MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra nhiều thời cơ và thách thức với các
nước đang phát triển, trong đó quan hệ thương mại quốc tế của một quốc gia có ý
nghĩa quan trọng. Một quốc gia thiết lập được các quan thương mại tốt với các
quốc gia và tổ chức trên thế giới sẽ góp phần tận dụng được lợi thế so sánh trong
các hoạt động thương mại quốc tế, nâng cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong
nước, giúp mở rộng thị trường, tiếp nhận được các kinh nghiệm của các quốc gia
và tổ chức khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đạt được các mục tiêu phát
triển xã hội.
Malaysia được biết đến là một đất nước ổn định, thân thiện và khá phát triển trong
khu vực Đông Nam Á. Nhiều thập kỷ tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định đã
đưa Malaysia trở thành một trong những đất nước năng động và giàu có của khu
vực này, chuẩn bị gia nhập hàng ngũ các nước công nghiệp mới. Đây là quốc gia
đã có những chính sách thương mại quốc tế khá thành công trong thời gian gần đây
và thiết lập được các mối quan hệ thương mại tốt đẹp bền vững với các quốc gia và
tổ chức trong khu vực và trên thế giới. Sau khi dành được độc lập (1957), Malaysia
lúc đó là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc
vào Anh, nguồn thu chính là từ xuất khẩu cao su tự nhiên và thiếc. Các chính sách
thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Malaysia được thực hiện từ sau năm
1970 và việc thiết lập quan hệ thương mại quốc tế của Malaysia chỉ thật sự được
thực hiện kể từ năm 1990.
Thành công của Malaysia trong thiết lập các quan hệ thương mại quốc tế có ý
nghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong việc học tập kinh nghiệm để có những
định hướng phát triển riêng của quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2
đang ngày càng diễn ra sâu sắc và nhanh chóng, tìm hiểu kinh nghiệm của
Malaysia là nước đã có những thành công nhất định trong quan hệ thương mại
quốc tế có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam nhằm
định hướng phát triển quan hệ thương mại quốc tế một cách thích hợp. Vì vậy,
- Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và
hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm
đưa lại lợi ích cho các bên. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát
triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và
xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng cường thương mại quốc tế thường
được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá".
(Nguồn: wikipedia.org)
- Quan hệ thương mại quốc tế là sự tương tác giữa các quốc gia về quá trình trao
đổi hàng hoá dịch vụ thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế. muốn có quan hê
Thương mại quốc tế thì một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất
nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác, phải tính
4
đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội. Phải luôn luôn tính
toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân
công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp. Vì vậy để phát triển thương mại
quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn.
1.2. Tổng quan về Malaysia
- Diện tích: 329.758 km2 thủ đô: Kuala Lumpur
- Dân số: 28 triệu người (ước tính năm 2010), mật độ dân số 86 người/km2
- GDP theo PPP (năm 2010) là 193 tỷ USD, GDP bình quân đầu người:
7000USD/người
- Tôn giáo: Malaysia là một quốc gia đa tôn giáo và đạo Hồi là tôn giáo chính thức
của Malaysia với xấp xỉ 60.4% dân số theo Đạo Hồi; 19.2% theo Phật giáo; 9.1%
theo Ki-tô giáo; và 6.3% theo Hindu giáo. 5% còn lại được tính vào các đức tin
khác.
- Văn hoá: Malaysia là một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ, gồm
52% người Malay và các bộ tộc bản xứ khác, 30% người Trung Quốc, 8% người
Ấn Độ. Người Mã Lai, là cộng đồng lớn nhất, được xác định là những tín đồ Hồi
giáo trong Hiến pháp Malaysia. Người Mã Lai đóng vai trò thống trị trong chính trị
Năm 1967, Malaysia cùng 4 nước thành viên khác là Thái Lan, Singapo, Indonesia,
Phillipin đã thành lập nên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN với 3
6
mục tiêu là chống cộng, xây dựng đất nước để hạn chế sự ảnh hưởng của các
cường quốc lớn bên ngoài và phát triển kinh tế. Tuy nhiên các mối liên hệ của
ASEAN trong giai đoạn này còn khá lỏng lẻo và các mối quan hệ thương mại còn
chưa rõ nét.
