Chính sách đầu tư quốc tế của hàn quốc và bài học cho viêt nam - Pdf 13

CHUYÊN ĐỀ:
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC
-*-*-*-*-*-
MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
1. Tổng quan về Hàn Quốc 4
1.1 Điều kiện tự nhiên- xã hội 4
1.1.1 Đặc điểm địa lý 4
1.1.2 Hệ thống chính trị 4
1.2 Đặc điểm chung về kinh tế Hàn Quốc
2. Chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc 5
2.1 Nội dung chính sách 5
2.1.1 Giai đoạn 1960-1975 5
2.1.2 Giai đoạn 1976 đến nay 6
2.2.Đánh giá những thành công và hạn chế trong chính sách đầu tư
quốc tế của Hàn quốc 7
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 9
Kết luận 10
Phụ lục
Phụ lục 1 Thể chế nhà nước Hàn Quốc 11
Phụ lục 2 Lịch sử và chính sách đối ngoại 13
Phụ lục 3 Các quy định về thương mại, thuế và thanh toán 15
Phụ lục 4 Đặc điểm chung về kinh tế 19
Phụ lục 5 Bối cảnh lịch sử của các giai đoạn trong chính sách
đầu tư quốc tế của hàn quốc 20
Phụ lục 6 Tình hình hoạt động đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước
ngoài của Việt Nam 22
Phụ lục 7 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc
vào Việt Nam 26
Tài liệu tham khảo 28

• Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
• Khí hậu: khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, mùa hè nóng
và ẩm ướt, mùa đông thì lạnh, khô và tuyết rơi nhiều.
• Dân số: 48,6 triệu người
• Tỷ lệ tăng dân số: 0,26 %
1.1.2.Hệ thống chính trị:
• Tên đầy đủ: Đại Hàn Dân Quốc
• Thể chế chính trị: Cộng hòa
• Đứng đầu nhà nước: Tổng thống Lee Myung-bak (từ tháng 2/2008)
• Đứng đầu chính phủ: Thủ tướng Han Seong-soo (từ tháng 2/2008)
• Chủ tịch Quốc hội: Kim Hyong O (từ tháng 7/2008)
• Thể chế nhà nước: Nền chính trị Hàn Quốc theo chế độ Cộng hoà, tam quyền phân lập
(xem thêm Phụ lục 1, trang 11)
Sơ lược về Lịch sử và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc (xem Phụ lục 2, trang 13)
1.2. Đặc điểm chung về kinh tế:
• GDP: 832,5 tỷ USD( 2011)
• GDP/ người: 28.100 USD/ năm( 2011)
• Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 0,8% ( quý 3/2011)
• GDP chia theo ngành(hình bên- xem thêm phụ lục 4, trang 19)
class="bi x9 y4e w3 h7"
2. Chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc:
2.1.Nội dung chính sách:
Chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc được chia làm nhiều giai đoạn. Ứng với mỗi
giai đoạn, Hàn Quốc thực hiện các mô hình chiến lược khác nhau phù hợp với điều kiện từng
thời kỳ( xem thêm phụ lục 5, trang 20)Ta có thể chia làm 2 giai đoạn chính như sau:
2.1.1.Giai đoạn 1960-1975:
Mô hình chính sách: Hàn Quốc thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài nhằm tăng cường nguồn vốn để phát triển các công ty và nền sản xuất trong nước. Cụ
thể:
• Những năm 1960: Tập trung thu hút viện trợ của nước ngoài và vay nợ để phục hồi nền

đâu tư công nghệ cao, thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được tăng từ 8 năm lên 10
năm. Các thủ tục hành chính rườm rà, trước kia từng làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài,
nay được xóa bỏ, hoặc đơn giản hóa.
• Chính phủ đã thực hiện chính sách mở cửa cho đầu tư nước ngoài đối với hầu hết các lĩnh
vực của thị trường trong nước. Chỉ còn 21 lĩnh vực trong tổng số 195 lĩnh vực kinh tế vẫn còn
đóng cửa, 7 lĩnh vực trong số đó chỉ bị đóng cửa một phần. Như vậy, chính phủ đã tự do hóa
trên 98% nền kinh tế. 2% còn lại là các lĩnh vực thuộc an ninh quốc gia, tài sản văn hóa hoặc
công việc làm ăn của các nông dân nhỏ lẻ.
