TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA KINH TẾ
&
CHỦ ĐỀ
Cơ chế quản lý và thực trạng điều chỉnh tỷ giá hối đoái của
Việt Nam hiện nay
Nhóm thực hiện : Nhóm 7
Phạm Thị Hà 1254014186
Trần Thị Vân 1054011233
Nguyễn Thị Diệu Hồng 1154019022
Seua laisaisana 135D3101012007
Vanhlavong Sitthideth 135D3402012005
1
Nghệ An, năm 2014
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia đã được
Ngân hàng Trung ương của các nước điều hành theo điều kiện của mỗi nước,
phù hợp với tình hình cụ thể trong từng thời kỳ. Nền kinh tế nước ta đang hoà
nhập với nền kinh tế các nước, nên ngoại tệ và thị trường ngoại tệ tác động
khá mạnh vào khối lượng tiền tệ lưu thông. Thị trường ngoại tệ trong một
nước luôn chứa đựng những nội dung và tính chất của thị trường quốc tế, vì
một biến đổi nhỏ của tỷ giá hối đoái trên thị trường quốc tế đều ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái trong nước và ngược lại. Sự vận động của tỷ giá
thường vượt ra ngoài dự đoán và khả năng chế ngự của Nhà nước. Chỉ
trong một thời gian ngắn, chúng ta đã chứng kiến hai sự kiện làm rung chuyển
thế giới, đó là sự khủng hoảng tài chính – tiền tệ tại Mêhicô (năm 1994) và
Thái Lan (năm 1997). Đặc biệt sự khủng hoảng của Thái Lan đã gây tác hại
lớn đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc xử lý tỷ giá đã vượt
quá khả năng của các chính phủ.
Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
với nền kinh tế thế giới, tỷ giá hối đoái cũng đang là một vấn đề được nhiều
và dịch vụ của nước ngoài, nếu như chỉ căn cứ vào tỉ giá hối đoái danh nghĩa
mà không tính đến các biến động giá cả đó.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỉ giá hối đoái
3.1. Mức chênh lệch lạm phát giữa các nước
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các
nhân tố khác không đổi sẽ dẫn đến giá cả hàng hỏa ở hai nước đó sẽ có những
biến động khác nhau làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá
vỡ, tức là làm thay đổi tỉ giá hối đoái.
3.2. Mức độ tăng hay giảm thu nhập quốc dân giữa các nước
3
Thu nhập quốc dân của một nước tăng lên hoặc giảm xuống so với nước
khác, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi sẽ làm tăng hay giảm
nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng lên hoặc giảm xuống.
3.3. Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Khi mức lãi suất ngắn hạn củ một nước tăng lên một cách tương đối so
với các nước khác, trong những điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, thì
vốn ngắn hạn từ nước ngoài sẽ chảy vào nhằm thu hút phần chênh lệch do tiền
lãi tạo ra đó. Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi,
dẫn đến sự thay đổi tỉ giá.
3.4. Những kỳ vọng về tỉ giá hối đoái
Kỳ vọng của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọng
lên giá hay xuống giá của một đồng tiền nào đó có thể là một nhân tố rất quan
trọng quyết định tỉ giá. Những kỳ vọng về giá của các đồng tiền có liên quan
rất chặt chẽ đến những kỳ vọng về biến động tỉ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhập
giữa các quốc gia.
3.5. Sự can thiệp của chính phủ
3.5.1 Can thiệp vào thương mại quốc tế:
Sự can thiệp của Chính phủ nhằm khuyến khích xuất khẩu hoặc hạn chế
nhập khẩu. Có thể dùng các biện pháp khuyến khích xuất khẩu như: Trợ cấp
sản xuất xuất khẩu, áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu như áp dụng
các đồng tiền thì các đồng tiền đó sẽ có xu hướng tăng hoặc giảm giá một cách
tự động và từ đó làm đảo ngược những biến động nói trên.
