luận văn: Tác động của M&A xuyên quốc gia&Bài học cho VIỆT NAM - Pdf 11


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

“Tác động của M&A xuyên quốc
gia&Bài học cho VIỆT NAM.”

Trang 1

Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU


Kết cấu đề tài:
Bài tiểu luận của tôi gồm có những phần chính sau đây:
Chương I: Tác động của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc
gia:Những vấn đề lí luận chung
Chương II : Kinh nghiệm từ hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên
quốc gia trong một số trường hợp thế giới.
Chương III: Gỉai pháp đối với hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên
quốc gia trông bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế VIỆT NAM .

Trang 4
Chương I. TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG MUA LẠI&SÁP NHẬP
XUYÊN QUỐC GIA :NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

A. LÍ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ MUA LẠI& SÁP NHẬP
1. Khái niệm
 M (merger) là sự kết hợp hoặc sáp nhập của các công ty tổ chức
nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh hoặc nhằm giảm tính cạnh
tranh. Kết quả là sẽ tạo ra một công ty mới trong đó mỗi bên sẽ có
cổ phần bằng nhau (nên người ta còn gọi là merger of equals).
Thông thường các vụ sáp nhập thường được thực hiện dựa trên tinh
thần thiện chí, tự nguyện khi mà lãnh đạo hai bên cùng họp nhau lại
và bàn bạc đưa ra những phân tích cụ thể về những lợi ích, cơ hội
hoặc rủi ro khi tiến hành sáp nhập (thuật ngữ chuyên môn gọi là
(due diligence report) . Từ đó sẽ có quyết định cuối cùng.
 A (acquisition) là quá trình mua cổ phiếu hoặc tài sản một công ty
để dần tiến tới chiếm đoạt công ty đó. Do đó khác với sáp nhập ,
mua lại thường xảy ra giữa hai công ty không ngang nhau về tiềm

không. M&As được xem là khác với đầu tư mới, chúng không thêm vào khả
năng sản xuất quốc gia mà chỉ đơn thuần đại diện cho 1 sự chuyển quyền sở hữu
từ nội địa ra nước ngoài. Thêm nữa, M&As đôi khi còn được xem như là đã lấy
đi những tài sản quốc gia đáng giá của nước nhận đầu tư tạo ra bởi tiết kiệm
trong nước, nỗ lực về lao động và thầu khoán, và như là đã có được tiềm lực để
tạo ra một loạt vấn đề, ví dụ như sự tập trung thị trường và lạm dụng quyền lực
thị trường. Thực sự, M&As xuyên quốc gia , đặc biệt là những hoạt động có
liên quan đến những tập đoàn xuyên quốc gia lớn từ các nước phát triển, các
hoạt động tài chính và tái tổ chức kinh tế, nằm trong số những khía cạnh dễ thấy
nhất của quá trình toàn cầu hóa. Và ảnh hưởng của M&As tới sự phát triển có
thể mang tính hai mặt. Vì vậy những mối lợi tức xuất hiện như là sự cân bằng
Trang 6
của lợi ích và chi phí cho những nền kinh tế nhận đầu tư FDI trong hình thức
của mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia (trong sự so sánh với đầu tư trực tiếp
nước ngoài GI hay còn gọi là đầu tư mới).
Hoạt động mua lại và sáp nhập là một phần quan trọng của đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Một tập đoàn có thể đầu tư trực tiếp vào nước sở tại dưới
hai hình thức: đầu tư trực tiếp vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị mới hoặc mua
lại / sáp nhập với các công ty địa phương (bản xứ). Công ty địa phương có thể
của tư nhân hoặc nhà nước: tư nhân hoá liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài
được xếp vào hoạt động M&A xuyên quốc gia. Hoạt động này thay đổi hệ thống
quản lý của công ty mới được mua lại hoặc sáp nhập. Trong hoạt động sáp nhập
xuyên quốc gia, 2 công ty thuộc 2 nước liên quan sẽ kết hợp tài sản và hoạt động
hành chính để tạo ra 1 công ty độc lập hợp pháp mới. Trong hoạt động mua lại
xuyên quốc gia, quyền quản lý tài sản và hoạt động hành chính được chuyển
giao từ công ty địa phương sang cho một tập đoàn nước ngoài, công ty địa
phương trở thành chi nhánh của tập đoàn nước ngoài.
Trong một chừng mực nào đó, cả hai hình thức của FDI đều chuyển giao
tài sản của nước sở tại sang quyền quản lý của các tập đoàn xuyên quốc gia
(TNCs - Transnational Corporations), góp phần tạo ra tăng trưởng cho hệ thống

