TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI II
TÊN ĐỀ TÀI:
KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Hương
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Thành viên nhóm: Trần Thị Hà Linh (CQ522119)
Đỗ Hồng Anh (CQ520050)
Lê Anh Thư (CQ523610)
Nguyễn Kim Hoàn (CQ527142)
Nguyễn Hoàng Khải (CQ521812)
Lớp: Chính sách kinh tế đối ngoại II(213)_1
Khóa: 52
Hệ: Chính quy
Hà Nội, 11 - 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC 2
1.1. Những vấn đề cơ bản về FDI và thu hút FDI 2
1.1.1. Khái niêm 2
1.1.2. Đặc điểm 2
1.1.3. Vai trò 2
1.2. Chính sách thu hút FDI của Trung Quốc 3
1.2.1. Các chính sách cơ bản đã thực hiện để thu hút FDI của Trung Quốc 3
có nguồn vốn FDI mà nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và phát huy tác dụng. Trong
những năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu khiến thế giới phải chú
ý. Điều này được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó FDI là lĩnh vực được liên tục thay đổi về
chính sách và biện pháp thực hiện cho phù hợp với tình hình chung diễn ra trên thế giới và điều
kiện thực tế ở Trung Quốc. Kết quả đạt được là sự tăng trưởng liên tục về thu hút FDI ở Trung
Quốc trong thời gian qua.
Vấn đề thu hút FDI đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển
hiện nay. Đối với Việt Nam, FDI được coi là ngoại lực quan trọng phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bước vào nền kinh tế thị trường, Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam.Vì
vậy, những kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc là những gợi ý hữu ích cho nước ta trên con
đường phát triển Kinh tế- xã hội.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC
1.1. Những vấn đề cơ bản về FDI và thu hút FDI
1.1.1.Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn của các cá nhân và doanh nghiệp một nước
đầu tư sang nước khác nhằm thu được lợi nhuận lâu dài và dành được quyền kiểm soát các doanh
nghiệp ở các quốc gia được nhận đầu tư. Nó được tính bằng tổng số vốn cổ phần, lợi nhuận từ đầu
tư, vốn dài hạn khác và vốn ngắn hạn được thể hiện trong cán cân thanh toán.
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho sản xuất, kinh
doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn lớn có vai trò quan trong đối
với các nước, đặc biệt là quốc gia đang phát triển
1.1.2.Đặc điểm
- Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tại phải tuân thủ pháp luật của nước đó:VD Luật
đầu tư
- Hình thức này thường mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.
- Tỷ lệ vốn quy định, vốn phân chia quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ đầu tư. Tỷ lệ vốn góp phải
tuân thủ theo Luật đầu tư của nước sở tại.
- Thu nhập chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.
1.2. Chính sách thu hút FDI của Trung Quốc
1.2.1. Các chính sách cơ bản đã thực hiện để thu hút FDI của Trung Quốc
Năm 1979 đánh dấu việc Trung Quốc mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Kể từ đó đến nay, tình hình thu hút FDI tại Trung Quốc đã có những biến chuyển mạnh mẽ.
Để làm được điều này chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số chính sách cơ bản để thu hút
FDI, đó là:
- Chính sách phát triển ngành sản xuất: Trong từng giai đoạn, Chính Phủ Trung Quốc
ban hành những quy định hướng dẫn đầu tư đối với thương nhân nước ngoài và danh mục
hướng dẫn về ngành sản xuất để thu hút FDI.
- Chính sách phát triển vùng lãnh thổ: Chính phủ Trung Quốc chủ yếu thông qua các
biện pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học kỹ thuật và mở cửa
các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút FDI vào đó.
- Chính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài:
5
+ Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp luật
được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc. Thời hạn, lãi suất và phí vay về cơ bản
áp dụng như các xí nghiệp của Trung Quốc
+ Xí nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngân hàng thương mại
của Trung Quốc bảo lãnh. Các khoản tiền vốn ngoại tệ của các đơn vị này có thể dùng
để thế chấp vay vốn.