• Từ năm 1986, nền kinh tế Hàn Quốc đã thặng dư thương mại và do đó FDI ra nước ngoài
được khuyến khích tích cực hơn. Chính phủ Hàn Quốc đã nới lỏng hầu hết các quy định liên
quan đến FDI ra nước ngoài bao gồm cả mức trần đầu tư cho các nhà đầu tư. Năm 2003, một
thực thi mới pháp lệnh về luật thương mại nước ngoài được thành lập, trong đó bao gồm hỗ trợ
cho ra nước ngoài FDI của các công ty Hàn Quốc bằng cách giải quyết những trở ngại phải đối
mặt với các công ty Hàn Quốc hoạt động ở nước ngoài
• Từ 1991 đến nay, chính phủ đã mở rộng vai trò hoạt động của các tổ chức xúc tiến
thương mại và đầu tư nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các công ty Hàn quốc đầu tư ra nước ngoài
thông qua việc cung cấp thông tin về thị trường đầu tư, đặc biệt với những nước mà Hàn quốc
chưa có quan hệ ngoại giao.
• Trong việc cải cách hành chính, chính phủ đã uỷ quyền phê chuẩn cấp giấy phép đầu tư
cho ngân hàng Hàn quốc đối với những dự án có quy mô vốn từ 100.000 USD trở xuống, còn
những dự án trên mức đó thì vẫn do chính phủ xem xét và phê duyệt.
• Chính phủ Hàn quốc đã thành lập các uỷ ban hợp tác đầu tư song phương và hiệp hội các
nhà đầu tư Hàn Quốc nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các công ty Hàn quốc đầu tư ra nước ngoài
bằng cách hàng năm tổ chức các diễn đàn gặp mặt giữa uỷ ban, hiệp hội, các nhà đầu tư, nhằm
đánh giá và nắm bắt những vướng mắc, khó khăn của các nhà đầu tư ở thị trường nước ngoài để
có các biện pháp khắc phục, giải quyết kịp thời.
2.2.Đánh giá những thành công và hạn chế trong chính sách đầu tư quốc tế của Hàn
quốc:
 Thành công:
Giai đoạn 1976-1979 là thời kỳ xuất phát về vốn đầu tư ra nước ngoài của Hàn quốc, đầu

đang trỗi dậy vài năm trở lại đây,đó là sự gia tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài (xem thêm phụ
lục 6, trang 22). Tuy nhiên,trong việc thực hiện chính sách đầu tư quốc tế,Việt Nam vẫn gặp
phải một số vấn để như làm sao để phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế còn
đang tồn tại.Từ thành công của Hàn Quốc trong việc thực hiện chính sách đầu tư quốc tế,Việt
Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình:
• Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đầy đủ hơn, đồng bộ hơn,
nhất quán hơn và minh bạch hơn.Cải cách cơ chế quản lý theo hướng đơn giản gọn nhẹ, tạo điều
kiện thuận lợi nhất, thông thoáng nhất cho các hoạt động kinh tế.
• Chuyển từ chiến lược thu hút FDI thiên về số lượng sang chú trọng hơn về chất lượng,
tập trung vào tác động của FDI đến nền kinh tế nội địa, có chính sách thu hút, sử dụng và quản
lý FDI phù hợp hơn, hiệu quả hơn.
• Đổi mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có đội ngũ cán bộ hoạt động
trên lĩnh vực hợp tác và đầu tư quốc tế.
• Mở rộng lĩnh vực cho phép đàu tư nươc ngoài. Cần thu hút FDI hơn nữa vào những
nghành Việt Nam có lợi thế như nông-thủy sản, …tạo cơ hội cho những ngành đó phát triển
hơn.
• Cơ quan Xúc tiến Đầu tư và Thương mại Hàn Quốc (KOTRA) hoạt động rất hiệu quả
trong việc thu hút FDI và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam cũng đã thành lập Cục Xúc tiến
Thương mại (VIETRADE) và Cục Đầu tư nước ngoài(FIA) nhưng hoạt động không được như
mong đợi, vì vậy cần học hỏi kinh nghiệm của KOTRA để đạt hiệu quả hơn.
