z
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 1
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Số liệu nghiên cứu 2
1.5 Kết quả nghiên cứu 2
1.6 Bố cục tiểu luận 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN 4
3.1 Sơ lược về Nhật Bản 4
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4
3.2 Các giai đoạn phát triển của Nhật Bản 5
3.2.1 Giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 đến thập niên 60 5
3.2.2 Nền kinh tế Nhật Bản từ 1960 – 1973 12
3.2.3 Giai đoạn từ năm 1973 đến nay 16
CHƯƠNG 4: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 22
4.1 Tổng quan về kinh tế Việt Nam 22
4.2 Bài học cho Việt Nam 22
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin, các số liệu xử lý, kết hợp các phương pháp phân tích, so sánh và
diễn dịch, …để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, về những bài học mà Việt Nam có thể
học hỏi từ Nhật Bản.
1.4 Số liệu nghiên cứu
Thu thập các số liệu thứ cấp, đã qua xử lý để áp dụng vào đề tài, góp phần làm tăng
tính thuyết phục cho đề tài nghiên cứu.
1.5 Kết quả nghiên cứu
Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đã nắm được mô hình của sự phát triển ở Nhật Bản,
và cũng đã tìm ra được một số bài học kinh nghiệm cho nước ta.
1.6 Bố cục tiểu luận
Bài tiểu luận có bố cục gồm 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lí luận
Chương 3: Thực trạng về đất nước Nhật Bản
Chương 4: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 5: Kết luận
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Kinh tế học phát triển là khoa học nghiên cứu cách thức sử dụng các nguồn lực
khan hiếm một cách có hiệu quả nhằm giúp các nước đang phát triển nhanh chóng
thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu tạo dựng một xã hội có trình độ phát triển
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nhật Bản là một quần đảo với trên 3.000 đảo được tạo thành từ các ngọn núi cao
nổi lên từ một dãy núi nằm sâu dưới biển Thái Bình Dương, phía ngoài lục địa châu Á.
Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska.
Nhật Bản có bờ biển dài 37.000 km, có đá lớn và nhiều vịnh nhỏ nhưng rất tốt và đẹp.
Đồi núi chiếm 73% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa, có một
số đỉnh núi cao trên 3000 mét, hơn 532 ngọn núi cao hơn 2000 mét. Ngọn núi cao nhất
là núi Phú Sĩ cao 3776 mét.
Vì nằm ở tiếp xúc của một số đĩa lục địa, nên Nhật Bản hay có động đất gây nhiều
thiệt hại. Động đất ngoài khơi đôi khi gây ra những cơn sóng thần. Mỗi năm Nhật Bản
chịu vào khoảng 1000 trận động đất và người ta cho rằng cứ 60 năm Tokyo lại gặp
một trận động đất khủng khiếp.
Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Các khoáng sản như quặng sắt, đồng đỏ,
kẽm, chì và bạc, và các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than đều
phải nhập khẩu. Địa hình và khí hậu Nhật Bản khiến người nông dân gặp rất nhiều khó
khăn, và vì quốc gia này chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo, nên khoảng
một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi
dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt
quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh
chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973) làm thế giới phải kinh
ngạc. Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy
chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế
giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc). Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ
hai về kinh tế và mới chỉ bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2011.
Đến tháng 7, 2010, dân số Nhật Bản hiện nay lên tới gần 127 triệu người, xếp hàng
thứ 10 trên thế giới. Phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số
80.3 %
Máy mc công
nghiệp
23.346
15.352
34.2 %
Cấu trc
90.435
68.215
24.6 %
Nguyên vật liệu
công nghiệp
32.953
25.089
23.9 %
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Tài sản h gia đnh
46.427
36.869
20.6 %
Tài sản h gia đnh
4.156
3.497
15.9 %
Điện và gas
- Áp dụng: Tuy nhiên, chính sách này lại chính là nguyên nhân đẩy tỷ lệ lạm phát lên
mức 3 con số trong giai đọan 1946-1949. Đây là mức độ lạm phát Nhật Bản trải qua
cao nhất từ trước đến nay. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
b. Phong tỏa các khoản đặt cc vào năm 1946
- Chính sách: Nỗ lực đầu tiên để chấm dứt lạm phát là việc phong tỏa các khoản đặt
cọc vào năm 1946.