+ Cho phép xí nghiệp nước ngoài đầu tư dùng tài sản của họ ở hải ngoại để thế chấp vay
vốn tại các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài.
+ Các xí nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc nếu có đủ tiêu chuẩn được xin phép phát
hành cổ phiếu.
+ Căn cứ theo nguyên tắc chủ động và thoả đáng, Chính phủ Trung Quốc cung cấp sự
đảm bảo về rủi ro chính trị, bảo hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hiểm về bảo lãnh đối
với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực năng lượng , giao thông mà
chính phủ khuyến khích đầu tư.
- Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trung Quốc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài
r
un
g
Quốc
giai
đoạn 1986
–
1991
Năm 1986 1987 1988 1989 1991
Số vốn 1,87 2,31 3,19 3,39 4,4
(Đơn vị: tỷ USD)
(Nguồn: Bộ Thương mại - Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc)
Năm 1991, Trung Quốc đã thông qua việc khống chế vĩ mô, kết hợp chặt chẽ chính sách ưu
đãi trong thu hút vốn nước ngoài và chính sách ngành nghề của đất nước, khuyến khích có trọng
điểm đầu tư nước ngoài vào các hạng mục theo hướng phù hợp với chính sách ngành nghề, các
hạng mục phải có quy mô tương đối lớn và có kỹ thuật tiên tiến. Đầu tư nước ngoài ngày càng
phát triển vững chắc hơn. Theo báo cáo điều tra của Cục mậu dịch Hồng Kông, từ năm 1979 -
1991, Trung Quốc đã phê chuẩn 12.100 hạng mục vốn nước ngoài, vốn lợi dụng thực tế đạt 19,9
tỷ USD.
Nhìn chung, giai đoạn 1984 - 1991, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc phát triển ổn
định, có sự tăng trưởng cao. Đặc điểm chủ yếu của đầu tư là các hạng mục mang tính sản xuất
7
ngày càng tăng, (riêng năm 1991 chiếm trên 90%). Các hạng mục mang tính kỹ thuật tiên tiến và
thuộc loại hình xuất khẩu ngày càng nhiều.
1.2.2.3. Giai đoạn phát triển mạnh (1992-1993)
Bước sang thập kỷ 90, Trung Quốc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư ngày càng phù hợp
với yêu cầu và đòi hỏi của kinh tế thị trường, mở rộng thêm các lĩnh vực đầu tư, quyết định đẩy
nhanh sự phát triển của ngành nghề thứ ba và đặc biệt là mở rộng thị trường nội địa. Các nhà đầu
tư đã nhìn thấy thị trường nội địa rất tốt, tiềm lực rất lớn, do vậy họ đã đầu tư ồ ạt vào thị trường
biến rõ rệt từ số lượng sang chất lượng.
Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 mà luồng
vốn FDI vào Trung Quốc có sụt giảm trong hai năm 1998, 1999 khiến Trung Quốc đã tiến hành
một loạt các biện pháp nhằm tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư như: duy trì ổn định
tỷ giá đồng NDT, duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tiếp tục đầu tư cải thiện cơ sở hạ
tầng, lựa chọn những hạng mục đầu tư có hiệu quả cao, nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật
của các hạng mục.
T11/2001 do tác động của việc gia nhập vào WTO cùng với việc nỗ lực cải thiện môi
trường đầu tư Trung Quốc đã đạt được một số thành tựu đáng ngưỡng mộ:
+ Trung Quốc đã trở thành điểm đến triển vọng cho các nguồn vốn nước ngoài và các tập
đoàn đa quốc gia và là nước được coi là địa điểm thu hút FDI hấp dẫn nhất
Theo báo cáo của Hội nghị Đầu tư và Thương mại Liên hợp quốc (UNCTAD) T10/2012,
Năm 2011, Mỹ nhận được 227 tỷ USD FDI, trong khi Trung Quốc nhận được 116 tỷ USD. Đến
năm 2012, FDI toàn cầu sụt giảm nhưng Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành điểm đến số 1
với nhà đầu tư thế giới. Theo đó, nửa đầu năm 2012, nước này nhận được 59,1 tỷ USD vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI), giảm nhẹ so với 60,9 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Mỹ còn
có mức giảm sâu hơn với 39%, xuống còn 57,4 tỷ USD.