• Chuẩn bị tốt cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn đề về ách tắc giao thông, đường, cảng, tình
trạng thiếu điện, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải thiện chất lượng lao động Khi
đó, dòng vốn FDI chất lượng cao hơn, có sức lan tỏa tốt tới nền kinh tế Việt Nam sẽ đến.
Liên hệ thực tế tình trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam( xem phụ lục
7, trang 26)
KẾT LUẬN
Việc thực hiện thành công chính sách đầu tư quốc tế đã góp phân không nhỏ trong sự
phát triển kinh tế của Hàn Quốc. FDI đã đóng góp đáng kể, giúp Hàn Quốc trở thành một quốc
gia phát triển. Về phần mình, sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đầu tư quốc tế,Việt Nam
cũng đã có những thành tựu nhất định. Nhưng để chính sách đầu tư quốc tế thành công hơn nữa,

nhận. Một số cơ quan giúp Tổng thống là các Hội đồng và Uỷ ban, Tổng thống chỉ giữ một
nhiệm kỳ 5 năm.
• Quyền Lập pháp: Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Là cơ quan lập pháp, Quốc hội Hàn
Quốc chỉ có một viện, gồm 273 ghế. Nghị sỹ Quốc hội Hàn Quốc được bầu theo nguyên tắc đầu
phiếu phổ thông, có nhiệm kỳ 04 năm.
• Quyền Tư pháp: Hàn Quốc thực hiện chế độ tư pháp ba cấp gồm Toà án Tối cao, ba toà
Thượng thẩm và các Toà án Quận ở các thành phố lớn. Toà án Tối cao xem xét và thông qua
những quyết định cuối cùng những sự chống án đối với các quyết định của các Toà Thượng
thẩm, quyết định của Toà án Tối cao là cuối cùng không được tranh cãi.
Các đảng phái chính trị: Ngoài Đảng cầm quyền đại dân tộc (chiếm hơn 50% số ghế trong
Quốc hội) còn có các đảng khác như: Dân chủ, Tân tiến và Sáng tạo, Dân chủ Lao động, Liên
minh than Pac Kưn Hê, Hàn Quốc sáng tạo và Tiến bộ tân đảng.
• Phụ lục 2: Lịch sử và chính sách đối ngoại
• Sơ lược về lịch sử
Trước năm 1945, Hàn Quốc hay Triều Tiên chỉ là tên gọi khác nhau của bán đảo Triều
Tiên. Đất nước này có khoảng 5.000 năm lịch sử. Tổ tiên của người Triều Tiên là những người
thuộc các bộ lạc Mông Cổ di cư từ vùng Trung Á đến bán đảo.
Năm 2333 trước Công nguyên, nước Cổ Triều Tiên (Ko Choson) ra đời, lấy Bình
Nhưỡng làm trung tâm, bao gồm cả vùng Mãn Châu, Hoa Đông (Trung Quốc) và bán đảo Triều
Tiên. Nhà nước này tồn tại khoảng 1000 năm, liên tiếp bị nhà Chu, nhà Hán xâm lược.
Từ năm 57 trước công nguyên, 3 nhà nước phong kiến mới lần lượt hình thành là
Koguryo (bao gồm phía bắc bán đảo và vùng Mãn Châu Trung Quốc), Paekche và Shilla (phía
nam bán đảo). Thời đại Tam quốc này kéo dài 700 năm. Năm 668, Shilla thôn tính Kokuryo và
Paekche, lập nên triều đại Shilla thống nhất trên bán đảo, kéo dài gần 3 thế kỷ (668-918). Từ
918-1392 vua Wang Kon sáng lập ra nhà nước Koryo (Cao Ly, nhà Vương), lấy Thủ đô là
Kaeseong. Từ 1392-1910 vua Ly Song Gye sáng lập ra nhà nước Choson (Triều Tiên, nhà Lý),
rời đô về Seoul (1394), vua Sejong (triều vua thứ tư) đã sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Triều
Tiên mà ngày nay vẫn đang dùng. Nước Triều Tiên được thế giới biết đến từ triều đại Koryo.