- Áp dụng: Chính phủ đột ngột ra tuyên bố:
Những ai có tiền gửi ngân hàng không được rút quá 500 Yên trong một tháng.
Tất cả tiền giấy không được gửi trong Ngân hàng hiện có sẽ bị hủy bỏ.
Vì vậy, mọi người buộc gửi tiền trong ngân hàng, hành động của chính phủ làm giảm
lượng cung tiền xuống còn 1/3 và tạm thời kiềm chế được lạm phát. Nhưng người dân
sẽ có cảm giác họ đang bị chính phủ lừa dối và họ mất lòng tin vào chính sách tiền tệ
của chính phủ, lạm phát lại tiếp tục gia tăng.
c. Chính sách bnh n Dodge năm 1949
- Chính sách: Năm 1949, Washington cử ông Joseph Dodge tới Tokyo, ông vốn là chủ
tịch ngân hàng Detroit và là người ủng hộ mạnh mẽ nền kinh tế tự do. Ông ra lệnh áp
dụng các biện pháp thắt chặt để chấm dứt lạm phát, gọi là Chính sách bình ổn
“Dodge”.
- Áp dụng:
Dừng các khoản vay fukki.
Xóa bỏ tất cả các trợ cấp và tăng chí phí sử dụng.
Tăng thuế và cắt giảm chi tiêu.
Tạo ra một “ngân sách cân bằng” – cân bằng ban đầu là bằng không, điều đó có
nghĩa là toàn bộ ngân sách sẽ phải duy trì ở mức thặng dư.
Thống nhất các tỷ giá về một mức là 360 Yên đổi 1 Đô la.
Minh Trị qua các khoản trợ cấp, thuế quan bảo hộ… chiếm vai trò chi phối nhiều lĩnh
vực khác của nền kinh tế.
- Tập trung công nghiệp vào một số zaibatsu gây ra quan hệ nửa phong kiến giữa chủ
và thợ, kìm hãm tiền lương, cản trở sự phát triển của công đoàn gây trở ngại cho việc
thành lập và phát triển của các hãng kinh doanh độc lập, cản trở sự lớn mạnh của giai
cấp trung lưu ở Nhật Bản.
- Tiền lương thấp và các lợi nhuận tập trung… nên giới kinh doanh Nhật Bản thấy cần
phải mở rộng xuất khẩu. Đây là động lực đặc biệt thúc đẩy Nhật Bản vào con đường
đế quốc chủ nghĩa và xâm lược.
- Giải tán các zaibatsu và các công ty lớn, thay đổi bộ máy nhân sự thông qua thanh
lọc kinh tế. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
- Thực chất của các biện pháp giải tán các zaibatsu, chống độc quyền là cải cách quản
lý công thương nghiệp, chuyển từ cơ cấu độc quyền trước chiến tranh sang cơ cấu dân
chủ cạnh tranh, hướng vào thị trường.
b. Cải cách rung đất ở Nhật Bản
- Đạo luật cải cách ruộng đất
Cuộc cải cách ruộng đất này ở Nhật Bản là sự phân chia lại quyền sở hữu ruộng
đất từ địa chủ sang dân cày, xây dựng nên hệ thống nông dân độc lập.
Được quyền sở hữu tới gần 50% số lượng đất nên tầng lớp địa chủ Nhật Bản lúc
đó có sức mạnh áp đảo trong các cộng đồng nông thôn. Nhiều địa chủ cũng có
tên trong Thượng viện. Những địa chủ này cũng tìm mọi cách kiếm lợi từ việc
bóc lột nông dân.
Cuộc cải cách ruộng đất được triển khai vào giai đoạn 1945 – 1950 dưới sự chỉ
đạo chặt chẽ của Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng minh (SCAP) nhằm giải
phóng các lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, tăng năng suất bằng cách thâm
- Các đạo luật về lao động
Những cải cách nhằm dân chủ hóa lao động được thực hiện bằng việc thông qua
các đạo luật về lao động, như Luật công đoàn được ban hành vào tháng 12 năm
1945; Luật điều chỉnh quan hệ lao động năm 1946 và Luật cơ bản về lao động
năm 1947.
Chính phủ Nhật Bản, với sự giúp sức của SCAP đã đẩy mạnh việc hình thành các
Hội đồng quản lý với mục đích tạo cầu nối để qua đó, giới quản lý và công nhân
có thể thương lượng về các hợp đồng và quyết định quản lý.