+ Trung Quốc thành công trong việc nắm bắt cơ hội dịch chuyển và cơ cấu lại sản xuất toàn
cầu thu hút 1 nguồn vốn lớn FDI vào lĩnh vực sản xuất, khiến cho Trung Quốc trở thành một trong
những nôi sản xuất trọng yếu nhất trên thế giới và trở thành công xưởng thế giới
1.2.3. Những nhân tố thu hút FDI của Trung Quốc
9
Trung Quốc là một mảnh đất đầu tư mầu mỡ đối với các nhà đầu tư nước ngoài vì những lí do
sau đây:
1.2.3.1 Kinh tế tăng trưởng mạnh
Trung Quốc là một thị trường đầy tiềm năng, đặc biệt khi các thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ
đã tương đối bão hoà. Tính theo ngang giá sức mua PPP, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai
trên thế giới, chỉ sau Mỹ và người ta dự đoán quy mô của thị trường này sẽ vượt Mỹ vào năm
2020. Cho đến nay, tương ứng với các thời kỳ, Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng
trưởng, là đất nước tăng trưởng nóng và giữ vững ổn định tăng trường qua rất nhiều cuộc khủng
quan hệ với nước ngoài, phát triển kinh tế trong nước. Năm 1980, Trung Quốc chính thức thành lập
tại khu vực này bốn đặc khu kinh tế (ĐKKT): Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại tỉnh Quảng Đông và
đặc khu Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến. Đến năm 1988, để đáp ứng nhu cầu mở cửa đối ngoại, Trung Quốc đã
thành lập tỉnh đảo Hải Nam và toàn tỉnh đã trở thành đặc khu kinh tế thứ năm khiến cho quy mô các đặc
khu ngày càng mở rộng.
Lý do thành công của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc:
- Có chính sách nhất quán và kiên định trong việc phát triển các ĐKKT. Điều này đã được
Chủ tịch Giang Trạch Dân tuyên bố “Quyết tâm phát triển các đặc khu kinh tế của Trung ương
không thay đổi, chính sách của Trung ương đối với đặc khu kinh tế không thay đổi. Đặc khu kinh
tế không những phải tiếp tục phát huy mà còn cần phát huy hơn nữa vai trò “cửa sổ”, vai trò “thí
điểm”, vai trò “xung kích” của mình”.
- Được áp dụng những chính sách kinh tế và thể chế quản lý kinh tế đặc thù, không cấp ngân
sách mà là tạo cơ chế, trong đó có các công cụ khuyến khích thông thoáng hơn so với các nước
khác cho các nhà đầu tư nước ngoài cùng với cơ chế tự chủ cao đi đôi với việc làm tốt khâu quản
lý vận hành đặc khu.
- Địa điểm lựa chọn xây dựng các ĐKKT có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư cũng là một nhân
tố hết sức cơ bản quyết định sự thành công của các ĐKKT. Đó là các khu vực thuận lợi ở ven
biển, có thể xây dựng cảng nước sâu và sân bay hiện đại, nối thông với quốc tế và nội địa.
- Lựa chọn được loại hình kinh tế phù hợp với mục tiêu xây dựng ĐKKT. Đó là mô hình
kinh tế tổng hợp bao gồm các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, tài chính, kết hợp
cân đối giữa các ngành nghề, trong đó mỗi đặc khu đều hướng vào một số ngành nghề trọng điểm,
dựa trên lợi thế riêng của mình.
- Xác định rõ chức năng “kép” của các ĐKKT: vừa là “cửa sổ” thu hút vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý của nước ngoài, vừa là “cầu nối” giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế,
thúc đẩy, lôi kéo sự phát triển của các vùng kinh tế kém phát triển hơn.
12
2.1.2. Tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư
2.1.2.1. Cải thiện môi trường đầu tư “mềm”
Môi trường đầu tư “mềm” là toàn bộ cơ chế, chính sách có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và quá trình phát triển của hoạt động đầu tư nước
tư.