Nhìn chung, quan hệ thương mại quốc tế của Malaysia không phát triển rõ rệt
trong giai đoạn này.
2.2 Giai đoạn 1970-1989
2.2.1. Bối cảnh:
Bốn quốc gia Châu Á bao gồm Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đạt
được những bước tiến lớn trong phát triển kinh tế khi có thể duy trì tốc độ tăng
trưởng cao và công nghiệp hóa nhanh giữa thập niên 1960. Các quốc gia này được
thế giới biết đến với cái tên “Bốn con hổ Châu Á” hay “Bốn con rồng nhỏ Châu
Á”.
Trong thập kỷ 1970, Malaysia bắt đầu bắt chước “Bốn con hổ Châu Á”. Với đầu tư
từ Nhật Bản, các ngành công nghiệp nặng nhanh chóng phát triển trong vài
năm. Xuất khẩu của Malaysia trở thành khu vực mang lại tăng trưởng chủ yếu.
Malaysia liên tục đạt mức tăng trưởng GDP hơn 7% với tỷ lệ lạm phát thấp trong
thập niên 1980 và 1990.
2.2.2. Chính sách Thương mại quốc tế của Malaysia
2.2.2.1. Mô hình chính sách :
· Thực hiện mô hình chính sách thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng khai thác lợi thế
về điều kiện tự nhiên và lao động : dệt may, da giầy, gỗ, dầu cọ, cao su là các mặt
hàng xuất khẩu chiến lược.
7
· Bên cạnh đó Malaysia thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch đối với các
ngành công nghiệp non trẻ, bây giờ là 1 trong những sản phẩm xuất khẩu mũi
nhọn:máy giặt, điều hoà,tivi…(công nghiệp chế tạo)
- Áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch đối với các ngành công nghiệp non trẻ
chủ yếu thông qua công cụ thuế quan và hạn chế về mặt số lượng. Bên cạnh
đó đối với những sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất các
sản phẩm công nghiệp chế tạo hay hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu được áp
dụng miễn giảm thuế nhập khẩu.
Xuất khẩu chủ yếu vào các nước phát triển:Mỹ, Nhật Bản, Tây âu.
2.2.3. Phối hợp luật pháp – chính sách và tác động:
Với chính sách thúc đẩy xuất khẩu như ở trên, khu vực xuất khẩu đã được tự do
hóa thông qua các biện pháp khác nhau bao gồm loại bỏ các yêu cầu cấp phép xuất
khẩu, loại bỏ thuế xuất khẩu và bãi bỏ thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm.
Thuế suất trên nhiều sản phẩm tiêu dùng cũng giảm
Biểu thuế quan của một số quốc gia ASEAN từ năm 1975-1990
Năm Malaysia Singapore Thailand Indonesia
1975 10.25 1.32 13.80 10.02
1980 9.79 0.90 11.18 7.39
1985 9.12 0.72 13.51 5.97
1990 4.78 0.34 11.58 6.92
Nguồn: Kawai
9
Trong giai đoạn này, Malaysia chủ yếu xuất khẩu những mặt hàng chính: cao su,
gỗ, dầu cọ, dầu thô. Những năm 1970 đã cho thấy sự cải thiện bền vững trong lĩnh
vực xuất khẩu bởi tầm quan trọng của dầu mỏ và khí đốt ngày càng tăng mà đây lại
chính là nguồn thu lớn trong xuất khẩu. Theo kết quả đó, tổng tỷ lệ tiết kiệm quốc
gia đã cải thiện 30,6%. Do đó, Malaysia đã có thể để duy trì mức độ tương đối cao
của đầu tư công, mà không duy trì thâm hụt trong tài khoản vãng lai hoặc phải
dùng đến phương thức vaytừ nước ngoài.