Các Hội đồng quản lý ngày càng giành được nhiều quyền lực và cương quyết bảo
vệ những thắng lợi đó và tác động của các cuộc đấu tranh công đoàn rất quan
trọng trong việc đặt nền móng cho quan hệ lao động.
- Cơ cấu lương mới
Trong những thành công mà người công nhân Nhật Bản đã giành được là cơ cấu
lương mới, gọi là cơ cấu lương kiểu Densan.
Cơ cấu lương này chú trọng đến thời gian phục vụ công ty, nên công nhân càng ở
lâu trong một công ty càng có lợi thế.
Trong mỗi xí nghiệp, lực lượng lao động có tổ chức ở Nhật Bản rất linh hoạt và
được công ty đào tạo cho các nhiệm vụ rất đa năng.
Mức lương không phụ thuộc vào phân loại việc làm mà do thâm niên phục vụ
công ty, chức vụ và việc đánh giá công trạng, có chú trọng đến những hoàn cảnh
khách quan của mỗi cá nhân như thâm niên công tác tại công ty và số lượng
thành viên trong gia đình. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
- Ổn định việc làm
Đứng trước tình trạng các công ty Nhật Bản bắt đầu sa thải hàng loạt, khiến hàng
triệu người thất nghiệp, các công đoàn đã hoạt động theo phương châm ngăn
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
được thực hiện triệt để như chính sách ban đầu, phong trào lao động vẫn bị gây khó dễ
và ngăn chặn,
- Công cuộc cải cách dân chủ, trong đó có cải cách kinh tế, ở Nhật Bản sau chiến tranh
bị chững lại, thậm chí ít nhiều bị chệch hướng so với mục tiêu ban đầu do Lực lượng
đồng minh đề ra, và kết quả của nó đã bị hạn chế.
3.2.2 Nền kinh tế Nhật Bản từ 1960 – 1973
Từ năm 1960 đến năm 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển “thần
kì”, tốc độ tăng trưởng cao liên tục, nhiều năm đạt tới hai con số (1960 – 1969 là
10,8%). Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế (sau Mĩ).
Tới năm 1968, vươn lên là cường quốc kinh tế tư bản thứ hai sau Mĩ. Từ đầu
những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn
nhất thế giới (cùng Mĩ và Liên minh châu Âu).
3.2.2.1 Nguyên nhân của sự phát triển “thần kỳ”
- Coi trọng yếu tố con người: được đào tạo chu đáo, có ý thức tổ chức kỉ luật, được
trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù và tiết kiệm, ý thức cộng đồng…; được xem là
vốn quý nhất, là “công nghệ cao nhất”, là nhân tố quyết định hàng đầu.
- Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước và các công ty Nhật Bản (như
thông tin và dự báo về tình hình kinh tế thế giới; áp dụng các tiến bộ khoa học, kĩ
thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hàng hóa, tín dụng…).
- Các công ty của Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lý tốt nên có tiềm lực và
sức cạnh tranh cao.
- Luôn áp dụng các thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại, không ngừng nâng cao
năng suất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm.
- Chi phí cho quốc phòng ít nên có điều kiện tập trung cho phát triển kinh tế.
- Tận dụng tốt các điều kiện bên ngoài như nguồn viện trợ Mĩ, các cuộc Chiến tranh
Triều Tiên (1950 – 1953) và Việt Nam (1954 – 1975) để làm giàu.
3.2.2.2 Mô hình phát triển kinh tế và áp dụng
Trong giai đoạn này Nhật Bản tiếp tục các mô hình ở giai đoạn trước. Bên cạnh đó,
còn áp dụng thêm một số các mô hình như sau:
cấp độ tăng trưởng.
Cơ cấu hai tầng.
Nói “cơ cấu hai tầng” là một đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Nhật Bản, không có
nghĩa là ở các nước Tư bản phát triển khác không còn tồn tại bộ phận sản xuất nhỏ Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
nữa. Hơn nữa, khoảng cách về cơ cấu trong một nền kinh tế chỉ vừa mới phát triển
công nghiệp như Nhật Bản thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nét phát triển
độc đáo của Nhật Bản là sự đóng góp to lớn của khu vực sản xuất truyền thống, kinh
doanh nhỏ trong suốt quá trình hiện đại hoá nước Nhật Bản, và sự tồn tại rất phổ biến
của loại hình sản xuất, kinh doanh nhỏ và khả năng thích ứng của nó khi Nhật Bản đã
đạt trình độ hiện đại hoá cao.