+ Ưu đãi dành cho hành vi tái đầu tư đặc biệt: các nhà đầu tư tái đầu tư xây dựng ở một số lĩnh vực
đặc biệt như mở rộng xí nghiệp có kỹ thuật tiên tiến, mở rộng xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm hoặc đầu tư
cho các hạng mục xây dựng cơ bản và mở mang nông nghiệp trong đặc khu kinh tế Hải Nam thì có thể
được trả lại toàn bộ số thuế thu nhập đối với phần tái đầu tư.
Từ tháng 1 / 1994, nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Trung Quốc đã tiến hành cải cách về thuế ở một số mặt
sau:
- Thực hiện một chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế nhằm đảm bảo sự bình
đẳng về thuế, thúc đẩy cạnh tranh, thuế đánh không phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp có vốn FDI.
- Thay thế thuế doanh nghiệp bằng thuế giá trị gia tăng và đơn giản hóa cơ cấu thuế suất.
- Giảm thuế thu nhập đánh vào các doanh nghiệp để kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Mở
rộng diện thu thuế thu nhập cá nhân.
- Xóa bỏ dần các ưu đãi miễn giảm thuế và chuyển sang hình thức tài trợ cho các trường hợp đặc biệt
cần thiết bằng chi ngân sách.
- Bổ sung một số loại thuế mới như thuế tài nguyên, thuế sở hữu. Hiện nay, Trung Quốc đang đi vào
xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng và tự do.
Những chính sách ưu đãi về thuế tuy đôi lúc có bộc lộ những yếu điểm nhưng đã tỏ rõ tác dụng trong
việc thu hút vốn bên ngoài, mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại ở Trung Quốc.
2.1.2.4. Cải thiện môi trường đầu tư “cứng”
Để tạo sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, Trung Quốc dùng vốn ngân sách hoặc vốn vay để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng theo thứ tự ưu tiên vùng theo kiểu bậc thang, trước hết ở những vùng có điều kiện
thuận lợi rồi tiếp đến là những vùng khó khăn hơn.
Một biện pháp khác là huy động vốn ứng trước từ những người sẽ sử dụng công trình hoặc hưởng lợi
trực tiếp từ công trình với phương châm “Mượn gà đẻ trứng”. Các nhà đầu tư theo kiểu này sẽ được thuê
công trình với những điều kiện ưu đãi nhất định. Nhiều công trình hạ tầng ở các ĐKKT Trung Quốc đã
được xây dựng theo phương thức này.
Nhờ mạnh dạn sử dụng vốn ngân sách cũng như triệt để tận dụng các nguồn vốn để đầu tư vào xây
dựng cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc đã tạo lập được một hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại, tăng
thủ tục nhập khẩu và bù thuế.
+ Có thể thế chấp tài sản doanh nghiệp đầu tư để vay vốn trong và ngoài nước.
+ Việc xác định thời hạn kinh doanh do Hội đồng quản trị hữu quan các bên bàn bạc.
15
+ Có thể uỷ thác cho bạn bè người thân làm đại diện cho họ. Có thể thành lập thương hội của đồng bào
Hoa kiều.
+ Có thể mời trọng tài của Trung Quốc hoặc Hoa kiều giải quyết các vụ tranh chấp.
b. Đối với các công ty xuyên quốc gia (Trans National corporations-TNCs)
Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là các công ty được thành lập do vốn đóng góp của một nước
và địa bàn hoạt động của nó được triển khai ở nhiều nước. Với phương châm “Lấy thị trường đổi lấy kỹ
thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”, “Lấy thị trường để phát triển”, Trung Quốc quyết định nhường một
phần thị trường trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài để đổi lấy sự đầu tư lớn hơn nữa. Những chính
sách mà Trung Quốc áp dụng để thu hút các TNCs bao gồm:
- Giảm dần chế độ ưu đãi, cung cấp đãi ngộ quốc dân cho các nhà đầu tư nước ngoài để họ tiến hành
cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước trên cơ sở bình đẳng và công bằng.