Đối với những nước có nền kinh tế đã có thị trường ngoại biến tương đối
hoàn chỉnh thì việc chính phủ thả nổi tự do tỉ giá đồng tiền của nước mình cho
thị trường điều tiết có tác dụng tốt trong việc để cho quan hệ cung cầu tự điều
chỉnh thế cân bằng của cán bộ thanh toán quốc tế. Ngược lại, đối với đại bộ
phận các nước đang phát triển, thực trạng yếu kém của nền kinh tế đất nước dễ
bị biến động trước những yếu tố bất thường từ bên ngoài, các nước này đã lựa
chọn chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi có quản lý. Trên thực tế không có thị trường
thuần túy nên càng không có chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn tự do.
5
5. Tác động của tỉ giá hối đoái đến các quan hệ kinh tế quốc tế.
5.1 Tác động đến TMQT
Khi tỉ giá hối đoái tăng lên, có nghĩa là đồng nội tệ có giá trị giảm xuống
so với đồng ngoại tệ (trong điều kiện các nhân tố khác không đổi) sẽ có tác
động bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại có lợi cho xuất khẩu.
Tỉ giá hối đoái tăng lên có tác động khuyến khích xuất khẩu vì cùng một
lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu có thể đổi được nhiều hơn đồng nội tệ,
hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên khi tỉ
giá hối đoái tăng lên, hàng nhập khẩu đắt hơn nên các nhà nhập khẩu hạn chế
kinh doanh hàng nhập gây nên tình trạng khan hiếm nguyên liệu, vật tư hàng
hóa ngoại nhập, làm tăng giá các mặt hàng này, gây khó khăn cho các nhà sản
xuất trong nước, nhất là những cơ sở chỉ sử dụng nguyên liệu nhập. Đồng thời
lưu lượng ngoại tệ vận chuyển vào trong nước có xu hướng tăng lên, khối
lượng dự trữ ngoại hối dồi dào, tạo điều kiện cho sự ổn định cán cân thương
mại quốc tế.
5.2 Tác động đến hoạt động đầu tư quốc tế
Khi tỉ giá hối đoái tăng lên trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, sẽ
hạn chế sự bành trướng ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước. Vì họ sẽ
không có lợi nếu chuyển ra nước ngoài các khoản vốn đầu tư bằng đồng nội tệ,
dịch vốn trong xã hội.
Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật không dễ
dự đoán. Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động
như: nhập siêu còn lớn không chỉ atrong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm
hụt ngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng trong nước và thế
giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu
Âu, châu Mỹ); nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng
cuối năm sẽ tăng cao do khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng; do nhu
cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư nước ngoài; do kinh tế ngầm
vẫn phát triển rất mạnh, khó có khả năng ngăn chặn, nên đôla hóa nền kinh tế
còn ở mức cao; do thực hiện chính sách đồng tiền mạnh/ hay yếu của một số
quốc gia trong khu vực… Như vậy sẽ có vài vấn đề đặt ra đối với TGHĐ:
7
Một là, có thể điều chỉnh TGHĐ theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trong bối
cảnh một số nước Châu Âu đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công, còn
Trung quốc lại nâng giá đồng nhân dân tệ?
Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công từ một số nước Châu Âu đang có
chiều hướng lan rộng.Trong 7 tháng đầu năm 2010, Euro đã giảm giá 15,7% so
với USD, giảm 8,5% so với đồng GBP và thậm chí giảm 20% so với đồng
JPY.i Trung quốc nâng giá Nhân dân tệ, ít nhiều tác động đến quan hệ ngoại
thương giữa hai nuớc, tuy không lớn.