Chính sách mở cửa và phát triển khoa hc kỹ thuật.
Sự tiếp nhận các tri thức, thành tựu khoa học kỹ thuật phương tây được phân tích kỹ
lưỡng thận trọng và có chọn lọc. Các tri thức này đem lại kết quả thiết thực cho phát
triển kinh tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.Những tri thức du nhập này
được vận dụng sáng tạo trong điều kiện kinh tế – xã hội của Nhật Bản.
Việc nhập khẩu kỹ thuật nước ngoài để đổi mới kỹ thuật trong nước diễn ra hết sức
mạnh mẽ trong suốt 40 năm sau chiến tranh. Đó là một nguyên nhân quyết định, giúp
nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng với tốc độ chưa từng thấy.
3.2.2.3 Thành tựu đạt được
Tốc đ tăng tng sản phẩm quốc dân thực tế
Năm
1960
1961
1962
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Công nghiệp
Trong sự phát triển của kinh tế Nhật Bản thì nhân tố hàng đầu là sự phát triển các
ngành công nghiệp. Tốc độ phát triển của ngành công nghiệp hằng năm trong thời kỳ
những năm 1960- 1969 trung bình là 13.5% . Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng
từ 4.1 tỉ USD năm 1950 lên 56.4 tỉ USD năm 1969 . Đúng 100 năm sau cải cách Minh
Trị (1868-1968) Nhật Bản dẫn đầu các nước tư bản về sản lượng tầu biển, xe
máy, máy khâu, máy ảnh ,ti vi; đứng thứ 2 thế giới về sản lượng thép, ô tô, xi măng,
sản phẩm hoá chất, hàng dệt
Một số nghành công nghiệp then chốt đã tăng lên với nhịp độ rất nhanh. Mặc dù Nhật
Bản hầu như không có mỏ dầu nhưng đã đứng đầu các nước tư bản về nhập và chế
biến dầu thô. Riêng năm 1971 đã nhập tới 186 triệu tấn dầu thô. Đối với nghành công
nghiệp sản xuất thép thì năm 1950 sản lượng đạt 4.8 triệu tấn, đến năm 1973 đạt 117
triệu tấn. Năm 1960 công nghiệp ô tô Nhật Bản đứng hàng thứ 6 thế giới tư bản dến
năm 1967 đã vượt lên hàng thứ 2 sau mỹ. Năm 1968 Nhật Bản sản xuất được 2 triệu ô
tô. Trong sự phát triển của ngành công nghiệp đặc biệt, điển hình là ngành đóng tàu
biển tăng lên với tốc độ nhanh chóng. Khối lượng đóng tầu thép tăng nhanh chóng từ
410.000 tấn năm 1954 lên 730.000 tấn năm 1955;1.740.000 tấn năm 1956 và
2.290.000 vào năm 1957. Ngành công nghiệp đóng tàu đến những năm 70 chiếm trên
50% tổng số tầu biển trên thế giới và có 6 trong 10 nhà máy đóng tầu lớn nhất thế giới
tư bản. Các nghành công nghiệp nặng đặc biệt là công nghiệp chế tạo, hoá
chất và luyện kim tăng nhanh.
15.40%
7.70%
4.00%
1964, Nhật Bản trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, câu lạc
bộ của những quốc gia tiên tiến. Đến năm 1970, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản
đạt mức 72,4% là nhờ các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất.
Nhật Bản đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới tư bản.
3.2.2.4 Hạn chế của các mô hình
Cơ cấu vùng kinh tế thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào các trung tâm kinh tế lớn
như Tôkyô, Ôsaca, các vùng khác được đầu tư ít hơn hẳn. Giữa công nghiệp và nông
nghiệp cũng mất cân đối, nhìn chung cơ cấu cấu kinh tế Nhật là: công nghiệp 38%,
nông nghiệp 2% và dịch vụ 60%.
Nhật Bản cũng đang phải đối phó với vấn đề lực lượng lao động “già hóa”, người
già ngày càng đông. Nguy cơ thiếu nguồn lao động đang là một vấn đề buộc Nhật Bản
phải tìm ra biện pháp khắc phục.