2. Lịch sử phát triển M&A
a. Cơn sóng M&A những năm 1890s và từ 1910-1920.
Vào những năm 1890, khi mà những vụ mua lại diễn ra ở Mỹ hoàn toàn
được ghi lại đầy đủ trong các tài liệu thì những bằng chứng đáng tin cậy về hoạt
động M&A ở Châu Âu lại chỉ có từ những năm 60 ở Anh và đầu những năm 80
ở lục địa Châu Âu. Mặc dù vậy, không phải là M&A không xuất hiện ở Châu
Âu trong giai đoạn này. Goregen và Renneboog (2004) nhận định rằng hoạt
động mua lại đầu tiên ở Châu Âu diễn ra vào khoảng năm 1880 và kết thúc vào
năm 1904. Cũng giống như ở Mỹ, hoạt động M&A ở Châu Âu bắt nguồn từ
những thay đổi cơ bản về công nghệ và tiến trình công nghiệp hoá.
Trang 8
O’Brien (1988) đã biện luận rằng hoạt động đầu tiên, cái được gọi là làn
sóng sáp nhập lớn được nổ ra bởi cuộc suy thoái kinh tế, những đạo luật mới của
nhà nước về sáp nhập và sự phát triển của hoạt động mua bán cổ phiếu công
nghiệp tại NYSE. Cơn sóng này lan toả rộng khắp cả ở Mỹ và Châu Âu bởi sự
thống nhất nền sản xuất công nghiệp. Stigler (1950) đã mô tả sự thống nhất như
là “việc hợp nhất để tạo ra sự độc quyền”. Theo Lamouraux (1985), mục đích
chủ yếu của những vụ sáp nhập này là giảm sự cạnh tranh giá cả chứ không phải
là để khai thác những ngành kinh tế qui mô. Các vụ sáp nhập ngang như vậy đã
dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn lớn, thâu tóm phần lớn sức mạnh thị
trường trong các ngành công nghiệp độc quyền. Làn sóng lớn này đi đến hồi kết
thúc vào giai đoạn năm 1903-1905, khi thị trường cân bằng sụp đổ. Chiến tranh
thế giới thứ I đã giữ hoạt động M&A chững lại cho đến cuối những năm 1910.
Những nỗ lực thúc đẩy độc quyền hoá được đánh dấu bởi các hoạt động
tái cơ cấu dưới làn sóng sát nhập đã làm dấy lên mối lo ngại cho cộng đồng. Mối
lo ngại này khiến hình thành nên luật chống uỷ thác vào những năm 1910 cả ở
Mỹ và Châu Âu. Sudarsanam (2003) đã nhận định rằng chính những đạo luật
chống uỷ thác này là nguyên nhân thúc đẩy sự khởi đầu mạnh mẽ của trào lưu
sáp nhập lần 2 bắt đầu vào cuối năm 1910 cho đến đầu năm 1920, và thu nhỏ lại
vào năm 1929, do sự suy yếu của thị trường chứng khoán và cuộc đại suy thoái