Như vậy TGHĐ sẽ phải điều chỉnh thế nào và khi nào để không gây ra
những cú sốc và không tạo kỳ vọng mất giá đồng Việt Nam. TGHĐ là giá cả
đối ngoại của đồng tiền, theo tín hiệu thị trường tỷ giá lúc lên, lúc xuống phải
được xem là việc bình thường của nền kinh tế. Còn khi tỷ giá diễn biến theo
chiều hướng bất lợi, thì bất cứ Quốc gia nào cũng cần can thiệp tỷ giá. Điểm
khác nhau ở chỗ: thời điểm can thiệp; công cụ can thiệp, mức độ can thiệp và
sự giám sát của quá trình can thiệp. Kinh nghiệm của nhiều Quốc gia trong
điều hành chính sách tỷ giá cho thấy, việc chọn thời điểm điều chỉnh với “liều
lượng” hợp lý là yếu tố quan trọng, thậm chí quyết định cho việc ổn định tỷ giá
động theo xu hướng tăng. Như vậy sẽ dẫn đến chênh lệch lãi suất quá lớn giữa
thị trường trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia tăng mức độ đôla hóa
và tiếp tục tạo áp lực lên TGHĐ.
Vì vậy,khi cần điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối quan hệ với
xuất, nhập khẩu, mà còn phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi suất và
vay nợ nước ngoài v.v… trong chiến lược chung là nâng cao uy tín và vị thế
của VND, hướng đến một đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực.
Ba là, có khắc phục được yếu tố kỳ vọng VND mất giá?
Khi người dân và doanh nghiệp luôn kỳ vọng VND mất giá, sẽ làm giảm
niềm tin của người dân vào điều hành chính sách tài chính - tiền tệ của Chính
phủ, NHNN, tiếp tục gây ra những bất ổn trên thị trường. Điều này đã và đang
xảy ra trong dân chúng. Khi tỷ giá trên thị trường tự do biến động tăng, người
dân nghĩ ngay đến việc NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá theo hướng VND giảm giá.
Khi giảm giá VND thì giá một số hàng hóa dịch vụ tăng, lãi suất cho vay và
9
huy động cũng bị đẩy lên cao, các giao dịch ngắn hạn trở lên phổ biến hơn lúc
nào hết (gửi tiền cũng chỉ chấp nhận kỳ hạn ngắn từ tuần, đến tháng; nếu có
gửi kỳ hạn 6 tháng hay 1 năm thì các NHTM lại phải áp dụng theo kiểu “rút ra
trước hạn ở thời điểm nào sẽ được hưởng lãi suất ở kỳ hạn đó”. Nếu vẫn cứ
tiếp cách hành xử này, VND luôn đặt trong xu thế điều chỉnh giảm. Điều này
là rất bất ổn trong trung hạn. Vậy có khắc phục được vấn đề này không? Theo
chúng tôi có thể khắc phục được bằng cách trong ngắn hạn cần chấp nhận một
tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn hiện tại (trên dưới 5%), duy trì một tỷ lệ lạm phát
thấp (trên dưới 6%), đồng thời với nó là dùng các biện pháp để nâng giá tiền
đồng, tạo một sự thay đổi từ nhận thức của người dân. Việc làm này sẽ tạo yếu
tố tâm lý rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh niềm tin của người dân bị suy
giảm về sự không ổn định sức mua của tiền đồng, họ có tiền nhàn rỗi sẽ nhanh
chóng chuyển sang vàng và ngoại tệ nắm giữ v.
Khi VND lên giá, có thể sẽ làm tăng thêm tình trạng nhập siêu, xuất khẩu
có thể giảm đi. Nhưng như đã phân tích trên, yếu tố tỷ giá có tác động đến xuất
Cơ chế tỷ giá này thường được áp dụng tại các nền kinh tế phát triển. Ưu
điểm của nó tạo ra một môi trường kinh doanh linh hoạt cho toàn bộ nền kinh
tế. Ngoài ra, NHTW thường không phải “bận tâm” quá nhiều vào những biến
động ngắn hạn của tỷ giá. Tuy nhiên, nhược điểm là nếu tỷ giá biến động mạnh
sẽ ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế. Cơ chế tỷ giá này chỉ áp dụng
được các nền kinh tế mạnh và có một thị trường tương đối phát triển.
Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết: Đây là một cơ chế tỷ giá hối đoái hỗn
hợp giữa thả nổi và cố định. Với cơ chế tỷ giá này NHTW sẽ công bố một mức
tỷ giá nào đó và thường xuyên điều chỉnh theo những thay đổi trong cán cân
thanh toán, dự trữ ngoại hối quốc gia, và tín hiệu trên thị trường chợ đen.