3.2.3 Giai đoạn từ năm 1973 đến nay
3.2.3.1 Giai đoạn 1974 -1985
Thời kì này có đặc trưng là tốc độ tăng trưởng GDP không ổn định và nhìn chung
thấp bằng nửa thời kì ở giai đoạn trước.
a. Tnh hnh kinh tế
Hai cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 và 1980-1982 làm cho kỷ nguyên
tăng nhanh chấm dứt, nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Kinh tế tăng trưởng âm trong năm 1974. Trong giai đoạn 1974-1982, tốc độ
tăng sản phẩm quốc dân hằng năm chỉ 3,7%.
Năm 1974, Nhật Bản lâm vào siêu lạm phát, giá cả tăng 30 lần so với năm 1973
Sản xuất bị định đốn, tổng sản phẩm quốc dân năm 1974 ở chỉ số âm (-1,3%).
Từ 1973-1975, 1/3 thiết bị nhà máy phải ngừng hoạt động do thiếu năng
lượng…
Năm 1987, tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người của Nhật Bản đã vượt
Mỹ, đến năm 1988 đạt 27.000 USD (Mỹ 22.000 USD). Năm 1968, con số này
bằng 30% Mỹ, sau 20 năm bằng 120% Mỹ.
Sản xuất công nghiệp: Nhật đứng đầu các ngành công nghiệp đóng tàu, luyện
thép, ô tô, ti vi màu, chất bán dẫn, điện tử tiêu dùng, người máy….
Tài chính: Nhật Bản đứng “Số 1 thế giới”. Nhật có dữ trữ vàng và ngoại tệ lớn
nhất thế giới, gấp 3 lần Mỹ, gấp 1.5 lần Tây Đức. Năm 1986, trong số có 500
ngân hàng lớn nhất thế giới, Nhật có 14 ngân hàng, xếp thứ tự 1-23-4-5 và 9-10.
Tài sản nước ngoài ở Nhật Bản chiếm 36% toàn thế giới (Mỹ 14%).
Khoa học kĩ thuật: từ năm 1978-1988 chi cho nghiên cứu khoa học tăng 2,7 lần
chiếm 9-10% ngân sách. Năm 1984, có 17.800 viện nghiên cứu với 32 vạn cán
bộ nghiên cứu (sau Liên Xô và Mỹ). Năm 1987, đứng đầu thế giới danh sách
người được nhận bằng sáng chế nước ngoài ở Mỹ (17.288 bằng) gấp 2 Tây Đức
(8.039) gấp 6 Pháp (2.990).
d. Hạn chế:
Mất cân đối trong nền kinh tế (công nghiệp- nông nghiệp), tập trung ở 3 trung
tâm Tokyo, Oossuka, Nagôia với 60 triệu dân và 1,25% diện tích.
Khó khăn về năng lượng, nguyên liệu, lương thực.
Già hóa dân số: Năm 1988 có 40,7 triệu người/ 123 triệu dân từ 45 tuổi trở lên.
Chênh lệch giàu nghèo, ùn tắc giao thông.
Sự cạnh tranh gay gắt của Mỹ, Tây Âu, NICs.
3.2.3.3 Giai đoạn 1991-2000
Sự đỗ vỡ của nền kinh tế bong bóng,sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên
1990, kinh tế Nhật Bản chuyển sang thời kì trì trệ kéo dài. Tốc độ tăng trưởng GDP
thực tế bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0.5% - thấp hơn rất nhiều
so với thời kì trước. Giai đoạn này được gọi là “thập kỷ mất mát”.
a. Tnh hnh kinh tế:
Thiểu phát và giải pháp trong thời kì trì trệ kinh tế kéo dài. Sau thời kì kinh tế
bong bóng 1986-1990, từ năm 1991 kinh tế Nhật Bản phát triển ì ạch. Trong
những năm 1992-1995, tốc độ tăng trưởng hằng năm chỉ đạt 1,4%, năm 1996 là
Hạn chế:
Tuy nhiên các hoạt động của các ngân hàng Nhật Bản với sự trợ giúp của chính
phủ đã cung cấp tài chính một cách thụ động cho việc kinh doanh các công ty
đó.