Tên nước Koryo được phiên âm quốc tế thành KOREA.
Cuối thế kỷ 19, bán đảo Triều Tiên bị các nước lớn Trung Quốc, Nga, Nhật Bản tranh

Cup 2002, đăng cai ASIAD-14 Busan 2002, tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2005.
• Phụ lục 3: Các quy định về thương mại, thuế và thanh toán:
A. Quy định về thương mại
Ngoại thương Hàn Quốc được điều tiết bởi nhiều đạo luật khác nhau bao gồm Luật Ngoại
thương chi phối hoạt động xuất nhập khẩu, Luật Hải quan điều chỉnh việc thông quan và thu
thuế, Luật Ngoại hối quy định các vấn đề về giao dịch ngoại tệ như thanh toán các khoản xuất
hay nhập khẩu. Các đạo luật này cùng với những quy định về thương mại khác đều nhằm mục
đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch thương mại với Hàn Quốc.
Luật Ngoại Thương có hiệu lực từ ngày 1/7/1987 là sự tổng hợp đúc kết và hoàn chỉnh
của ba đạo luật ra đời trước đó-Luật liên kết xuất khẩu năm 1961, Luật Giao dịch thương mại
năm 1967 và Luật Xúc tiến xuất khẩu thiết bị năm 1978. Mục tiêu của đạo luật mới này là cung
cấp một hệ thống mới áp dụng trong kinh doanh. Hệ thống như vậy sẽ cho phép chính phủ xử lý
tốt hơn trong môi trường kinh doanh ngày càng năng động trong và ngoài nước.
• Những điều khoản chính trong bộ luật mới bao gồm:
 Công bố việc từng bước chuyển sang một nền thương mại mở và tự do.
 Xóa bỏ dần những rào cản trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
 Bảo vệ hoạt động kinh doanh công bằng.
• Bộ Luật Hải Quan
Luật Hải quan bao gồm những quy định về các hệ thống và thủ tục hải quan có liên quan
tới phương tiện vận tải, khu ngoại quan, vận chuyển, thông quan…nhằm quản lý hàng hóa nước
ngoài và đồng thời ngăn chặn tình trạng buôn lậu.
Thông qua việc mở ra các dịch vụ hỗ trợ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và hành
khách vô cùng đa dạng, các hoạt động quản lý và giám sát, đảm bảo ngân sách nhà nước, kiểm
soát hợp lý hàng hóa ngoại quan và hợp tác quốc tế, hải quan Hàn Quốc đã và đang góp phần
phát triển nền kinh tế quốc gia đồng thời thúc đẩy mậu dịch quốc tế.
B. Chính sách thuế: Hệ thống thuế Hàn Quốc bao gồm thuế quốc gia và thuế địa
phương.
 Thuế quốc gia
 Thuế trực thu: thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức đất đai dôi ra, thuế di sản,
thuế quà biếu, thuế định giá lại tài sản, và thuế lợi tức phụ.

• Các doanh nghiệp khác cần thiết cho việc thu hút đầu tư nước ngoài;
• Hơn nữa, các ưu đãi thuế được dành cho công nghệ cần thiết cho việc cải tiến cơ cấu
công nghiệp và nâng cao khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp, công nghệ phải có tuổi thọ 3
năm và được chế tạo trong nước. Mức thuế là 100% được miễn trừ từ 3-7 năm đầu và miễn giảm
50% trong 2-3 năm tiếp theo tuỳ thuộc vào loại doanh nghiệp và loại công nghệ.
• Phương thức miễn giảm: Theo luật khuyến khích vốn nước ngoài, thuế công ty chỉ được
miễn đối với thu nhập của các doanh nghiệp được chấp nhận. Thu nhập từ việc thanh lý, đất đai,
thuế lũy tiến đặc biệt do chuyển khoản, thuế phụ thu và thu nhập không được công nhận thì
không được miễn thuế.