Cơ chế tỷ giá này được áp dụng khá phổ biến tại các nền kinh tế đang phát
triển. NHTW điều hành tỷ giá bằng cách công bố tỷ giá mục tiêu và mua bán
ngoại tệ trên thị trường để giữ tỷ giá ở gần vùng mục tiêu công bố trước đó.
Ưu điểm là nó tạo ra một môi trường kinh doanh tương đối ổn định. Tuy nhiên,
còn nhược điểm là buộc NHTW phải có khả năng điều hành hiệu quả.
11
2.2. Cơ chế quản lý tỉ giá ở Việt Nam
- Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỉ giá.
- Giai đoạn 1989 - 1995:
1989 - 1991: "Thả nổi" tỷ giá hối đoái.
1992 - 1994: Tì giá chính thức hình thành trên cơ sở đấu thầu tại Trung
tâm giao dịch ngoại tệ.
Năm 1994, tỉ giá chính thức giữa ngoại tệ với VND theo tỉ giá mua bán
rên thị trường chỉ dao động trong biên độ cho phép là ±0,5% so với tỉ giá chính
thức.
+ 1995 - 1999: Tỉ giá được hình thành trên cơ sở tỉ giá liên ngân hàng.
+ Từ 1999 đến nay: Thả nổi có điều tiết.
+ 1999 - 2006: chuyển từ cơ chế tỉ giá cố định sang cơ chế tỉ giá thả nổi
có điều tiết.
+ 2007: Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỉ giá từ
* Năm 2013, sự ổn định của tỉ giá được kéo dài đến hết quý I/2013.
Nhưng sang quý I/2013, thị trường đã có nhiều biến động. Cụ thể là, từ cuối
tháng 4/2013 đến cuối tháng 6/2013, nhiều NHTM đã nâng giá USD lên kịch
trần cho phép 1 USD đổi 21,036 VND. Thậm chí tại số đông NHTM tăng giá
mua lên kịch trần 21,036 VND trong khi giá bán USD trên thị trường tự do lên
tới 21,320 USD. Trước áp lực đó, 28/6/2013 NHNN đã điều chỉnh tăng tỉ giá
liên NH lên thêm 1% so với trước đó. Theo đó, các NHTM cũng đồng loạt
điều chỉnh tăng tỉ giá mua bán ngoại tệ của mình, tỉ giá tăng tới 1,84%.
Tuy nhiên: Điều hành tỷ giá thiếu linh hoạt làm xuất hiện tình trạng 2 tỷ
giá. Hiện tại về mặt chính thức Việt Nam đang áp dụng Cơ chế tỷ giá thả nổi
có điều tiết. Tiền VND được neo vào đồng USD, tỷ giá giữa VND và các đồng
tiền khác được quy đổi chéo thông qua tỷ giá giữa USD với các đồng tiền quốc
gia khác.
Tỷ giá niêm yết chính thức tối đa bằng tỷ giá bình quân liên ngân hàng
theo công bố của NHNN cộng trừ với biên độ theo quy định. Trong quyết định
điều chỉnh tỷ giá ngày 11/02/2011, NHNN đã giảm biên độ từ +/-3% xuống
13
còn +/-1%. Trước đó NHNN đã nhiều lần thay đổi biên độ, mức tối đa trước
đó là 10%, có thời điểm chỉ còn +/-0.1%.
Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết được nhiều chuyên gia đánh giá là phù
hợp với tình hình của Việt Nam. Song trong thực tế quá trình điều hành vẫn
còn tồn tại nhiều bất cập. Một số tổ chức quốc tế vẫn xem cơ chế điều hành tỷ
giá của Việt Nam là cơ chế tỷ giá cố định.
Chính vì cơ chế tỷ giá hối đoái “cố định” này đã làm cho tỷ giá giữa niêm
yết và thị trường tự do chênh lệnh nhau khá lớn. Tình trạng 2 tỷ giá này kéo
dài gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, người dân và ngân hàng.