đồng M&A Theo số liệu cổ phần tài chính của Thomson, trong suốt giai đoạn
này có 119035 hợp đồng M&A tại Mỹ và ở Châu Âu là 116925 hợp đồng.
Trong khi chỉ có 34494 và 12729 các cuộc giao thương như vậy ở Mỹ và Châu
Âu trong suốt trào lưu M&A lần thứ 4 (1983-1989).Giai đoạn này cũng tiêu biểu
cho số lượng tiền tệ với tổng giá trị toàn cầu lên tới 20 nghìn tỷ đô, gấp 5 lần
tổng giá trị của giai đoạn 4.
Người ta hoàn toàn tin rằng tiến trình toàn cầu hoá, sự đổi mới công nghệ,
sự cải cách và tư hữu hóa cũng như sự bùng nổ thị trường tài chính trong giai
đoạn này đã thúc đẩy làn sóng M&A. Những tài liệu gần đây đã nhận định rằng
các thương vụ này đều nhằm vào việc giảm chi phí, thâm nhập thị trường mới.
Trang 10
Điều này khẳng định rằng rất nhiều những thương vụ đó đều bắt nguồn từ vấn
đề của các hãng bao gồm cả sự đánh giá quá cao vốn.
e. Làn sóng mới.
Từ năm 2003, các hoạt động mua lại lại bắt đầu dấy lên ở Mỹ, Châu Âu
và cả Châu Á tiếp nối công cuộc cải cách công nghiệp quốc tế những năm 90.
M&A diễn ra song song với sư phục hồi dần dần của nền kinh tế và thị trường
tài chính sau cuộc suy thoái năm 2000. Theo cơ sở dữ liệu về tài chính Thomson
thì khối lượng các thương vụ M&A năm 2004 đã tăng lên 71% so với năm 2002.
Hoạt động M&A ở Châu Âu đều phát triển theo một xu hướng, trong những
cuộc đấu giá ở Châu Âu, tổng giá trị mua lại năm 2004 lên tới 758 tỷ đô vượt
lên tổng giá trị năm 2002 là 517 tỷ đô. Từ đầu năm 2002 đến giữa năm 2005,
các hoạt động mua lại chiếm khoảng 43% tổng giá trị các thương vụ M&A của
các nhà đấu giá Châu Âu và
chiếm 13% tổng giá trị M&A của các hãng ở Mỹ. Tổng giá trị các thương
vụ hàng năm tại Trung Quốc đã tăng nhanh ngoạn mục trong giai đoạn 2002-
2005, từ 2 tỷ đô năm 2002 lên 19 tỷ đô tính đến giữa năm 2005.
Như vậy, từng giai đoạn phát triển của M&A nêu trên đều chỉ ra rằng mỗi
trào lưu M&A đều được đặc trưng bởi mỗi động lực thúc đẩy khác nhau, tuy
nhiên những nhân tố thông thường có thể làm thúc đẩy làn sóng M&A đó là các

Mua lại toàn bộ:
mua 100%
Mua l
ại đa số: mua
50%-99%
Mua lại thiểu số:
mua 10%
-
49%

Hợp nhất: sáp nhập bình đẳng
Sáp nh
ập theo luật: Chỉ 1
DN tồn tại tạo thành 1 DN
mới, nắm giữ toàn bộ tài
sản, quyền & nghĩa vụ của
DN khác như 1 thực thể
ho
ạt động hợp pháp

Mua l
ại các chi
nhánh nước ngoài:
Tăng lư
ợng vốn nắm
giữ của các DN mẹ
ở các chi nhánh có
sẵn ở nước khác,
mua lại toàn bộ
Mua lại DN trong nước