• Xin miễn giảm: Các doanh nhgiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn xin miễn giảm thuế
phải nộp đơn cho Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế. Những công ty nào không xin miễn thuế thì
không đuợc hưởng ưu đãi này. Đơn xin có thể nộp trước khi năm tài chính kết thúc đối với thuế
thu nhập và thuế công ty trong đó tính luôn ngày doanh nghiệp bắt đầu hoạt động.
• Quyết định miễn giảm thuế: Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế sẽ đưa ra quyết dịnh về việc
miễn giảm thuế trong vòng 60 ngày kể từ ngày nộp đơn xin, sau khi đã tham khảo ý kiến các Bộ
trưởng Bộ Nội Vụ và Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Ủy ban Thẩm Định dự án có vốn
đầu tư nước ngoài đã kiểm tra.
C. Những qui định về hệ thống thanh toán:
• Thanh toán tiền hàng: xác nhận của chủ tịch trụ sở chính ngân hàng ngoại hối.
• Thanh toán phí dịch vụ: xác nhận của chủ tịch ngân hàng ngoại hối, xác nhận của chủ
tịch trụ sở chính ngân hàng ngoại hối, giấy phép của thống đốc ngân hàng trung ương Hàn
Quốc.
• Thanh toán các khoản thông thường khác: xác nhận của chủ tịch ngân hàng ngoại hối,
xác nhận của chủ tịch trụ sở chính ngân hàng ngoại hối.
• Giao dịch tư bản liên quan đến thanh toán: xác nhận của chủ tịch ngân hàng ngoại hối,
xác nhận của chủ tịch trụ sở chính ngân hàng ngoại hối, giấy phép của thống đốc ngân hàng
trung ương Hàn Quốc.
• Thanh toán thường xuyên: các vụ giao dịch phải được xác nhận bởi các ngân hàng ngoại
hối và báo cáo cho người quản lý phòng thuế ( trên 10.000 USD/năm), giấy phép của thống đốc
ngân hàng trung ương Hàn Quốc, trừ quà biếu, hàng quyên góp, cứu trợ.

sống sót đã tiếp tục sử dụng kỹ năng của họ phục vụ cho thời kỳ hậu chiến. Trong thập kỷ sau
đó, chính phủ đã duy trì chủ nghĩa bảo hộ, không chỉ bằng cách áp đặt các rào cản thương mại ở
mức cao mà còn duy trì một tỷ giá hối đoái quá cao. chính sách kinh tế nước ngoài của Hàn
Quốc tập trung về bảo đảm viện trợ nước ngoài tối đa. Nước ngoài chỉ hỗ trợ nhập khẩu hàng
hoá cơ bản cho sự sống còn kinh tế, trong khi xuất khẩu rất hạn chế. Hàn Quốc đã khai thác
được một vài nguồn tài nguyên thiên nhiên, do đó thu nhập số tiền nhỏ của tiền tệ nước ngoài,
nhưng không có thương mại chính thức chính sách, ngoại trừ sự chú ý hạn chế cho nhập khẩu
thay thế. Bắt đầu vào giữa những năm 1960, các nhà lãnh đạo Nam Triều Tiên(Hàn Quốc) đã
thực hiện thay đổi chính sách và tiến hành mở cửa với thế giới bên ngoài. Một phối hợp sáng
kiến về thương mại, thuế, tín dụng và tỷ giá hối đoái đã khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu
nghiêng về xuất khẩu.Sau đó, trong năm 1962, Hàn Quốc bắt tay vào một quá trình phát triển ồ
ạt. Sau một cuộc đảo chính quân sự, một chính phủ mới được thành lập, và đưa ra tất cả những
nỗ lực công nghiệp hóa. chiến lược xuất khẩu trực tiếp phát triển đã được giới thiệu, và xuất
khẩu lao động, hàng hoá sản xuất ánh sáng đã tích cực thúc đẩy. Động thái này là dựa trên lợi
thế so sánh của Hàn Quốc trong các ngành này, mà nền tảng là chấy lượng giáo dục tốt, rất năng
động, lực lượng lao động giá rẻ. các biện pháp xúc tiến xuất khẩu được thực hiện, và cho rằng
mục tiêu chính của xúc tiến xuất khẩu để kiếm ngoại tệ, hạn chế nhập khẩu. Những tập trung nỗ
lực sản xuất của Hàn Quốc đã đạt kết quả đáng kể. Giữa năm 1962 và 1970, xuất khẩu của Hàn
Quốc tăng hơn 15 lần. Trong những năm 1970, xuất khẩu của Hàn Quốc tăng mạnh. Hàn Quốc
tiếp tục xúc tiến xuất khẩu và các chính sách hạn chế nhập khẩu. Đã có một sự chuyển đổi trong
chính sách kinh tế của Hàn Quốc.