Những lần điều chỉnh tỷ trong thời gian qua của NHNN chỉ là “chạy theo thị
trường”.
Đợt điều chỉnh ngày 11/02/2011, tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân
hàng được điều chỉnh tăng tới 9.3%, đây là lần điều chỉnh mạnh nhất kể từ
cực sẽ lớn hơn tác động tiêu cực. Người dân và doanh nghiệp có giao dịch liên
quan đến ngoại tệ sẽ dùng các công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá để hạn chế những
tác động tiêu cực do tỷ giá biến động.
3. Biện pháp điều chỉnh tỷ giá của Việt Nam khi có biến động
Chúng ta đã từng áp dụng những biện pháp nào điều chỉnh tỷ giá hối
đoái khi có biến động? Cho ví dụ cụ thể
3.1 Chính sách chiết khấu của NHTW
Đây là chính sách mà ngân hàng Trung Ương bằng cách thay đổi lãi suất
cho vay chiết khấu của mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường.
Khi muốn cho tỷ giá hối đoái giảm xuống, ngân hàng Trung Ương nâng
cao lãi suất chiết khấu, làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên, kết quả là làm
cho các nguồn vốn ngắn han trên thị trường quốc tế chạy vào trong nước để
thu lợi tức cao. Lượng vốn nước ngoài chạy vào sẽ góp phần làm dịu sự căng
thẳng của cầu vượt cung ngoại hối, do đó làm cho tỷ giá giảm xuống.
Còn khi ngân hàng Trung Ương muốn cho tỉ giá tăng lên thì sẽ làm ngược
lại bằng cách giảm lãi suất chiết khấu xuống.
Ví dụ
15
Trong quý 1/2008, có những lúc tỷ giá USD liên ngân hàng xuống dưới
16.000 và tỷ giá thị trường tự do thậm chí còn thấp hơn trong ngân hàng.
Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm
chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ
8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008). NHNN không
thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng
biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.
Nhưng chỉ qua đầu quý 2, tỷ giá lại tăng đến chóng mặt, có lúc đã lên tới
19.500. NHNN đã quyết định nới biên độ dao động từ +1% lên +2% (từ ngày
26/06/08) đồng thời triển khai hàng loạt các biện pháp khác: kiểm soát chặt các
đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông, công bố dự trữ ngoại hối của
Việt Nam (điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam) và tăng mức lãi suất của đồng
21/10/200
8
21/10-
5/11/200
8
5/11/200
8 đến nay
Lãi
suất(%)
8,25 8,75 12 14 13 12
3.2 Chính sách hối đoái
Đây là chính sách mà Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường
ngoại hối bằng cách mua bán ngoại hối trên thị trường.Cụ thể:
• Khi tỷ giá lên cao, ngân hàng Trung Ương tăng cường bán ngoại hối ra
thị trường làm cung ngoại hối trên thị trường tăng lên do đó làm giảm bớt căng
thẳng về cung cầu ngoại hối trên thị trường và kéo tỷ giá tụt xuống.
• Khi tỉ giá giảm xuống , ngân hàng Trung Ương sẽ mua vào ngoại hối,
tăng nhu cầu ngoại hối trên thị trường và làm giảm bớt căng thẳng trong quan
hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường dẫn tới tỉ giá hối đoái từ từ tăng lên.
Một hình thức khác của chính sách hối đoái đó là việc thành lập quỹ bình
ổn hối đoái. Nhà nước sẽ thành lập quỹ này dưới hình thức bằng ngoại tệ, vàng
hoặc phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn, chủ động mua vào bán ra ngoại tệ
để kịp thời can thiệp làm thay đổi quan hệ cung cầu về ngoại hối trên thị
trường, nhằm mục đích điều chỉnh tỉ giá.
Song để thực hiện tốt biện pháp này thì vấn đề quan trọng ở đây là Ngân
hàng trung ương phải có dự trữ ngoại hối lớn, nếu cán cân thanh toán của một
nước bị thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ số ngoại hối để thực hiện phương
pháp này.
