, thắng cảnh, phát triển kết cấu
hạ tầng du lịch như đường sá, khách sạn, dịch vụ y tế, khu vui chơi giải trí. Ngoài ra, hai
nước còn hợp tác trong việc bảo vệ môi trường, xã hội: sử dụng có hiệu quả tài nguyên
rừng, nước; ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường qua biên giới; hợp tác chống ma
túy, buôn lậu, gian lận thương mại; bảo vệ sức khỏe cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh
lây lan qua biên giới. Tuy nhiên, đi kèm với những vai trò tích cực do khu KTCK đem lại
là nhiều vấn đề xã hội nhức nhối như buôn lậu, ma túy, mại dâm, khoảng cách giàu
nghèo ngày càng gia tăng
1.2. Sự cần thiết và những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển
khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
1.2.1. Sự cần thiết hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
Trong vài thập niên đây gần qua, khu vực Châu á - Thái Bình Dương được đánh
giá là khu vực phát triển kinh tế thương mại năng động nhất với sự cất cánh kinh tế của

XNK quá cảnh từ Vân Nam đi Việt Nam, ra các nước thứ ba và ngược lại.
- Cửa khẩu Lào Cai - Hà Khẩu là cửa khẩu duy nhất giữa Việt Nam - Trung
Quốc hội đủ tất cả các loại hình vận tải: Đường sắt, đường bộ, đường sông và trong
tương lai sẽ có cả đường hàng không. Tuyến đường sắt Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng
dài 854 km được Pháp xây dựng trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 là tuyến vận tải
ngắn nhất, hiệu quả nhất. Hiện nay được xác định là tuyến đường xuyên á: Côn Minh -
Lào Cai - Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyến đường bộ hành lang Côn Minh - Hải
Phòng đi qua cửa khẩu Quốc tế Lào Cai đã và đang là tuyến đường huyết mạch vận

chuyển hàng hóa giữa hai nước Việt - Trung. Tuyến đường sông Hồng - con sông cái của
vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc, qua
Lào Cai, về Hà Nội cũng là tuyến giao thông quan trọng. Nếu được khai thông, nạo vét,
tuyến giao thông này sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong việc vận chuyển hàng hóa, phục vụ
du lịch cho cả hai bên.
- Cửa khẩu Lào Cai là cửa khẩu duy nhất ở phía Bắc Việt Nam nằm trong lòng
một thành phố trực thuộc tỉnh, nên có cả hệ thống dịch vụ của một thành phố phục vụ cho
nhu cầu giao lưu thương mại, XNK, quá cảnh và du lịch giữa hai nước. Đây là lợi thế rất
quan trọng của cửa khẩu Lào Cai.
Song song với những thuận lợi trên, đối diện với cửa khẩu Lào Cai là cửa khẩu
Hà Khẩu của cả vùng Tây Nam Trung Quốc rộng lớn, bao gồm 12 tỉnh, thành phố với diện
tích hơn 5 triệu km
2
, chiếm 60 % diện tích toàn Trung Quốc, dân số hơn 300 triệu người.
Đây là vùng miền núi, nhiều dân tộc, trình độ sản xuất và mức sống của nhân dân chưa
phát triển bằng vùng duyên hải Trung Quốc như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải.
Nhằm cải thiện đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa
miền Đông và miền Tây, những năm gần đây, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tiến
hành triển khai chính sách "Đại khai phá miền Tây", với nhiều chủ trương, chính sách ưu
đãi, tập trung nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế thương mại cho
vùng này. Nhu cầu về hàng hóa ở đây rất đa dạng, yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status