- Các quyền hợp pháp của các nhà đầu tư được bảo vệ. Lợi nhuận của họ được chuyển ra nước
ngoài.
- Các doanh nghiệp chung vốn với TNCs được giao quyền độc lập và tự chủ trong các hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Đơn giản hóa các thủ tục đầu tư.
- Các nhà đầu tư được tiêu thụ một phần sản phẩm của mình trên thị trường Trung Quốc.
- Trung Quốc đã chú ý tăng cường vai trò của chính phủ trong cơ chế thị trường. Nhà nước Trung
Quốc đã thiết lập và phát triển hệ thống thị trường, đặt ra các quy tắc cạnh tranh công bằng và hợp lý làm
giảm đi sự biến động của các loại thị trường.
- Phát triển thị trường các yếu tố sản xuất, phá vỡ sự chia cắt và bao vây giữa các ngành, các khu
vực, hình thành thị trường lớn thống nhất, mở cửa, cạnh tranh có trật tự.
- Thiết lập cơ chế giá, chủ yếu do thị trường hình thành, nới lỏng giá dịch vụ và các mặt hàng có tính
chất cạnh tranh. Xoá bỏ chế độ hai giá đối với tư liệu sản xuất, thị trường hoá giá cả các yếu tố sản xuất.
- Phát triển thị trường hàng hoá về tư liệu sản xuất, hàng công nghiệp tiêu dùng, các mặt hàng nông
sản lớn, tạo ra mạng lưới thị trường hàng hoá kết hợp giữa lớn, vừa và nhỏ, cùng tồn tại nhiều hình thức
Trong hoạt động thu hút FDI ở Trung Quốc, Trung Quốc đã mạnh dạn thực hiện việc phân cấp
quản lý cho các địa phương. Đây là một việc làm tốt và đã tạo ra không ít thành công cho Trung Quốc,
song cũng chính điều này cũng đã gây ra nhiều bất cập. Đó là việc các địa phương đã đua nhau vượt quyền
hạn của mình, tự đề ra chính sách miễn giảm thuế, tranh giành thu hút đầu tư. Nhiều địa phương cho phép
nhà đầu tư nước ngoài rào đất với số lượng lớn trong tình trạng không xác định dự án. Hiện tượng lãng phí
đất đã gây tổn thất rất lớn cho Trung Quốc. Điều này dẫn đến hiện tượng đầu tư tăng trưởng quá nóng, gây
17
nên những cơn sốt đất vào những năm 1992 - 1993, đồng thời làm ảnh hưởng xấu tới thuế của cả địa
phương và trung ương, gây tâm lý không tốt cho nhà đầu tư nước ngoài.
Cũng do các địa phương đua nhau thu hút đầu tư, chỉ quan tâm tới lợi ích trước mắt, nên họ thường
đánh giá qua loa, đại khái đối với việc thu hút dự án, không cân nhắc kỹ lưỡng những lợi ích lâu dài và
năng lực vốn đồng bộ của Trung Quốc. Điều này dẫn đến tình trạng khi liên doanh cần mở rộng, phía
Trung Quốc thường thiếu tiền đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ thêm vốn, làm thu hẹp dần số cổ
phần của phía Trung Quốc.
Trong quá trình thu hút FDI, do tình trạng lãnh đạo nhiều đầu, quản lý phân tán ở mức độ khác
nhau, chức trách không rõ ràng, các doanh nghiệp của thương gia nước ngoài đã lọt qua khe hở luật pháp,
không kinh doanh chính đáng như: trốn thuế, giả góp vốn.