Qũy dự trữ bình ổn hối đoái
Là hình thức biến tướng của chính sách thị trường tự do nhằm tạo ra một
-Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì
vậy quan hệ cung cầu ngoại hối bớt căng thẳng.
18
- Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền phá
giá trong tay.
Tác dụng chủ yếu của phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện cán cân thương
mại. Tuy nhiên có thực hiện được điều này hay không còn phụ thuộc vào khả
năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước tiến hành phá giá tiền tệ và khả năng cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước đó. Hạn chế nhập khẩu, làm cho tỷ giá
hối đoái bớt căng thẳng
Ví dụ:
Trong giai đoạn 1997-1998, thời kì khủng hoảng kinh tế đong nam á, đã
ảnh hưởng không ít tới nề kinh tế việt nam.
Lúc đó chính phủ việt nam đã giảm giá đồng việt nam nhằm tăng cường
năng lục cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong khu vực
Sơ đồ về tình hình khinh tế thời kì 1997-1998
Hình 1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1984-2008
Trong khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998 làm cho tốc độ
tăng trưởng của việt nam chậm lại. tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống 4% .
khó khăn tài chính khiến giảm lượng vốn FDI và làm nhiều dự án lâm vào tình
trạng dỡ dang.Trị giá xuất khẩu năm 1998 đạt 9,3 tỷUSD
Trong tình hình đó chính phủ đã 3l lần điều chỉnh tỷ giá vào tháng 7-
1997(bình quân 11,690 VND/USD), tháng 2-1998(bình quân 12,664
VND/USD) và tháng 8-1998(bình quân 13,715 VND/USD) với kết quả tỷ giá
VND/USD giảm khoảng 17%
19
Kết quả là từ năm 1997-1999, sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt
Nam bắt đầu được cải thiện, thể hiện ở chổ chỉ giá xuất khẩu lớn hơn chỉ gía
nhập khẩu và thâm hụt của cán cân ngân sách giảm. Đặc biệt, trong năm 1999,
lần đầu tiên cán cân thương mại thặng dư khoảng 1000 USD
tới là:
- Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
- Ổn định tỷ giá trong mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu,
kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu , cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
và tăng dự trữ ngoại tệ.
- Từng bước nâng cao uy tín VND, tạo điều kiện cho VND có thể trở
thành đồng tiền chuyển đổi.
- Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hoá.
Để đạt được mục tiêu trên chúng tôi đưa ra một số định hướng hoàn thiện
chính sách TGHĐ như sau:
Quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chính sách TGHĐ
phải liên tục được hoàn thiện và điều chỉnh thích ứng với môi trường trong
nước và quốc tế thường xuyên thay đổi. Để góp phần khai thác tối đa những
lợi ích và giảm thiểu những tổn thất từ hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách
TGHĐ ở Việt Nam trong thời gian tới cần hoàn thiện theo những định hướng
cơ bản sau:
Thứ nhất: Tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước.
Trong xu thế toàn cầu hóa Việt Nam cần lựa chọn một chính sách tỷ giá
thả nổi có quản lý để thích ứng và tạo ra động lực phát triển nền kinh tế nước
ta trong tiến trình hội nhập vì chế độ tỷ giá thả nổi có ưu điểm là tỷ giá luôn
gắn liền với quan hệ cung cầu và tỷ giá này thích ứng với điều kiện toàn cầu
hóa của thị trường tài chính quốc tế. Bên cạnh đó Nhà nước vẫn có thể quản lý
được mức độ biến động của tỷ giá.
Thứ hai: Chính sách TGHĐ phải đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ
một cách hợp lý các doanh nghiệp trong nước.
21
Thứ ba: Kết hợp hài hòa lợi ích giữa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
theo hướng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so
sánh, nhưng mặt khác cũng cần gia tăng nhập khẩu các sản phẩm không có lợi
thế so sánh để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về sản xuất và tiêu
đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước khi cần thiết.
Trước mắt cần có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng có kinh doanh
ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng , song song đó phải
củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ
hoạt động của nó, tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai khu
vực thị trường ngoại tệ và thị trường nội tệ một cách thông thoáng.