Tuy nhiên trong những năm 1980, giá của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chính
nhì chung cho thấy một sự xuống dốc liên tục. Qua những báo cáo thể hiện sản
lượng xuất khẩu cao su giảm từ 1215 triệu USD năm 1980 đến 976,84 triệu USD
Mỹ vào năm 1981. Giá cao su tiếp tục không mấy khả quan trong những năm
nhập từ xuất khẩu giảm từ 134,47 USD về 95,79 USD/ tấn vào năm 1986. Trong
khi giá trị xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu đang trên đà giảm, kim ngạch xuất
khẩu của hàng hóa sản xuất đồng thời cho thấy dấu hiệu tích cực. Điều này chủ yếu
là do việc mở rộng xuất khẩu các sản phẩm điện và điện tử. Là một nền kinh tế mở,
Malaysia không thể tránh được nhưng phải đối mặt với môi trường thương mại thế
giới khó khăn của chủ nghĩa bảo hộ ngày càng tăng của các nền kinh tế công
nghiệp.
Tuy nhiên việc xuất khẩu những mặt hàng này lại chịu sự biến động giá trên thị
trường thế giới. Suy thoái kinh tế toàn cầu kéo dài của những năm 1980 và những
năm 1990 làm giảm nhu cầu và giá cho tất cả các mặt hàng xuất khẩu chính của
Malaysia. Các đối tác thương mại chính của Malaysia vẫn là các nước phát triển
như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu. Trong khu vực ASEAN, sau hội nghị Bali năm 1976,
ASEAN xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế, nhưng các nỗ lực đều đi đến bế tắc
11
vào giữa thập niên 80, phải đến năm 1991, Thái Lan đề xuất thành lập khu vực
thương mại tự do thì khối mậu dịch ASEAN mới hình thành.
Trong giai đoạn 1970-1989, Malaysia có sự đột phá trong phát triển kinh tế nhờ
việc áp dụng chính sách kinh tế mới NEP với mục đích chính là hiện đại hóa, công
nghiệp hóa, tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung hết vào việc làm tăng trưởng kinh tế.
Cùng với việc chính sách tự do hóa kinh tế thì Malaysia đã thu hút được một lượng
lớn đầu tư nước ngoài cũng như nhân công chất lượng tốt từ các nước trong khu
vưc. Tuy nhiên cũng do việc tập trung phát triển trong nước cho các ngành kinh tế
cho nên các quan hệ thương mại quốc tế trong thời gian này không có phần nổi bật.
Ngoài việc tập trung thực hiện công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu và áp dụng
các chính sách, hỗ trợ khuyến khích đầu tư thì Malaysia vẫn chưa tham gia vào các
tô chức quốc tế về thương mại nào đồng thời mới chỉ bắt đầu thiết lập các mối
quan hệ kinh tế chắt chẽ hơn với các nước trong khu vực và trên thế giới.
2.3. Giai đoạn 1990 – nay
2.3.1. Bối cảnh
2.3.1.1. Sự phát triển nhanh chóng của nền thương mại thế giới.
thế giới. Ngày nay hầu như ở khắp các lục địa, khu vực đều có các tổ chức liên
13
minh kinh tế với những quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Ở châu Âu, Liên minh châu
Âu gồm 27 nước thành viên là một khối kinh tế mạnh và có sức ảnh hưởng lớn đối
với nền kinh tế thế giới. Ở châu Mỹ, thị trường tự do thương mại Bắc Mỹ
(NAFTA) được thành lập năm 1994 và dang mở rộng cả chây Mỹ thành một thị
trường tự do. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng đã hình thành khu vực hợp
tác kinh tế gồm 21 quốc gia, Đông Nam Á với tổ chức ASEAN đang ngày càng
phát triển và liên kết chặt chẽ hơn
2.3.1.3. Xu thế mở cửa hợp tác đồng thời cũng có xu hướng bảo hộ mậu dịch.
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, hiện tượng nổi bật từ sau chiến tranh
thế giới thứ hai là sự ra đời của các tổ chức quốc tế. Hiện nay trên thế giới có hơn
4000 tổ chức quốc tế, trong đó có khoảng 300 tổ chức liên quốc gia. Các tổ chức
quốc tế rất đa dạng, chức năng cũng không dừng lại ở việc giải quyết các cuộc
xung đột quốc tế và khủng hoảng.