Cơ chế quản lý này trong thập niên 90, dưới áp lực của làn sóng tự do cạnh
tranh toàn cầu hóa nền kinh tế đã gây nên những tổn thất to lớn cho hệ thống
ngân hàng Nhật Bản bởi sự trì trệ, kém hiệu lực hoạt động kinh doanh của
chính nó. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
2008 2009 2010 2011
GDP 518230.9 489588.5 511359.0 507613.1
Xuất khẩu ròng 17610.5 7428.0 16978.4 13034.8
3.2.3.4 Giai đoạn 2001 đến nay
Thoát khỏi suy thoái, cải tiến và phát triển kinh tế.
a. Tnh hnh kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP những năm 2008 đến năm 2011 (triệu YEN):
Bảng 1: GDP và xuất khẩu ròng của Nhật Bản giai đoạn 2008 đến 2011
(Theo Trading Economics) 2008
2009
2010
với việc tăng quý thứ 4 hàng năm là 5,5%, vượt qua tốc độ tăng trưởng của Mỹ
và Liên minh châu Âu trong cùng thời kì.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm 2003, 2004 lần lượt là 2,5 % và 4,4%.
Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự sụp đổ nhu cầu trong
nước đã chứng kiến nền kinh tế co lại 1,2%. Trong tăng trưởng 3,9%, một tốc
độ tăng trưởng cao nhất trong khoảng 20 năm. Nhưng nền kinh tế của Nhật Bản
đã bị gián đoạn, khi vào tháng 3-2011 do thiên tai “kép”, đó là trận động đất và
ảnh hưởng của sóng thần.
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế các quý giai đoạn 2008-2012:
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế các quý giai đoạn 2008 – 2012
(Theo Trading Economics)
b. Mô hnh kinh tế:
Thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, bên cạnh thực hiện chính sách thắt chặt
tài chính.
Tiếp tục cải cách khu vực dịch vụ tài chính.
Mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là thị trường Mỹ và Trung
Quốc
c. Thành tựu:
Nền kinh tế bắt đầu hồi phục bền vững.
d. Hạn chế:
Chưa thực hiện một cách linh hoạt và thông suốt, vẫn còn bị gián đoạn.
có thể rút ra kinh nghiệm cho các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, đó là cần
thiết kế thể chế nào để tăng cường năng lực xã hội, tránh tham nhũng. Đó là năng lực
với những tố chất cần thiết của các thành phần lãnh đạo. Thể chế phải phát huy được
vai trò của Nhà Nước, trí tuệ của nhân dân, vạch ra phương hướng phát triển đất nước,
xây dựng bộ máy hành chính hiệu quả gồm đội ngũ quan chức có năng lực và phẩm
chất. Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
- Tăng trưởng kinh tế là biểu hiện cao nhất của nền kinh tế năng động, là kết quả tổng
hợp của các nhân tố trong quá trình sản xuất xã hội. Do vậy, muốn đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao thì phải có đủ các yếu tố và biết kết hợp chung một cách hài
hoà.Thế mạnh là lao động nhưng nếu không có chính sách kinh tế vĩ mô cũng như vi
mô đúng để khai thác thế mạnh thì không đạt được kết quả mong muốn. Một cơ cấu
kinh tế hài hoà cân đối sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo được
sự ổn định xã hội có lợi cho tăng trưởng.
- Cần phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ linh hoạt. Thực hiện chính
sách nới lỏng tiền tệ, bên cạnh thực hiện chính sách thắt chặt tài chính. Quốc hữu hóa
một số ngân hàng.
- Chính phủ nên có các thông điệp rõ ràng đến thị trường về các mục tiêu ngắn hạn và
tuyên bố tiếp tục hỗ trợ thị trường cho đến khi nền kinh tế phục hồi. Chuyển dịch cơ
cấu ngành như: chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp từ các ngành cần nhiều nguyên
liệu sang các ngành tốn ít nguyên liệu, đồng thời chyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỉ trọng của khu vực dịch vụ giảm tỉ trọng khu vực nông lâm, ngư nghiệp. Đồng
thời khuyến khích tăng thị trường trong nước, nước ngoài và xuất khẩu. Ban hành một
số chính sách khuyến khích nội địa hoá sản phẩm. Từng bước tạo ra mặt bằng pháp
luật và áp dụng chính sách thuế, các loại giá cả dịch vụ (thuế đất, điện, nước, bưu
chính) đối với các nhà đầu tư vào trong nước. Tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghệ