Tỷ giá hối đoái và quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay. - Pdf 32

Tỷ giá hối đoái
MỤC LỤC
Chương 1 Tổng quan lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối
đoái
1.tỷ giá hối đoái
1.1 tỷ giá hối đoái là gì
1.2 các loại tỷ giá trên thị trường
1.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở
1.4 Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái
1.5 Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái
2.Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề ,mục tiêu cho việc hoạch
định chính sách tỷ giá hối đoái
2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái
2.2 Lựa chọn chế độ TGHĐ
Chương 2 Sự ảnh hưởng của chính sách tỷ giá hối đoái tới tốc độ phát
triển kinh tế của Việt Nam
1.Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ trong
giai đoạn trước tháng 3/1989 thời kế hoạch hoá , tập trung kinh tế.
2.Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến
nay, thời kì nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng
xã hội chủ nghĩa.
2.1.Giai đoạn từ 1989-1992.
2.2.Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996
2.3.giai đoạn từ tháng 7/1997 đến ngày 26/2/1999
2.4.Giai đoạn từ 26/2/1999 đến nay
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị
1.Một số nhận định chung
2. Định hướng về điều hành chính sách tỷ giá của NHNNVN.
3.Một số giải pháp .
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới , các mối quan hệ kinh

2
Tỷ giá hối đoái
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH
SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
1. Tỷ giá hối đoái.
1. Tỷ giá hối đoái là gì?
Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cân nó từ những
góc độ khác nhau.
Xét trong phạm vi thị trường của một nước ,các phương tiện thanh
toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ
quốc gia của một nước theo một tỷ giá nhất định .Do đó có thể hiểu tỷ
giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ một được biểu hiện bằng số lượng
đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được
khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi
một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị
ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai .Chẳng hạn ở Việt Nam người ta
thường nói đến số lượng đồng Việt nam nhận được khi đổi một đồng
USD ,DEM hay một FFR …Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như
vậy thuận lợi hơn .Tuy nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định
nghĩa thứ nhất thuận lợi hơn
Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác ,đó là quan hệ
so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau . Một đồng tiền hay một
lượng đồng tiền nào đó đổi được bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là
tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá
hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá .Như vậy ,trên bình diện quốc tế ,có
thể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của
các đồng tiền so với nhau .
Tỷ giá dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về mặt giá cả của

chung làm bản vị để so sánh .Tiền tệ là vật ngang giá chung để biểu
hiện giá trị của các hàng hoá ,nhưng giờ đây đến lượt cần so sánh giá
cả giữa các đồng tiền với nhau lại phải tìm một vật ngang giá chung
làm bản vị để so sánh.
2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của
nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng ,người ta thường
phân loại tỷ giá theo các tiêu thức sau đây :
*dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý :
Tỷ giá chính thức : đây là loại tỷ giá được biết dến nhiều nhất và là tỷ giá
được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng do ngân hàng công bố
4
Tỷ giá hối đoái
chính thức trên thị trường để làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao
dịch , kinh doanh ,thống kê…
Tỷ giá thị trường : tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ thể
của các thành viên thị trường .
Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau
,đồng này đổi được bao nhiêu đồng kia .
Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng hoá của hai nước
được tính theo một trong hai loại tiền của hai nước đó hoặc là giá trị tính
bằng cùng một đồng tiền của hàng xuất khẩu so với giá hàng nhập khẩu..v.v..
*dựa trên kỹ thuật giao dịch : cơ bản có hai loại tỷ giá :
Tỷ giá mua/bán trao ngay, kéo theo việc thay đổi ngay các khoản tiền
Tỷ giá mua/bán kỳ hạn ,kéo theo việc trao đổi các khoản tiền vào một ngày
tương lai xác định.
Bên cạnh đó ,trong quá trình theo dõi hoạt động kinh doanh của ngân
hàng ,người ta còn đưa ra các khái niệm tỷ giá :
Tỷ giá điện hối : tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện ,thường được
niêm yết tại ngân hàng . Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại

khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc
thặng dư cán cân.
Thứ hai,TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát.Tỷ giá hối đoái
không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương ,mà thông qua đó tỷ
giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá
cả trong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất
nghiệp…
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn mức
1USD = 13500VND của năm 1998 ,tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả
định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu
tính thành tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu
đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả nguyên vật liệu ,máy móc
cho sản xuất . Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều
này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên . Nếu tỷ giá hối đoái
tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm ( đồng nội tệ Việt Nam liên tục
mất giá ) có nghĩa lạm phát đã tăng . Nhưng bên cạnh đó , đối với lĩnh vực
sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước ,thì sự tăng giá của hàng
nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này , giúp phát
triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm , giảm thất
nghiệp ,sản lượng quốc gia có thể tăng lên . Ngược lại , nếu các yếu tố khác
không đổi thì lạm phát sẽ giảm ,khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong
nước cũng có xu hướng giảm ,sản lượng quốc gia có thể giảm ,thất nghiệp
của nền kinh tế có thể tăng lên … nếu tỷ gá hối đoái giảm xuống ( USD
giảm giá hay VND tăng giá )
1.4 Những nhân tố tác động tới tỷ giá:
6
Tỷ giá hối đoái
Về dài hạn có 4 nhân tố tác động tới tỷ giá :Năng suất lao động,mức giá cả
tương đối ở thị trường trong nước,thuế quan và hạn mức nhập khẩu,ưa thích
hàng nội so với hàng ngoại.