Các tổ chức quốc tế quan trọng hàng đầu là Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Các tổ chức quốc tế có tiềm năng khó hình dung hết, vai trò của nó được mở rộng
ghê gớm. Lực lượng quốc tế tương đối mạnh lên, chủ quyền quốc gia dân tộc
tương đối yếu đi có thể là xu thế song hành trong một thời gian dài sắp tới. Đồng
thời trong quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế, không ít khó khăn và
thách thức đặt ra trước hết đối với các nước đang phát triển.
Quá trình toàn cầu hóa đã đưa tới sự phân công lao động có quy mô mới, rộng lớn
trên thế giới, nhưng sự phân công lao động giữa các nước giàu và nghèo chưa có
sự thay đổi căn bản. Các nước đang phát triển vẫn tiếp tục xuất khẩu nguyên nhiên
14
liệu, còn các nước phát triển tiếp tục xuất khẩu sản phẩm máy móc và phương tiện
vận tải. Sự phân công lao động vẫn không có lợi cho các nước đang phát triển. Các
công ty xuyên quốc gia siêu lớn củng cố sức mạnh của mình ở các nền kinh tế phát
triển và tiếp tục vươn tới các nền kinh tế kém phát triển hơn. Vì vậy, các nước kém
Từ năm 1990, Malaysia chuyển sang thúc đẩy các mặt hàng công nghiệp chế
tạo,đồng thời thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường –thay vì chỉ xuất khẩu
sang các nước phát triển .Malaysia quan tâm hơn đến thị trường các nước đang
phát triển ,trong đó đặc biệt tập trung hướng tới thị trường ASEAN và Trung
Quốc.
Để đạt được những mục tiêu mới chính phủ Malaysia đã thực hiện các biện pháp
sau :
- Ký kết các hiệp định song phương đa phương với nhiều nước như Nhật
Bản,New Zealand,Australia,….Năm 2008 Malaysia ký hiệp định song phương
với Việt Nam.
- Gia nhập các tổ chức liên kết kinh tế như ASEAN(1967), WTO (1995),thực
hiện cắt giảm thuế quan nhập khẩu theo quy định.
16
- Hỗ trợ thanh toán cho các doanh ngiệp xuất khẩu thông qua việc thỏa thuận ,ký
kết giữa ngân hàng trung ương Malaysia (BNM-Bank Negara Malaysia) với các
ngân hàng nước ngoài .
- Thành lập các trung tâm thông tin về thương mại và công nghệ để hỗ trợ các
công ty trong nước nghiên cứu và phát triển thị trường .
2.3.3. Phối hợp luật pháp – chính sách:
2.3.3.1. Các Hiệp định thương mại song phương đã ký với các nước và khu vực:
- Hiệp định thương mại tự do FTA (Free Trade Agreement) Malaysia đã ký
với các nước:
• Malaysia – Nhật Bản (MJEPA) – Hiệp định đối tác kinh tế, ký ngày
13/12/2005 và có hiệu lực ngày 13/7/2006. MJEPA là Hiệp định toàn diện đầu
tiên của Malaysia bao gồm: thương mại hàng hóa công nghiệp và nông nghiệp,
thương mại dịch vụ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, thủ tục hải quan, tiêu chuẩn và sự
phù hợp, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, nâng cao môi trường kinh
doanh, các biện pháp tự vệ và giải quyết tranh chấp.
• Malaysia – Pakistan (MPCEPA) – Hiệp định đối tác kinh tế chặt chẽ hơn, ký
ngày 8/11/2007 và có hiệu lực ngày 1/1/2008. MPCEPA bao gồm tự do hóa
thành lập giữa ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA).
2.3.3.2. Hiệp định thương mại đa phương, các tổ chức tham gia:
• Malaysia tham gia APEC ngày 7/11/1989
• Malaysia tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN vào năm 1992.
• Malaysia là thành viên thứ 85 của tổ chức kinh tế thế giới WTO năm 1995.
• AFTA – Hiệp định thương mại tự do ASEAN, được thống nhất tại hội nghị
cấp cao Singapo năm 1992. Khu vực 6 nước Malaysia, Singapo, Brunei,
18
Thái Lan, Indonesia, Phillipine đã trở thành một khu vực thương mại tự do
hoàn chỉnh vào ngày 1/1/2010.
• ASEAN – Trung Quốc: Hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc đã được nâng
lên một mức độ cao hơn với việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế
toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc vào ngày 04 tháng 11 năm 2002 tại
Phnom Penh, Campuchia. Sau hiệp định khung, các hiệp định ACFTA cũng
đã được ký kết nhằm sửa đổi hiệp định khung, cam kết thực hiện các cam
kết như giảm thuế, cải tiến các thủ tục thương mại, đầu tư, thực hiện tự do
hoá thương mại trong các lĩnh vực: Thương mại hàng hoá, thương mại dịch
vụ, đầu tư. Gần đây nhất, nghị định thư thứ hai sửa đổi Hiệp định về Thương
mại Hàng hóa thuộc Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế giữa Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á và Cộng hòa Nhân dân của Trung Quốc đc ký ngày
29 tháng Mười năm 2010.
• ASEAN – Nhật Bản: Hiệp định khung về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện
(CEP) giữa ASEAN và Nhật Bản đã được ký kết bởi các nhà Lãnh đạo
ASEAN và Nhật Bản ngày 8 tháng 10 năm 2003 tại Bali trong Hội nghị
Thượng đỉnh ASEAN-Nhật Bản. Các cuộc đàm phán về Hiệp định AJCEP,
bắt đầu vào tháng 4 năm 2005, được ký kết trong tháng 12 2007. Các nước
thành viên ASEAN và Nhật Bản đã hoàn thành quá trình ký kết Hiệp định
AJCEP vào ngày 14 tháng 4 năm 2008, sau khi Malaysia ký kết.
• ASEAN – Hàn Quốc: Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa
ASEAN và Hàn Quốc đã được ký kết bởi các nhà lãnh đạo tại Hội nghị
thủ tục thương mại, đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá, dịch vụ, nguồn vốn
được lưu chuyển dễ dàng thuận lợi trong các lĩnh vực trong hiệp định giữa các
nước và khu vực tham gia ký kết hiệp định. Đối với các quốc gia và khu vực trong
20
các hiệp định đã được ký kết, Malaysia đã thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu
đối với các đối tác cũng như thực hiện các quy định của các tổ chức tham gia
(APEC, ASEAN, WTO)
Malaysia mục tiêu đàm phán FTA là:
Tìm kiếm sự tiếp cận thị trường tốt hơn bằng cách giải quyết vấn đề thuế quan và
các biện pháp phi thuế quan; Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy thương
mại, đầu tư và phát triển kinh tế; nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà xuất
khẩu của Malaysia; xây dựng năng lực trong các lĩnh vực cụ thể được nhắm mục
tiêu thông qua hợp tác kỹ thuật và hợp tác.
2.3.3.3. Lộ trình cam kết giảm thuế với các nước và khu vực
• Với khu vực AFTA, Malaysia xoá bỏ 98% tổng dòng thuế của mình đối với
các nước thành viên vào năm 2006
• Với Nhật Bản, các loại thuế đối với các mặt hàng trong cam kết được giảm
theo lộ trình và thực hiện mức thuế 0% vào ngày đầu tiên năm 2010
• Lộ trình giảm thuế đối với đối tác New Zealand được cam kết đến năm 2016
• Lộ trình giảm thuế đối với đối tác Ấn Độ được cam kết đến năm 2019
• Lộ trình giảm thuế với đối tác Chile được cam kết đến năm 2016
• Với đối tác Australia, Malaysia dần dần sẽ làm giảm hoặc loại bỏ thuế nhập
khẩu trên 99% các dòng thuế vào năm 2020.