Năm là: Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh TGHĐ Việt Nam.
Để đảm bảo cho tỷ giá phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị
trường nên từng bước loại bỏ dần việc qui định khung tỷ giá với biên độ quá
chặt của Ngân hàng nhà nước đối với các giao dịch của các NHTM và các giao
dịch quốc tế (Hiện nay biên độ này là +/- 0.25%). Ngân hàng Nhà nước chỉ
điều chỉnh tỷ giá trên các phiên giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng và theo
hướng có tăng có giảm để kích thích thị trường luôn sôi động và tránh hiện
tượng găm giữ đô la.
Sáu là: Thực hiện chính sách đa ngoại tệ.
Hiện nay trên thị trường ngoại tệ, mặc dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn
các ngoại tệ khác, song nếu trong quan hệ tỷ giá chỉ áp dụng một loại ngoại tệ
trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng buộc vào ngoại tệ đó, cụ thể là USD. Khi có
sự biến động về giá cả USD trên thế giới, lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ
giá của USD đến VND mà thông thường là những ảnh hưởng rất bất lợi.
Chúng ta nên lựa chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và dự trữ, bao
gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ thanh toán,
thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở cho việc điều
chỉnh tỷ giá của VND ví dụ như đồng EURO, yên Nhật vì hiện nay EU, Nhật
là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Chế độ tỷ giá gắn với
một rổ ngoại tệ như vậy sẽ làm tăng tính ổn định của TGHĐ danh nghĩa.
23
Bảy là: Nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam.
Nâng cao sức mạnh cho đồng tiền Việt Nam bằng các giải pháp kích thích
nền kinh tế như: hiện đại hoá nền sản xuất trong nước, đẩy mạnh tốc độ cổ
giá sẽ tăng cung nội tệ, dẫn đến nguy cơ tạo ra lạm phát. Để giảm lạm phát
người ta tiến hành bán hàng hóa giao dịch trong thị trường mở nội tệ, từ đó làm
giảm cung nội tệ và lạm phát do đó cũng giảm theo.
Đối với chính sách tài chính tiền tệ, tăng cường sử dụng nguồn vốn trong
nước để bù đắp thiếu hụt ngân sách, phương án tốt nhất để thực hiện bù đắp
thâm hụt ngân sách nhà nước là bằng vốn vay trong nước, hạn chế tối đa việc
vay nợ nước ngoài.
Mười là: Xem phá giá nhỏ như là một biện pháp kích thích xuất khẩu,
giảm thâm hụt cán cân thương mại.
Trong điều kiện hiện nay, một chính sách giảm giá nhẹ đồng Việt Nam sẽ
có thể tác động tích cực trong việc cải thiện đồng thời cả cân bằng bên trong và
cân bằng bên ngoài: khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, sử dụng đầy
đủ hơn các nguồn lực hiện có, làm tăng việc làm, sản lượng và thu nhập của
nền kinh tế, trong khi vẫn kềm chế được lạm phát ở mức thấp.
Mười một: Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Hoạt
động dự báo có một tầm quan trọng rất lớn trong việc phòng ngừa rủi ro hoặc
đầu cơ. NHTW có thể sử dụng các nhân tố cơ bản như thuyết PPP, hiệu ứng
Fisher quốc tế để dự báo. Ngoài ra, NHTW cần theo dõi, phân tích diễn biến
thị trường tài chính quốc tế một cách có hệ thống để có những cơ sở vững chắc
cho đánh giá, dự báo sự vận động của các đồng tiền chủ chốt.
Mười hai: Nhanh chóng thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro. Trong
điều kiện tỷ giá hiện nay tiềm tàng nhiều nhân tố bất ổn chúng ta cần phải gấp
rút triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro. Chính phủ đã cho phép các
NHTM thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn,
hợp đồng tương lai, quyền chọn tiền tệ. Vấn đề là các NHTM và doanh nghiệp
nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp có thu, chi
bằng ngoại tệ phải nhanh chóng sử dụng các công cụ này để phòng ngừa rủi ro
tỷ giá.
25