• Giai đoạn 1976 – nay
Với chính sách mở cửa, Hàn Quốc đã đạt được những thành công đáng kể trong kinh tế.
trong giai đoạn này, Hàn Quốc nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ Mỹ cho nên các hoạt động thương
mại và đầu tư của Hàn Quốc đã phát triển mạnh mẽ. chính phủ thực hiện chính sách tự do hóa
tài chính thông qua việc thả nổi lãi suất và giảm bớt các biện pháp kiểm soát của chính phủ đối
với các hoạt động tín dụng nhằm tạo điều kiện hơn cho các công ty Hàn Quốc tìm kiếm nguồn
tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, Từng bước thực hiện tự do hóa thương
mại như việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm bớt danh mục
các hàng hóa quản lý bằng giấy phép nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu trong đó

trong khi các doanh nghiệp liên doanh chỉ chiếm phần còn lại. Đồng thời, có sáu dự án đầu tư
nước ngoài được cấp phép ở Việt Nam theo hình thức BOT (cung cấp nước và nhà máy điện),
với tổng vốn đăng ký là 1,37 tỉ USD.
Khu vực đầu tư nước ngoài đã có sự phát triển vượt bậc, dần dần khẳng định vị thế của
mình là một bộ phận năng động của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào việc tăng cường năng
lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong những năm gần đây, khu vực đầu tư nước ngoài
chiếm ¼ tổng vốn đầu tư của cả nước, 43,6% sản lượng công nghiệp (2004), 57,2% tổng kim
ngạch xuất khẩu (2005) và 15,9% GDP của Việt Nam. Tuy vậy, tỉ lệ giải ngân vốn của các dự
án đầu tư nước ngoài vẫn còn chậm và chưa ổn định từ mức 7,1 tỉ USD trong giai đoạn 1991-
1995 lên mức 13,5 tỉ USD giai đoạn 1996-2000 và 14,3 tỉ USD từ 2001 đến 2005 nhưng trong
năm 2006 và 2007, vốn được giải ngân giảm còn 8,7 tỉ USD.
Đóng góp của FDI vào GDP
GDP 100.
0
100.
0
100.
0
100.
0
100.
0
100.
0
100.
0
100.0
Khu vực
nhà nước
39.0 39.0 38.4 39.1 39.2 38.4 50.1 43.3

biệt dịch vụ ở phương thức (i) và (iv), sẽ ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào Việt Nam. Đầu tiên,
các phân ngành dịch vụ mà trước đây không cho phép hoặc hạn chế vốn đầu tư nước ngoài (ví
dụ như phân phối, vận tải, viễn thông, tài chính, v.v) sẽ được tự do hóa rộng khắp (mặc dù còn
một số điều kiện hạn chế và một thời gian chuyển đổi từ 3 đến 5 năm).
• Các ngành và khu vực đầu tư được hưởng ưu đãi: Chính phủ Việt Nam khuyến khích
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và các ngành và các vùng sau:
(1) Các ngành được hưởng ưu đãi khi đầu tư:
- Sản xuất vật liệu mới và năng lượng mới, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, công nghệ
sinh học, công nghệ thông tin và sản xuất các sản phẩm cơ khí;
- Giống cây trồng, trồng trọt, chăn nuôi và chế biến các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp, làm
muối, tạo giống cây và vật nuôi mới.
- Sử dụng công nghệ cao và kĩ thuật tiên tiến, bảo vệ môi trường sinh thái và nghiên cứ, phát
triển cũng như tạo ra công nghệ cao.
- Các ngành cần nhiều lao động
- Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng và các dự án công nghiệp quan trọng có qui mô lớn.
