kinh nghiệm điều chỉnh tỷ giá hối đoái của nhật bản và bài học cho việt nam - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------

TIỂU LUẬN
Môn học: Thanh toán quốc tế

KINH NGHIỆM ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA
NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM


MỤC LỤC


3

LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển và vai trò của tỷ giá hối đoái gắn liền với quá trình lớn mạnh
không ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Cũng giống như vai
trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới
những biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói
riêng. Nó có thể thay đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Tỷ giá hối đoái trực tiếp tác động đến sự thăng bằng trong cán cân thanh toán
quốc tế của một quốc gia. Người ta thường nhận thấy rằng cán cân thương mại của một
nước có thể xấu đi hay tốt lên khi có những biến động của tỷ giá hối đoái, nếu tỷ giá
hối đoái tăng, đồng nội tệ mất giá thì sẽ khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
như vậy cán cân thanh toán quốc tế của một nước sẽ được cải thiện và ngược lại nếu tỷ
giá hối đoái giảm, đồng nội tệ lên giá thì sẽ hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập
khẩu làm cho cán cân thanh toán trở nên xấu đi.
Trong điều kiện giới hạn về thời gian cũng như nhận thức, bài tiểu luận của
nhóm em muốn phác họa bức tranh về kinh nghiệm điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Nhật

BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1.

Tỷ giá hối đoái

1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1.

Khái niệm cơ bản (học thuật)

Tỷ giá hối đoái được định nghĩa là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước
với nhau. Sự phát triển của tiền tệ luôn đi cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, thể
hiện mối tương quan giữa các đồng tiền của các quốc gia trong một giai đoạn nhất
định. Do đó, với mỗi thời kỳ khác nhau, cơ sở so sánh tiền tệ giữa các quốc gia lại có
sự thay đổi, đi cùng với đó là sự phát triển của định nghĩa tỷ giá hối đoái.
1.1.1.2.

Khái niệm có tính thị trường

Trên thị trường hối đoái, việc thanh toán các hợp đồng ngoại thương được căn
cứ vào các điều khoản thanh toán nhất định. Các điều khoản này sẽ quy định cụ thể các
phương tiện thanh toán được sử dụng, trong đó có một số phương tiện thanh toán quốc
tế phổ biến như như Séc, T/T. Các phương tiện này được các bên thống nhất mua và
bán bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Khi đó, tỷ giá hối
đoái là giá cả đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số tiền tệ nước kia.
Theo dõi tỷ giá trong điều kiện thị trường ngoại hối tự do, ta có thể thấy sự biến
động của tỷ giá chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quy luật cung cầu ngoại tệ. Nếu khả năng
cung ứng ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên; ngược lại, tỷ giá
hối đoái có xu hướng giảm.
1.1.2. Phân loại tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối phiếu ngân hàng trả sau là tỷ giá quy định ngân hàng bán hối phiếu
ngoại tệ trả chậm cho khách hàng mà chính họ là người thụ hưởng hối phiếu. Khách
hàng sẽ ký hậu chuyển nhượng hối phiếu cho người khác mà khách hàng là người có
nghĩa vụ trả tiền cho anh ta. Khi hối phiếu đến hạn thanh toán, người được chuyển
nhượng sẽ xuất trình hối phiếu đến ngân hàng chỉ định trên hối phiếu để nhận tiền. Tỷ
giá hối phiếu ngân hàng trả sau bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh tính từ
lúc ngân hàng bán hối phiếu đến lúc hối phiếu đó được trả tiền. Thời hạn này thường là
bằng thời hạn trả tiền ghi trên hối phiếu cộng với thời gian chuyển tờ hối phiếu đó từ
ngân hàng bán hối phiếu đến ngân hàng trả tiền ghi trên hối phiếu.
1.1.2.2.

Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng


7

Tỷ giá mua (BID RATE) và tỷ giá bán (ASK RATE hoặc OFFER RATE): BID
RATE là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng. ASK RATE là tỷ giá bán ngoại tệ của ngân
hàng. Khi niêm yết tỷ giá, tỷ giá mua đứng trước và tỷ giá bán đứng sau. Chênh lệch
giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán là lợi nhuận trước thuế của ngân hàng.
Tỷ giá giao ngay (SPOT RATE) và tỷ giá kỳ hạn (FORWARD RATE): Tỷ giá
giao ngay là tỷ giá mà ngân hàng phải có nghĩa vụ giao ngoại tệ ngay trong một vài
ngày nhất định kể từ ngày ký hợp đồng. Tùy theo tập quán của thị trường ngoại tệ, thời
hạn này có thể là T + 3 hoặc T + 2 hoặc T + 1. T là ngày ký hợp đồng. Các số 3, 2, 1 là
số ngày thanh toán và giao nhận ngoại tệ. Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá mà ngân hàng có
nghĩa vụ giao ngoại tệ sau ngày ký hợp đồng một thời hạn quy định,ví dụ 30 ngày, 60
ngày … Thời hạn để giao ngoại tệ và thanh toán là bằng thời hạn của hợp đồng mua
bán ngoại tệ kỳ hạn cộng với T + 3 hoặc T + 2 hoặc T + 1.
Tỷ giá mở cửa (OPENING RATE) và tỷ giá đóng cửa (CLOSING RATE): Tỷ
giá mở cửa là tỷ giá của hợp đồng mua bán ngoại tệ đầu tiên trong một ngày. Tỷ giá

Tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế sẽ tác động trực tiếp đến cung và cầu
ngoại hối, do đó nó tác động trực tiếp và rất nhạy bén đến tỷ giá hối đoái. Về nguyên
tắc, nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn
hơn cầu ngoại hối, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm. Ngược lại nếu cán
cân thanh toán quốc tế thiếu hụt có thể dẫn đến cầu ngoại hối lớn hơn cung ngoại hối,
từ đó tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng.
1.1.3.3.

Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước

Nếu các điều kiện và môi trường kinh doanh của các nước là tương đương, nước
nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh
lệch do tiền lãi tạo ra, do dó sẽ làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi,
tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.
1.1.3.4.

Yếu tố tâm lý

Yếu tố tâm lý là một yếu tố chủ yếu dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện, tình
hình chính trị, kinh tế, xã hội của các nước và thế giới có liên quan. Chẳng hạn, mức
thu nhập thực tế (mức độ tăng GNP thực tế) tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu
cũng tăng lên. Tăng trưởng hay suy thoái kinh tế cũng có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái.


9

Khi nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhu cầu về ngoại tệ tăng và lúc đó giá
ngoại tệ có xu hướng tăng. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khủng hoảng,
nhu cầu về ngoại tệ giảm làm cho giá ngoại tệ có xu hướng giảm.


10

hạn sẽ nhắm vào các nước có lãi suất cao, do đó chính sách chiết khấu có ý nghĩa quan
trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của các nước.
1.2.2. Chính sách hối đoái
Chính sách hối đoái, hay còn gọi là chính sách hoạt động công khai trên thị
trường: có nghĩa là ngân hàng trung ương hay các cơ quan ngoại hối của nhà nước
dùng nghiệp vụ trực tiếp mua bán ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ương tung ngoại hối ra để bán
nhằm kéo giá hối đoái giảm xuống. Muốn thực hiện được biện pháp này, ngân hàng
trung ương phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn. Nhưng nếu tình hình thâm hụt cán cân
thanh toán quốc tế của nước đó kéo dài thì khó có nguồn dự trữ ngoại hối đủ lớn để
thực hiện biện pháp này.
1.2.3.

Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ hay

là nâng cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ.
Tác dụng của phá giá tiền tệ có thể là: Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, hạn
chế nhập khẩu hàng hóa. Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu
vốn ra bên ngoài. Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước
ngoài. Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền phá giá trong
tay. Vậy, có thể thấy kết quả của phá giá tiền tệ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng
của tỷ giá hối đoái. Phá giá tiền tệ được áp dụng trong điều kiện duy trì chế độ tỷ giá
hối đoái cố định. Phá giá tiền tệ là biện pháp mạnh, chỉ được sử dụng trong những
trường hợp hết sức cần thiết.

1.2.4. Nâng giá tiền tệ


1.2.6. Diễn biến điều chỉnh chính sách chiết khấu của Nhật Bản 2010 – 2015
Để có cái nhìn rõ nét hơn về diễn biến chính sách chiết khấu của Nhật Bản từ
năm 2010 đến nay, chúng ta không thể không kể đến một yếu tố có quan hệ trực tiếp
tới việc điều chỉnh, thiết lập và thay đổi chính sách chiết khấu của Ngân hàng Trung
ương Nhật Bản, đó là sự thay đổi trong cơ cấu bộ máy chính trị của Nhật Bản.
Từ năm 2010 đến năm 2015, trong vòng 5 năm, Nhật Bản đã trải qua bốn đời
thủ tướng, bao gồm thủ tướng Yikio Hatoyama (9/2009 – 6/2010), thủ tướng Kan
Naoto (6/2010 -9/2011), thủ tướng Noda Yoshihiko (9/2011 – 12/2012), thủ tướng
Shinzo Abe (từ 12/2012 đến nay). Như vậy, trong khi ba thủ tướng của Đảng Dân chủ,
mỗi người chỉ duy trì nhiệm kỳ được trong vòng một năm thì thủ tướng Đảng Dân chủ
Tự do Shinzo Abe là người cầm quyền với thời gian lâu nhất cho tới bây giờ. Ông là
người nối tiếng với việc thực hiện các chính sách tái cấu trúc nền kinh tế, kích thích
tiêu dùng nội địa để chống giảm phát, đưa nền kinh tế Nhật Bản dần thoát khỏi suy
thoái, trong đó nổi tiếng với chinh sách Abenomics được thực hiện từ năm 2012 với
trọng tâm chính gồm: thúc đẩy chi tiêu công, nới lỏng tiền tệ và tăng trưởng kinh tế sâu
rộng.
Quy mô của mục tiêu chính sách tiền tệ mới, tiền cơ sở, sẽ được tăng gấp đôi
từ 138 nghìn tỷ yen (cuối năm 2012) lên 270 nghìn tỷ yen (cuối năm 2014), không phụ
thuộc vào xu hướng của lãi suất. Với chính sách mới này, Ngân hàng trung ương Nhật
Bản đang theo đuổi mục tiêu đẩy lãi suất trong dài hạn xuống thấp, gây ảnh hưởng tích
cực lên sự tiến triển của tài sản thực và gây ảnh hưởng tiêu cực tới tỷ giá hối đoái của
đồng yen. Việc đồng yen mất giá sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của các đối
tác thương mại của Nhật Bản, và cùng với đồng euro vốn đã yếu có nguy cơ châm ngòi
cho một cuộc chạy đua hạ giá đồng tiền quốc tế. Kinh doanh chênh lệch lãi suất với


13

đồng yen, hay việc cấp vốn cho các khoản đầu tư tại nước ngoài sử dụng đồng yen với

cao. Do đó, không nên coi thường chính sách chiết khấu, nó vẫn có một ý nghĩa quan
trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô của ngân hàng Trung ương.
1.2.7. Tác động của chính sách chiết khấu đến tỷ giá hối đoái của Nhật Bản
Chính sách chiết khấu giúp Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò là người
cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại khi các ngân hàng thương mại
gặp khó khăn trong thanh toán, và có thế kiểm soát được hoạt động tín dụng của các
ngân hàng thương mại đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối
với nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể. Tuy vậy, hiệu
quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các ngân hàng thương
mại, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệch thông tin về cung
cầu vốn trên thị trường.
Ngoài ra, chính sách chiết khấu có mục đích thay đổi nguồn vốn ngắn hạn chảy
vào thị trường nên làm giảm bớt sự căng thẳng về cung cầu ngoại tệ hay sự biến động
tỷ giá hối đoái trong nhất thời. Vì vậy, Nhật Bản đã không áp dụng chính sách này vào
việc điều chỉnh những biến động về tỷ giá hối đoái.
Mối quan hệ chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi
như: nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát “chảy máu” ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn
chế nguồn vốn đầu tư nước ngoài…Vì vậy, trong quản lý vĩ mô chính sách lãi suất và


15

tỷ giá phải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế
trong từng thời kỳ nhất định. Điều hành và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá là
một kỹ thuật vi diệu, vì rằng hai biến số này bị tác động bởi nhiều yếu tố như tình hình
xuất, nhập khẩu, lạm phát, đầu tư nước ngoài, chính sách, kinh tế, tài chính của chính
phủ, các yếu tố tâm lý,…
1.3.

Chính sách hối đoái của Nhật Bản

USD để làm giảm giá đồng yen nhằm ngăn chặn giới đầu cơ cũng như sự biến động bất
thường của tỷ giá. Bên canh đó, nhóm các nước G7 cũng giúp đỡ Nhật Bản khắc phúc
tình trạng bằng cách bán các đồng yen ra thị trường mở cửa giao dịch. Nhờ vậy mà
đồng yen đã giảm giá xuống còn 81,26 yen/USD.
Sau đó, dự trữ ngoại hối của Nhật Bản tăng liên tục và đã tăng 13,07 tỷ yen, đạt
mức kỉ lục 1218 nghìn tỷ yen (tương đương 14,67 nghìn tỷ USD) trong tháng
8/2011. Sự tăng giá của trái phiếu kho bạc Mỹ và các trái phiếu chính phủ khác, giá
vàng và các khoản đầu tư khác, khoản tiền kỷ lục mà chính phủ đã chi để can thiệp vào
thị trường tiền tệ nhằm kiềm chế sức tăng mạnh của đồng yen đã khiến cho dự trữ
ngoại hối của Nhật Bản đạt mức kỉ lục.
Trong suốt 2 tháng giảm dự trữ ngoại hối, tháng 9 và tháng 10 thì sang tháng 11
lại chứng kiến mức tăng kỷ lục của dự trữ ngoại hối Nhật Bản. Sự gia tăng mạnh mẽ
trong dự trữ ngoại hối của Nhật trong tháng 11 xuất phát từ việc Tokyo can thiệp mạnh


17

vào thị trường ngoại hối bằng cách tung đồng nội tệ để mua vào ngoại tệ. Trong thời
gian từ ngày 28/10-28/11, Nhật Bản đã bán ra khối lượng đồng yen kỷ lục lên tới 9.092
tỷ yen, tương đương 117 tỷ USD. Đợt can thiệp này nhằm mục đích hạ nhiệt cơn sốt
đồng yen đã kéo dài, vực dậy nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi thiên tai.
Năm 2012 là năm chứng kiến dự trữ ngoại hối của Nhật Bản luôn có xu hướng
giảm do vàng và euro đồng loạt giảm giá và chính phủ cũng không can thiệp vào thị
trường ngoại hối.
Sang năm 2013, năm đầu tiên thực hiện chính sách Abenomics của tân thủ tướng
Shinzo Abe. Theo đó, chính sách này sẽ gồm 3 mũi tên.
Thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản sẽ tập trung vốn cho các công trình công cộng
khổng lồ bất chấp nguồn ngân sách hạn chế. Giữa tháng 5 vừa qua, Nhật Bản đã thông
qua khoản ngân sách 92,610 tỷ yen cho tài khóa 2013. Như vậy, lần đầu trong bốn năm
qua, ngân sách cho các dự án công ích tăng lên mức 5,290 tỷ yen, tăng 15,6% so với

Trong năm 2014, BOJ tuyên bố giữ nguyên kế hoạch nới lỏng tiền tệ kỷ lục, tiếp tục
bơm thêm 80.000 tỷ yên (683 tỷ USD) vào nền kinh tế mỗi năm và cam kết bổ sung
khoảng 3.000 tỷ yên cho ngân sách trong năm tài khóa 2014 (kết thúc vào tháng
3/2015) để thực hiện các biện pháp thúc đẩy chi tiêu của tư nhân và tạo động lực cho
kinh tế địa phương.
Biểu đồ 2.3: Lượng dự trữ ngoại hối của Nhật Bản giai đoạn 11/2013 – 07/2015