2.2.2. Tài sản nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng
Trong quá trình đánh giá lại tài sản để xác định giá trị cổ phần của cổ đông, các nhà đầu tư nước
ngoài thường đánh giá thấp tài sản của Trung Quốc, đánh giá cao đối với tài sản của họ. Nguyên nhân là
do nắm quyền điều tiết cổ phần, các nhà đầu tư nước ngoài khi nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị, máy
móc họ thường báo giá cao, ngược lại khi xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm họ lại báo giá thấp. Hiện
tượng “một cao, một thấp” này có thể làm cho các thương gia nước ngoài dễ dàng biến lợi nhuận của
doanh nghiệp thành của riêng mình và chuyển dời ra bên ngoài, còn doanh nghiệp Trung Quốc bị thua lỗ:
Kỹ thuật thuộc tài sản vô hình, tính so sánh thấp, nên việc đánh giá càng khó khăn. Tài sản vô hình như
loại sản phẩm, nhãn mác, kỹ thuật, mạng lưới thị trường, chế độ quốc tế, đội ngũ công nhân lành nghề
đã không được đánh giá đầy đủ, do vậy, tài sản của Trung Quốc bị thất thoát nghiêm trọng.
2.2.3. Chưa có chính sách thích hợp để bảo hộ thị trường trong nước
Với phương châm “Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”, “Lấy thị trường
để phát triển”, Trung Quốc đã cho thi hành chính sách quy định tỷ lệ tiêu thụ trong nước và ngoài nước về
- Kết cấu ngành nghề không hợp lý, mất cân đối nghiêm trọng. Trong 3 ngành lớn của nền kinh tế
quốc dân, đầu tư vào nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ, trong khi các ngành khác chiếm tỷ trọng rất cao.
- Ô nhiễm môi trường sinh thái. Đây chính là hậu quả trực tiếp của việc coi nhẹ vấn đề bảo vệ môi
trường. Trong nhiều năm thu hút FDI, Trung Quốc đã tiếp nhận nhiều hạng mục gây ô nhiễm môi trường
sinh thái. Các hạng mục gây ô nhiễm chủ yếu là các ngành nhựa, cao su, ngành công nghiệp hoá chất (sơn
dầu, thuốc sâu, thuốc tẩy ), in nhuộm, làm sạch, mạ điện, chế tạo giấy, đồ hoá trang, chế biến thuốc,
khoáng sản, năng lượng…
* Nhận xét chung:
19
Tóm lại, bằng những biện pháp linh hoạt trong việc tạo dựng môi trường pháp lý, chủ động trong
xây dựng cơ sở hạ tầng, đúng đắn trong việc tạo lập chiến lược thu hút FDI, Trung quốc đã rất thành công
trong thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư quan trọng này mặc dù còn một vài hạn chế. Trên thực tế, FDI
đóng vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách và phát triển kinh tế Trung Quốc. Không phải ngẫu nhiên
mà có sự trùng lặp giữa sự gia tăng nhanh chóng của FDI với sự tăng trưởng kinh tế tốc độ cao trong
những năm qua. Với đà tăng trưởng như vậy, nhiều chuyên gia dự đoán rằng, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của
nền kinh tế Trung Quốc.
20
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC
3.1. Những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc
3.1.1. Những nét tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc:
Về tư tưởng văn hoá
Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia đều chịu những tác động tư tưởng, văn hóa lịch sử
truyền thống tương tự nhau. Đây là kết quả của hàng ngàn năm quan hệ gần gũi, giao lưu văn hoá
hay nói đúng hơn là kết quả của hơn một nghìn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc ở Việt
Nam. Cả hai quốc gia cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Khổng giáo do đó cách suy nghĩ, cách
làm của người Việt Nam và người Trung Quốc có nhiều nét tương đồng.
Nho giáo được chủ nghĩa phong kiến Trung Quốc và Việt Nam tôn thờ làm hệ tư tưởng
thống trị. Nho giáo đề cao giáo dục, tri thức, đạo đức, có nhiều ý tưởng tốt đẹp về văn hoá, về
quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Đó là những di sản quí đối
với con người trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, các nhà Nho giáo ghét việc buôn bán, chỉ coi
Đây là điểm tương đồng nổi bật nhất giữa hai quốc gia, nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc
hoạch định chính sách, đường lối mở cửa và phát triển ngoại thương.
* Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trung Quốc ở giai đoạn đầu của cải cách mở cửa cũng có những điểm giống Việt Nam và
hầu hết những nước đang phát triển khác ở Châu Á trong thời kỳ trước cất cánh. Đi lên từ một nền
nông nghiệp lạc hậu, sản xuất manh mún, phân tán, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nông sản và
nguyên liệu thô. Thu nhập bình quân đầu người thấp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng thấp kém.