liên quan hay các công ty trong các hình thức kinh doanh khác nhau. Các công
ty sử dụng hình thức M&A kết hợp muốn giảm rủi ro và tận dụng lợi thế kinh tế
nhờ quy mô.
Sự cân bằng giữa các loại hình M&A trên thay đổi theo thời gian. Tầm
quan trọng của M&A ngang đang tăng dần: trong năm 1990, M&A chiếm 70%
tổng giá trị của hoạt động M&A, 10 năm trước, con số này là 59%. M&A dọc
cũng bắt đầu tăng từ giữa những năm 90 nhưng chỉ dừng lại ở tỷ lệ dưới 10%.
Trong những năm cuối thập kỷ 80, M&A tăng vọt, M&A kết hợp trở nên rất
quan trọng. Tuy nhiên các công ty giờ đây tập trung hơn vào ngành kinh doanh
chính để cạnh tranh dẫn đến sự giảm sút trong tỷ lệ M&A kết hơp.
Trang 13
Sự khác biệt giữa 3 loại hình M&A trên không thực sự rõ ràng. Sự phát
triển liên quan đến công nghệ mạng càng làm cho sự phân biệt trở nên khó khăn
và có thể gây ảnh hưởng lớn đến sự liên kết chính thức giữa các tập đoàn.
5. Xu hướng phát triển M&A.
Đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh
công ty ở nước ngoài đã bùng nổ trong những năm gần đây, trở thành chiến lược
hợp tác phát triển chính của các công ty xuyên Quốc gia (TNCs).
Năm 2006 được coi là năm được mùa của những vụ sát nhập với tổng giá
trị các thương vụ kiểu này đã vượt quá kỷ lục của thời hoàng kim 2000. Theo số
liệu thống kê của hãng thông tin Dealogic, tính đến ngày 20-11, tổng giá trị của
những vụ sát nhập năm 2006 đã lên tới 3460 tỷ USD, tính trên phạm vi toàn cầu.
Con số này đã vượt kỷ lục năm 2003 là 3330 tỷ USD. Tổ chức định mức tín
nhiệm Standard and Poor’s gọi đây là “hội chứng sát nhập”. Tuy nhiên về số
lượng sát nhập, con số năm 2006 (tổng cộng 28312 thương vụ) lại giảm so với
năm 2000 (31019 thương vụ). [WIR2006]
Năm 2006, nước Mỹ vẫn là trung tâm của những vụ sát nhập, chiếm tới
36% tổng giá trị của những vụ sát nhập trên toàn cầu, với giá trị tuyệt đối đạt
1220 tỷ USD, giảm so với mức 46%, tương đương 1530 tỷ USD của năm 2000.
2006 là năm được mùa của những vụ sát nhập một phần là nhờ phần vốn

Châu Á – Thái Bình Dương. Thông báo này là kết quả của một cuộc nghiên cứu
kéo dài 2 tháng về hoạt động M&A ở Châu Á – Thái Bình Dương do Hewitt tiến
hành gần đây. Cuộc nghiên cứu này là đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố nguồn
nhân lực với thành công lâu dài của các thương vụ M&A trong khu vực. Hewitt
đã bắt đầu tiến hành hoạt động nghiên cứu M&A giữa 37 công ty qui mô lớn của
11 nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương từ tháng 3 đến tháng 4, giống như
chương trình mà Hewitt đã tiến hành ở liên minh Châu Âu cách đây 3 năm.
Kết quả cuộc nghiên cứu này cho thấy các hoạt động liên kết sát nhập ở
Châu Á sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, với 59% số người được hỏi cho
biết trong tương lai gần họ thích đầu tư vào Châu Á hơn các khu vực khác, còn
Trang 15
44% rất lạc quan về hoạt động M&A ở Châu Á trong thời gian tới. Cũng theo
nghiên cứu này, 34% số người được phỏng vấn tin rằng yếu tố nguồn nhân lực
chưa đáp ứng đúng yêu cầu là một trong những cản trở lớn trong các thương vụ
liên kết sát nhập.
Sự hoà hợp văn hoá gần đây đã trở thành yếu tố nguồn nhân lực phức tạp
và quan trọng nhất trong một thương vụ liên kết sát nhập. Nhưng 52% số người
được hỏi cho biết họ không tin là sự hội nhập văn hoá sẽ mất hơn 6 tháng, và chỉ
có 13% cho biết họ giành cho quá trình này một thời gian thích hợp. Cuộc
nghiên cứu còn cho thấy chỉ có 28% số người được phỏng vấn coi trọng sự hoà
hợp giữa các yếu tố con người trong quá trình sát nhập. Tuy nhiên, nhiều công
ty đang bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của yếu tố con người trong quá trình
liên kết sát nhập hoặc thành lập liên doanh.

Trang 16
B. TÁC ĐỘNG CỦA M&A TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA VÀ
DOANH NGHIỆP
I. TÁC ĐỘNG CỦA M&A TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA ĐỐI VỚI NƯỚC
NHẬN ĐẦU TƯ
1. Tác động tích cực

Hệ số ICOR=I / (GDP
nghiên cứu
- GDP
gốc
) . Vậy ta có
Tốc độ tăng trưởng = (GDP
nghiên cứu
-GDP
gốc
) / GDP
gốc
= I x 1/ICOR x 1/GDP
gốc
Từ công thức trên ta thấy tốc độ tăng trưởng tỷ lệ thuận với mức đầu tư. Khi đầu
tư tăng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng tăng.
Khi có vốn từ hoạt động M&A nước nhận đầu tư sẽ có điều kiện để khai
thác tốt nhất những lợi thế của mình về tự nhiên, vị trí địa lý, mặt đất, mặt
nước…Việc chế biến nguyên vật liệu để tạo ra những sản phảm có hàm lượng
công nghệ cao sẽ càng được đẩy mạnh thay vì xuất khẩu nguyên liệu thô với giá
rẻ rồi nhập nguyên liệu hay sản phẩm tinh với giá thành đắt đỏ. Tuy nhiên không
thể tiếp nhận vốn một cách bừa bãi làm giảm khả năng tăng giá trị sản lượng từ
một đồng vốn đầu tư.Khi đó hệ số ICOR sẽ nhận giá trị cao và điều này là hoàn
toàn bất lợi theo như công thức trên. Các nước tiếp nhận vốn từ hình thức mua
lại và sáp nhập có thể kiểm soát kỹ, và định hướng đầu tư phần nào cho những
công ty từ M&A để có thể làm tăng hiệu quả đầu tư cho đất nước.
Một vấn đề nữa cần phải quan tâm tới trong đầu tư nước ngoài là công
nghệ. Một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì khó mà đạt được trình độ
khoa học kỹ thuật cao cũng như có sự hoàn chỉnh về trình độ quản lý được. Mặt
khác khi thành lập thực hiện mua lại hay sáp nhập với một công ty ở nước được
đầu tư, các nhà đầu tư cũng có liên quan đến sự phát triển của công ty. Chính vì