Trong giai đoạn này, Malaysia đã tập trung thực hiện các biện pháp nhằm tăng
trường và phát triển kinh tế, đặc biệt là các biện pháp kinh tế đối ngoại. Định
hướng kinh tế của Malaysia trong giai đoạn này:
• Hợp tác kinh tế khu vực Đông Á ( Từ EAEG đến EAEC, ASEAN +3)
• Hợp tác phát triển khu vực – Tam giác tăng trưởng IMTGT, IMSGT, BIMP-
EAGA.
21
anh Trade Center). Ngoài các đại sứ quán, uỷ ban cấp cao, tổng lãnh sự, lãnh sự,
Bộ ngoại giao Malaysia đã bổ nhiệm các cá nhân đặc biệt để hỗ trợ Malaysia trong
việc đạt được những chính sách nhằm thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp, tăng cường
thương mại, các hoạt động kinh tế và mở rộng sự trợ giúp của lãnh sự. Để thực
hiện điều này, bộ ngoại giao đã bổ nhiệm 50 lãnh sự danh dự tại các thành phố lớn
ở 39 quốc gia trên toàn thế giới để thực hiện các mục tiêu. Các lãnh sự danh dự hỗ
trợ nhiệm vụ của Malaysia tại nước ngoài.
Trong năm 2013, Malaysia đã lên kế hoạch thực hiện 136 hoạt động xúc tiến
thương mại sau khi tham khảo ý kiến và thu được phản hồi từ khu vực tư nhân.
Các chương trình xúc tiến thương mại sẽ được xây dựng để tiếp tục chiến lược và
chỉ đạo của chương trình xúc tiến thương mại năm 2012, tập trung vào xuất khẩu
các mặt hàng giá trị cao theo các khu vực quốc tế trọng điểm, nhằm thực hiện mục
tiêu thị trường phát triển nhanh trong khu vực châu Á, tận dụng lợi thế trên thị
trường FTA và mở ra những cơ hội tại các thị trường mới nổi ở Trung Á, Đông Âu
và châu Phi
2.3.4. Tác động của các quan hệ TMQT đối với hoạt động thương mại Malaysia:
Có thể nói trong giai đoạn 1989 – nay, khu vực ngoại thương trở thành khu vực
mang lại tăng trưởng chủ yếu cho nền kinh tế Malaysia. Malaysia từ một quốc gia
có nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào các ngành công nghiệp khai thác mỏ và nông
nghiệp trong giai đoạn trước năm 1989, đã dần trở thành quốc gia có nền công
nghiệp chế tạo phát triển, có thể nói là phát triển mạnh nhất trong khu vực
23
ASEAN. Và cũng sau năm 1989 Malaysia cũng đã có sự chuyển hướng về các thị
trường xuất khẩu chính, chuyển từ thị trường các nước phát triển như Mỹ, Nhật
Bản, Eu sang các nước đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, khu vực ASEAN.
Đến năm 2000, Malaysia đã ký kết hiệp định thương mại với 50 quốc gia trên thế
giới .Thị trường của Malaysia ngày càng được mở rộng nhờ vào sự tìm kiếm của
các tổ chức xúc tiến thương mại .Các đối tác thương mại hàng đầu của Malaysia
hiện nay đều là những thị trường lớn và phát triển như Mỹ, Nhật Bản,
Singapo,Trung Quốc ,Hàn Quốc … Do vậy,qua đó cũng có thể trao đổi công nghệ
tế với nhiều quốc gia, thương mại quốc tế đang ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế Malaysia, đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng GDP cũng như
đến các mục tiêu phát triển xã hội khác
Việc ký kết các hiệp định song phương cũng như các hiệp định đa phương, tham
gia các tổ chức khu vực và quốc tế kết hợp các chính sách đã đưa ra đã khiến nền
kinh tế Malaysia có độ mở khá rộng, do đó những biến động trên thế giới đã tác
động không nhỏ đến tình hình xuất nhập khẩu của đất nước này. Đặc biệt trong các
cuộc khủng hoảng kinh tế của khu vực và thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế
châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, giá trị xuất khẩu
và nhập khẩu của Malaysia suy giảm rõ rệt. So với năm 1997, kim ngạch xuất khẩu
25