Nguồn: ieconomics.com


19

Dự trữ ngoại hối của Nhật Bản có xu hướng giảm dần đến tháng 8/2015 (đạt mốc
1244,150 tỷ USD). Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) đã quyết định giữ nguyên chính sách
nới lỏng tiền tệ với nhận định kinh tế đang phục hồi ở mức vừa phải, đồng thời nâng
triển vọng về tiêu dùng cá nhân và đầu tư nhà ở. Ban chính sách của BOJ đã nhất trí
duy trì chính sách tăng lượng cung tiền cơ bản khoảng 80.000 tỷ yen/năm (tương
đương 662 tỷ USD) thông qua chương trình mua tài sản. Quyết định này được đưa ra
sau khi BOJ lùi thời hạn đạt mục tiêu lạm phát 2% đến khoảng nửa đầu tài khóa 2016
tại cuộc họp ngày 30/4 vừa qua, trong bối cảnh giá dầu thô giảm và nhu cầu tiêu dùng
yếu.
Về tiêu dùng cá nhân, BOJ nhận định đã có sự phục hồi nhanh nhờ tình hình việc
làm và thu nhập cải thiện vững chắc. Ngân hàng này cũng nâng triển vọng về đầu tư
nhà ở, cho rằng lĩnh vực "có một số dấu hiệu đi lên", sau khi thuế tiêu dùng tăng từ 5%
lên 8% năm ngoái khiến chi tiêu hộ gia đình sụt giảm. Nhờ đó, Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) của Nhật Bản trong quý đầu năm 2015 đạt mức tăng trưởng 2,4% so với
cùng kỳ năm trước, đánh dấu quý thứ hai liên tiếp GDP tăng trưởng.
Chính nhờ những kết quả tích cực trên mà thống đốc BOJ Haruhiko Kuroda hoàn
toàn có thể cảm thấy tình hình lạc quan về khả năng đạt mục tiêu lạm phát và nhận
định rằng chính sách nới lỏng tiền tệ quy mô lớn của BOJ đã mang lại hiệu quả như

sẽ chịu tác động xấu nếu đồng yên tiếp tục lên giá thiếu kiểm soát. Tháng 9/2011, Bộ
Tài chính Nhật cho biết chính phủ Nhật sẽ dành ra khoảng 46 nghìn tỷ yên riêng cho
việc ngăn đồng yên tăng giá. Ngày 3110/2011, Bộ Tài chính Nhật đã chi ra tới 10 nghìn
tỷ yên tương đương 128 tỷ USD, cao hơn gấp đôi con số kỷ lục vào tháng 8/2011 để
ngăn đồng yên tăng giá.
Tháng 12/2012 Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã bổ sung 10.000 tỷ
yen cho chương trình mua lại tài sản để nâng tổng trị giá của chương trình này lên
101.000 tỷ yen. Sau khi lên nắm quyền vào cuối tháng 12/2012, Thủ tướng Abe đã
ngay lập tức cụ thể hóa Abenomics (chính sách kinh tế của Abe) với trọng tâm là tăng
cường chi tiêu công và nới lỏng mạnh hơn chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh
tế và đạt tỷ lệ lạm phát 2%/năm. Ngày 15/1/2013, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua
dự thảo ngân sách bổ sung lần thứ hai trong tài khóa 2012 (kết thúc vào cuối tháng
3/2013) với tổng trị giá lên tới 13.100 tỷ yen để tài trợ cho gói biện pháp kích thích
tăng trưởng. Trong một động thái nhằm bơm thêm tiền vào thị trường tài chính, BOJ đã
quyết định thông qua các biện pháp nới lỏng định lượng “không hạn chế” tương tự như


21

các biện pháp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) như mua vào trái phiếu chính phủ
hay các tài sản tài chính tương đối an toàn khác từ các tổ chức tài chính mà không đưa
ra thời hạn cụ thể. BOJ cũng quyết định từ tháng 1/2014, hàng tháng sẽ bắt đầu mua
vào khoảng 13.000 tỷ yen tài sản tài chính, trong đó có 2.000 tỷ yên trái phiếu chính
phủ Nhật Bản và biện pháp này sẽ được duy trì hàng tháng một cách “vô hạn định”.
Bên cạnh đó, BOJ cũng quyết định giữ nguyên lãi suất ngắn hạn chủ chốt ở mức
cực thấp, từ 0 đến 0,1%. Trong cuộc họp được triệu tập vào ngày 8/4/2015, Ngân hàng
Trung ương Nhật Bản (BOJ) quyết định vẫn giữ nguyên chính sách tiền tệ hiện tại mà
chưa có thêm động thái nới lỏng nào, mặc dù lạm phát vẫn đang giữ xu hướng giảm và
hiện chưa đạt được mức mục tiêu 2% mà BoJ đã đề ra. Theo đó, BoJ vẫn tiếp tục giữ
nguyên chương trình mua trái phiếu chính phủ trị giá 80 nghìn tỷ Yên (tương đương

do nếu đồng tiền này giảm giá quá nhiều sẽ có tác động tiêu cực nhiều hơn là tác động
tích cực cho nền kinh tế Nhật, vì các mặt hàng nhập khẩu như năng lượng và lương
thực sẽ tăng một cách chóng mặt. Điều cần thiết là phải tìm ra được một thế quân bình
giữa các đơn vị tiền tệ quốc tế với đồng yên để xuất khẩu của Nhật Bản cải thiện song
vẫn tránh phải trả chi phí quá đắt khi cần nhập khẩu nguyên liệu và nhiên liệu.Vì vậy,
về dài hạn, sự ổn định của tỷ giá USD/JPY trong thời gian tới mới là dấu hiệu cho sự
phục hồi tăng trưởng của nước này.
1.4.3.2.