- Phát triển giáo dục, đào tạo, sức khỏe, thể thao, thể lực và văn hóa Việt Nam
- Phát triển các sản phẩm và ngành nghề truyền thống
- Các ngành sản xuất và dịch vụ khác
(2) Các vùng được nhận ưu đãi khi đầu tư:
- Các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn như vùng núi, vùng
sâu, vùng xa hoặc vùng kém phát triển.
- Các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế.
• Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam:
Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đầu tư vào 33 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới
với 200 dự án. Ngoài một số dự án tại các thị trường như Nam Phi, Australia, Hàn Quốc, hầu hết
các dự án còn lại đề tập trung vào Lào, Campuchia, Singapore
Trong số 200 dự án đó, 70 dự án được triển khai tại Lào với số vốn 461 triệu USD, chiếm
44,7% tổng số vốn, Algeria chiếm 23,5%, tiếp theo là Iraq, Campuchia và Nga.
Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng mà
mạnh nhất là thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất và chế biến hàng gia dụng. Sản xuất vật liệu

một số trở ngại khi đầu tư vào Việt Nam:
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng yếu kém đặc biệt là giao thông và điện, nhiều doanh nghiệp Hàn
Quốc cho rằng cơ sở hạ tầng yếu kém đang gây trở ngại đối với họ trong hoạt động kinh doanh.
Thiết hụt điện năng trong những tháng cao điểm từ năm 2005 đến nay vẫn còn tiếp diễn, trong
khi khó có khả năng bổ sung nhanh công suất cho hệ thống để đáp ứng nhu cầu. Một thách thức
lớn cho ngành điện Việt Nam là công suất dự trữ trong hệ thống điện quá mỏng.
Thứ hai, cùng với hạ tầng yếu kém, theo ý kiến đánh giá của các nhà đầu tư Hàn Quốc
chi phí thực hiện các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam ngày càng tăng cao, bao gồm chi phí
thuê đất, điện và chi phí lao động.
Thứ ba, Việt Nam hiện nay đang thiếu đội ngũ lao động có tay nghề cao, khó khăn trong
việc tuyển cán bộ quản lý và lao động có tay nghề cao là trở ngại cho đầu tư của họ tại Việt
Nam. Đây là vấn đề mà không chỉ các nhà đầu tư Hàn Quốc mà cả các nhà đầu tư nước ngoài
đang gặp phải. Thiếu lao động lành nghề đang khiến cho Việt Nam mất dần lợi thế về nguồn
nhân lực dồi dào.
Thứ tư, bên cạnh thiếu lao động chất lượng cao, rào cản về ngôn ngữ cũng là khá lớn. Ở
các vùng ngoại ô thành phố và các tỉnh của Việt Nam rất khó tìm các công nhân có thể nói
Tiếng Anh thành thạo. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ thấy tiện lợi nếu có một lực
lượng lao động nói Tiếng Anh tốt.
Thứ năm, thiếu trầm trọng các ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp Hàn Quốc
cho rằng công nghiệp hỗ trợ tại chỗ chưa phát triển là một trong những tồn tại chính của môi
trường đầu tư Việt Nam. Mặc dù các nhà đầu tư Hàn Quốc đã rất tích cực trong việc tìm kiếm
các nhà cung cấp địa phương, nhưng chỉ có rất ít các nhà đầu tư hài lòng với việc cung cấp hiện
nay của Việt Nam. Đây không chỉ là vấn đề chất lượng sản phẩm, mà còn là vấn đề thông tin bởi
nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc đã gặp rất nhiều khó khắn trong việc có được những thông tin đầy
đủ về các nhà cung cấp tiềm năng cũng như khả năng cung cấp thực sự của họ.
Thứ sáu, mặc dù Việt Nam đã cải thiện năng lực lập pháp để ổn định các chính sách kinh
doanh và đầu tư, nhưng cách hiểu khác nhau và việc áp dụng khác nhau những quy định của
pháp luật tại các địa phương khác nhau khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc rất lúng túng. Các
doanh nghiệp Hàn Quốc cho rằng hệ thống pháp lý chưa phát triển và vận hành không rõ ràng là
rào cản cho hoạt động kinh doanh của họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status