sự phát triển chung của toàn xã hội.
Tác động tiếp theo của M&A được thể hiện trên cán cân thanh toán của
các nước nhận đầu tư. Cán cân thanh toán của một nước được tính bằng chênh
lệch giữa luồng vốn vào và luồng vốn ra trong một thời gian nhất định. Như vậy
rõ ràng việc đổ tiền vào các vụ sáp nhập và mua lại đã trực tiếp làm tăng nguồn
Trang 19
vốn vào dẫn đến cán cân thanh toán được cải thiện đáng kể. Nếu hoạt động này
diễn ra mạnh mẽ thì nó có thể tạo ra thặng dư lớn trong cán cân thanh toán. Một
mặt các nhà đầu tư nước ngoài này cũng có những hoạt động nhằm khai thác lợi
thế của nước nhận đầu tư để xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường bên ngoài.
Tất nhiên hoạt động này cũng được tính vào cán cân xuất nhập khẩu của nước
nhận đầu tư. Trước đây khi chưa có sự xuất hiện của những công ty như trên,
nước nhận đầu tư có trình độ phát triển thấp không đủ điều kiện để xuất khẩu
nhiều mặt hàng, phải nhập khẩu nhiều trang thiết bị… Đối với các nước có
nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhưng không có đủ trình độ công nghệ để tiến
hành sản xuất, chế biến thì đa phần chỉ xuất khẩu nguyên liều thô. Theo xu
hướng giá cánh kéo trên thế giới, khi giá cá tăng thì mặt hàng này tăng giá chậm
hơn, còn khi giá cả giảm thì mặt hàng này giảm giá nhanh hơn so với mặt hàng
có hàm lượng công nghệ hay hàm lượng chế biến cao. Tóm lại kim ngạch xuất
khẩu thu được từ các mặt hàng thô, sơ chế là rất nhỏ. Theo phần trên, M&A đem
lại cơ hội sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao ở các nước nhận đầu tư,
chính vì thế kim ngạch xuất khẩu đem lại từ những sản phầm này là không nhỏ.
Tất cả những kết quả trên đều góp phần cải thiện cán cân thương mại. Hoạt động
đầu tư trực tiếp nói chung và M&A nói riêng, cán cân thương mại và cán cân
thanh toán luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
So với hình thức đầu tư mới thì M&A có lợi thế do tận dụng được cơ sở
vật chất cũng như sự nhận biết của người tiêu dùng có sẵn. Chính vì thế mà
khả năng cạnh tranh của những công ty này rất cao. Về mặt lý thuyết điều này
có ảnh hưởng khá lớn tới một trường cạnh tranh của quốc gia nhận đầu tư. Xu
hướng hiện nay là tự do hoá thương mại nên môi trường mang tính cạnh tranh

quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nhưng bên cạnh đó ta có thể
thấy ngành nông nghiệp không được dành nhiều sự quan tâm đến thế. Vì vậy
nhà nước cũng phải quan tâm đến lĩnh vực này nhằm giảm lực lượng lao động
trong nông nghiệp, tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn.
Trang 21
Hoạt động M&A giúp mở rộng quan hệ với các nước, nâng cao vị thế
kinh tế, chính trị không chỉ cho nước đầu tư mà còn cho cả nước nhận đầu tư, và
cũng giúp nước nhận đầu tư thu hút các nguồn vốn khác. Thứ nhất, đầu tư trực
tiếp nói chung và thông qua M&A nói riêng không chỉ làm quan hệ đầu tư mà cả
quan hệ thương mại…, của nuớc nhận đầu tư được mở rộng. Rõ ràng là việc
thiết lập mối quan hệ buôn bán với quốc gia có doanh nghiệp đầu tư ở nước
mình bao giờ cũng dễ hơn là khi giữa hai quốc gia chưa hề có chung một mối
quan tâm nào. Nước nhận đầu tư có thể tận dụng hệ thống thuế và phân phối của
nước ngoài, tận dụng uy tín của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó hoạt động M&A
cũng làm cho cơ cấu xuất khẩu của nước nhận đầu tư được cải tiến, ảnh hưởng
đến các định hướng chiến lược xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Thứ hai, chính
những công ty đa quốc gia hay các công ty liên doanh với nước ngoài cùng với
các doanh nghiệp trong nước giúp cho quốc gia đó phát triển kinh tế. Một khi
nền kinh tế được cải thiện thì vị thế của nước nhận đầu tư trên trường quốc tế sẽ
được nâng cao. Và cuối cùng, khi các công ty trên làm ăn có lãi, những chính
sách, môi trường đầu tư mà nước nhận đầu tư dành cho họ rất thích hợp cho việc
phát triển thì thế giới sẽ biết đến nước nhận đầu tư như một điểm đầu tư tiềm
năng hay nói cách khác quốc gia này sẽ thu hút được thêm dòng vốn đầu tư cho
công cuộc xây dựng kinh tế của mình.
Trên đây chỉ là một số ảnh hưởng tích cực chính mà hoạt động M&A đem
lại cho các nước nhận đầu tư. Nếu phân tích sâu sắc riêng từng vấn đề chúng ta
vẫn có nhiều điều để nói. Những lợi ích của M&A với nước nhận đầu tư chắc
chắn là vượt xa khỏi khuôn khổ của những trang giấy này. Tuy nhiên, đi liền với
mỗi ảnh hưởng tiêu cực là ảnh hưởng tích cực tương ứng. Điều này luôn luôn là