Tác động lên cán cân thương mại
Bảng 2.1: Tình hình cán cân thương mại Nhật Bản 2010 - 2015


23


m
2010
2011
2012
2013
2014

Tình hình cán cân thương mại Nhật Bản 2010 – 2015
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cán cân
Kim ngạch
Kim ngạch
Tỷ lệ

4,80%
85.909
5,70%
-12.816
Nguồn: Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính Nhật
Bản
Có thể thấy năm 2010, do tình trạng đồng Yên mạnh từ sau cuộc khủng hoảng

tài chính ở Mỹ và châu Âu bắt đầu năm 2008 mà Nhật Bản có thặng dư thương mại lên
đến 6.634 nghìn tỷ Yên. Tuy nhiên ngay năm sau đó, cán cân thương mại của Nhật Bản
lại thâm hụt đến 2.564 nghìn tỷ Yên. Nguyên nhân chính là thảm họa kép động đất và
sóng thần xảy ra vào ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại miền đông Nhật Bản đã gây ra tổn
hại lớn đến kim ngạch xuất khẩu của Nhật, đồng thời dẫn đến việc Nhật Bản ra lệnh
ngừng hoạt động tất cả 50 nhà máy điện hạt nhân trên toàn quốc và bắt buộc phải gia
tăng sản lượng nhập khẩu khí ga tự nhiên, nguồn nhiên liệu.
Sau khi chính phủ của Thủ tướng Abe lên nắm quyền vào cuối năm 2012 và
chính sách nới lỏng tiền tệ được Ngân hàng Trung ương Nhật chính thức thông qua
tháng 1 năm 2013, đồng yên giảm giá đã giúp các mặt hàng xuất khẩu của Nhật tăng
tính cạnh tranh, từ đó dẫn đến kim ngạch xuất khẩu đạt mức tăng trưởng 9,5%. Các
hãng sản xuất ô tô và hàng điện tử là những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất do
hàng xuất khẩu có giá rẻ hơn tại các thị trường nước ngoài, đẩy lợi nhuận ở nước ngoài
tăng cao. Mặt khác, việc đồng yên giảm giá cũng đã khiến cho chi phí nhập khẩu năng
lượng của Nhật Bản tăng vọt tới 14,9% so với năm trước đó.
Vậy là cho dù một đồng yên yếu đã hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu có chút khởi
sắc song tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Nhật vẫn càng thêm trầm trọng do
hàng hóa nhập vào thị trường Nhật trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều.


24


chức tín dụng (TCTD) bị chấm dứt, các sàn vàng bị đóng cửa. Nguyên nhân chủ yếu là
chênh lệch lãi suất giữa VND với USD và mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ.
Trong năm này, nhà nước có những chính sách tác động tới thuế và hạn ngạch. Cụ
thể, Nhà nước cấp thêm quota nhập khẩu vàng cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng
bạc để giảm bớt căng thẳng cung cầu và chênh lệch giữa giá vàng trong nước và trên
thế giới, một trong những nhân tố gây bất ổn cho thị trường ngoại tệ tự do. Đồng thời,
Nhà nước cũng chỉ đạo các TCTD hạn chế cho vay nhập khẩu mặt hàng không thiết
yếu.
2.1.1.3.

Tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng

Ngày 11/2/2010, NHNN điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức
17.941 VND/USD lên mức 18.544 VND/USD nhằm khuyến khích các tập đoàn, tổng
công ty lớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng, cải thiện trạng thái ngoại
tệ vốn đang căng thẳng. Trước sức ép của thị trường, tháng 8/2010, NHNN buộc phải
tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 2,1%, lên mức 18.932 VND/USD. Cuối
tháng 11, tỷ giá tăng vọt lên mức 21.380 - 21.450 đồng/USD, trên thị trường tự do tỷ
giá vượt qua mức 21.500 đồng/USD. Đây là mức chênh lệch cao nhất trong lịch sử tài
chính Việt Nam từ năm 1990.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status