Công nghiệp chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, nông nghiệp chiếm ưu thế nhưng lại hết sức lạc hậu. Trình độ
sản xuất thấp kém, lạc hậu nhiều năm so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
* Quan điểm về chính sách phát triển quan hệ thương mại quốc tế
Sau một thời gian dài đóng cửa, Việt Nam cũng giống như Trung Quốc đều nhận thấy rằng
một quốc gia không thể phát triển kinh tế bằng cách đóng cửa, tự lực cánh sinh mà không liên hệ
với bên ngoài. Hơn nữa, mô hình kinh tế cũ mà cả hai nước áp dụng đã chứng minh điều này là
đúng đắn. Vì thế, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một kỷ nguyên phát
triển mới của đất nước. Đảng và Chính phủ Việt Nam tuyên bố mở cửa hội nhập với thế giới
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, hợp tác,
22
cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và công việc nội bộ của nhau. Trong giai đoạn mới, Việt Nam
xây dựng nền kinh tế theo mô hình “hướng về xuất khẩu” do vậy ngoại thương mà đặc biệt là
hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu được đề cao, coi đó là một trong ba chương trình kinh tế
trọng điểm của đất nước. Hệ thống chính sách pháp luật ngày càng thông thoáng hơn tạo điều kiện
cho phát triển quan hệ thương mại quốc tế.
*Lợi thế so sánh về vị trí địa lý và nguồn nhân công
Nằm trong khu vực tăng trưởng năng động nhất của thế giới, Việt Nam và Trung Quốc đều
có rất nhiều lợi thế về vị trí địa lý để phát triển kinh tế hướng ngoại. Nằm ở cửa ngõ của Đông
Nam Á,Việt Nam còn có rất nhiều lợi thế về vị trí địa lý để phát triển kinh tế hướng ngoại.Việt
Nam là đầu mối giao lưu kinh tế của khu vực Đông Nam Á với các khu vực khác trên thế giới.
Đường bờ biển kéo dài suốt từ bắc xuống nam với nhiều cảng biển quan trọng là những ưu thế
của Việt Nam trong giao thương quốc tế.
Bên cạnh lợi thế so sánh về vị trí địa lý, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có nguồn nhân
Vốn đăng ký
(triệu USD)
Tổng số
vốn thực hiện
(triệu USD)
Qui mô bình
quân một dự án
Tổng số 8867 142401,9 29394,9 16,06
2000 391 2838,9 2413,5 7,26
2001 555 3142,8 2450,5 5,66
2002 808 2998,8 2691,0 3,71
2003 791 3191,2 2650,0 4,03
2004 8111 4547,6 2852,5 5,61
2005 970 6839,8 3308,8 7,05
2006 987 12004,0 4100,1 12,16
2007 1544 21347,8 8030,0 13,8
2008 1171 64011,0 11400,0 54,66
2009 839 21480,0 10000,0 25,60
2010 969 18600,0 11000,0 19,20
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
Kể từ năm 2006 đến 2008, dòng ĐTNN vào Việt Nam tăng đột biến, hàng năm luôn đạt kỷ lục
so với các năm trước. Năm 2006 vốn FDI đăng ký đạt 12 tỷ USD, năm 2007 đạt 21,3 tỷ USD,
năm 2008 con số này lên tới 71,7 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2007. Trong 2009 và 2010,
mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, cũng như những
24
vấn đề hậu khủng hoảng, vốn FDI đăng ký vẫn đạt khoảng 23,1 tỷ vào năm 2009 và 18,6 tỷ vào
năm 2010.
Vốn FDI thực hiện năm 2006 đạt 4,1 tỷ USD, năm 2007 đạt 8,0 tỷ USD, năm 2008 đạt 11,5 tỷ
USD, chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn rất nhiều so với các năm trước. Trong
năm 2009 và 2010, mặc dù vốn đăng ký giảm nhưng vốn FDI thực hiện vẫn đạt 10 tỷ USD vào