nghiệp M&A tăng cường tập trung thị trường ngay từ đầu là một trở ngại cho
việc duy trì cạnh tranh của các nước nhận đầu tư. Vậy họ đã làm gì để loại bỏ
cạnh tranh và vì sao họ lại phải loại bỏ cạnh tranh như thế. Thứ nhất các công ty
con được thành lập có thể thực hiện nhiều cách thức khác nhau để chống cạnh
tranh. Hơn nữa các công ty còn của nằm trong hệ thống các công ty đa quốc gia
cũng sẽ hợp nhất với nhau và đơn giản là họ tìm cách để không cạnh tranh lẫn
Trang 23
nhau hay không cạnh tranh với công ty mẹ. Các công ty đa quốc gia làm như
vậy vì họ sẽ có được kiểm soát rộng lớn trên toàn cầu về cả mặt thị trường lẫn
phân phối. Tuy nhiên các công ty đa quốc gia không thể dùng hình thức M&A
để làm giảm sự cạnh tranh của thị trường nếu cấu trúc ngành ở nước nhận đầu tư
được bảo vệ bởi các congolomate trong nước. Trong trường hợp này thì các thì
hoạt động M&A không chỉ giúp cải thiện cấu trúc thị trường mà còn làm tạo ra
được một môi trường cạnh tranh lành mạnh và gay gắt hơn. Qua đây chúng ta có
thể thấy rằng, chính phủ các nước nhận đầu tư phải hết sức thận trọng khi tiếp
nhận vốn đầu tư từ hình thức M&A nếu họ không muốn các doanh nghiệp của
mình bị thao túng.
Tác động đến sự phát triển của nền kinh tế, người ta còn băn khoăn về vai
trò của M&A và GI. Như chúng ta đã biết việc chuyển giao những tài sản vô
hình và hữu hình trong hoạt động này là rất có ích trong điều kiện sự thay đổi
công nghệ, quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng và đang
trở thành động lực để phát triển năng lực sản xuất của mỗi quốc gia. Nhưng liệu
trong các hoạt động như: tăng cường thêm đầu tư và các nguồn tài chính, việc
tăng cường nguồn lực về công nghệ, đẩy mạnh sự cạnh tranh trong thương mại,
tạo việc làm và cải thiện các kỹ năng cho người lao động thì vai trò của GI hay
M&A lớn hơn. Trên thực tế M&A không làm gia tăng thêm năng lực sản xuất
nhiều cho nền kinh tế như GI mà nó chỉ đơn thuần là việc chuyển giao quyền sở
hữu hoặc quyền kiểm soát cho phía các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy một
số hoạt động sản xuất và chức năng sẽ bị giải tán. Ví dụ như một công ty sau khi
được mua lại và sáp nhập thì sẽ không cần có bộ phận nghiên cứu và phát triển

nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang và kém phát triển. Những lao động ở
các vùng và lĩnh vực mà các nhà đầu tư tập trung có thu nhập vốn đã hơn các
vùng và lĩnh vực khác nay lại càng cao hơn. Chính vì thế mà khoảng cách về thu
nhập của cư dân giữa các vùng, giữa các lĩnh vực lại càng lớn hơn. Đó là chưa
kể tới những luồng lao động di cư giữa các vùng miền để tìm kiếm công ăn việc
làm có thu nhập cao hơn. Di cư như vậy sẽ làm cho cuộc sống của người lao
động không ổn định, và còn gây ra tình trạng thừa lao động ở nơi này, thiếu lao
động ở nơi khác. Giải quyết vấn đề này chỉ có thể nhờ vào những chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status