tiêu lớn của nền kinh tế : Đó là mục tiêu cân bằng ngoại (cân băng ngoại
thương) và mục tiêu cân bằng nội(cân bằng sản lượng,công ăn việc làm và
lạm phát)
7
Ta biết rằng, tỷ giá tác động đến giá cả tương đối của hàng hoá trong
nước và hàng hoá nước ngoài . Khi đồng tiền của một nước tăng giá ( Tăng
giá trị so với đồng tiền khác ) thì hàng hoá nước đó tại nước ngoài trở lên đắt
hơn và hàng hoá nước ngoài trở lên rẻ hơn(giá nội địa tại hai nước giữ
nguyên ) . Ngược lại, khi đồng tiền của một nước sụt giá , hàng hoá nước đó
tại nước ngoài trở lên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở
lên đắt hơn.
Từ đó tỷ giá ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu của
các quốc gia và trở thành yếu tố chính ảnh hưởng tới việc thực hiện 2 mục
tiêu lớn của nền kinh tế . Điều này có thể nhận thấy một cách rõ ràng khi
xem xét nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay,đồng VND đang được coi là tăng
giá tương đối so với các đồng tiền trong khu vực ( do đồng tiền của các nước
này giảm giá so với đồng USD ) nên giá cả của hàng Việt Nam trên thị
trường quốc tế đang cao hơn so với hàng hoá cùng chủng loại của các nước
trong khu vực dẫn đến bị cạnh tranh một cách gay gắt và thực tế là tổng kim
ngạch xuất khẩu của nước ta trong năm 2000 và mấy tháng đầu năm 2001 là
không tăng mà có tăng thì cũng chỉ tăng một lượng nhỏ.
2.Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề, mục tiêu cho việc hoạch
định chính sách tỷ giá hối đoái.
2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái .
2.1.1 Khái niệm:
Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới
cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm
đạt tới những mục tiêu cần thiết.
Về cơ bản , chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề
lớn là : vấn đề lựa chọn chế độ ( hệ thống ) tỷ giá hối đoái ( cơ chế vận động

cách để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của họ cho phù hợp, hiệu quả, chủ yếu tác
động vào các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư xuyên quốc gia.
2.1.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.
-Phương pháp lãi suất chiết khấu : Đây là phương pháp thường sử
dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường.Với phương pháp này, khi
tỷ giá hối đoái đạt đén mức báo động cần phải can thiệp thì NHTƯ nâng cao
lãi suất chiết khấu . Do lãi suất chiết khấu tăng nên lãi suất trên thị trường
cũng tăng lên . Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn
vào để thu lãi suất cao hơn . Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu về ngoại
tệ sẽ bớt đi , làm cho tỷ giá không có cơ hội tăng nữa. Lãi suất do quan hệ
cung cầu của vốn vay quyết định . Còn tỷ giá thì do quan hệ cung cầu về
ngoại tệ quyết định . Điều này có nghĩa là những yếu tố để hình thành tỷ giá
và lãi suất là không giống nhau , do vậy mà biến động của lãi suất không
nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá.
-Các nghiệp vụ của thị trường hối đoái : Thông qua các nghiệp vụ mua
bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trong những biện pháp quan
trọng nhất của nhà nước để giữ vững ổn định sức mua của đồng tiền quốc
gia . Đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái . Việc mua bán
ngoại tệ được thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả ngoại tệ trên thị
9
trường và ý đồ can thiệp mang tính chất chủ quan của nhà nước . Việc can
thiệp này phải là hành động có cân nhắc, tính toán những nhân tố thực tại
cũng như chiều hướng phát triển trong tương lai của kinh tế, thị trường tiền
tệ và giá cả.
-Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái : Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ
bình ổn hối đoái thường là : phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc
gia . Khi ngoại tệ vào nhiều,thì sử dụng quỹ này để mua nhằm hạn chế mức
độ mất giá của đồng ngoại tệ .Ngược lại , trong trường hợp vốn vay chạy ra
nước ngoài quỹ bình ổn hối đoái tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái
khoán đã phát hành để ngăn chặn giá ngoại tệ tăng .Theo phương pháp này ,

không bị mất giá, tỷ giá ít biến động, cán cân thương mại tự động cân bằng.
Chế độ này có khả năng tự điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà
không cần đến sự can thiệp của Nhà nước, do đó nó có tác động tích cực đối
với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn đầu phát triển. Đây cũng là
thời kỳ phát triển rực rỡ của thương mại quốc tế.
Tuy nhiên chế độ bản vị vàng tồn tại không lâu, đến 1914 nó sụp đổ do hàng
loạt các nguyên nhân sau:
- Do xu thế phát triển kinh tế thế giới không đồng đều khiến cho một số
nước công nghiệp phát triển ngày càng giàu lên, dự trữ vàng lớn do xuất
khẩu được nhiều hàng hoá. Còn ở các nước kém phát triển kho vàng ngày
càng cạn kiệt do phải nhập khẩu hàng hoá. Do đó, thế giới được chia thành
hai khối: các nước kinh tế phát triển và các nước kinh tế kém phát triển.
- Lạm hành việc phát hành tiền vàng, các Chính phủ đã chi tiêu quá lớn dẫn
đến việc dự trữ vàng trong kho nhà nước không đủ để đảm bảo cho việc đổi
tiền phù hiệu ra tiền vàng, làm cho công chúng có tâm lý sử dụng tiền phù
hiệu và cất tiền vàng đi. Ai có vàng không đúc tiền vàng nữa mà dùng để đổi
lấy tiền phù hiệu. Dẫn đến tiền phù hiệu được lưư thông rộng rãi trên cơ sở
ngang giá vàng. Các nước kinh tế phát triển có đồng tiền được coi là tiền chủ
chốt. Các nước kinh tế kém phát triển có đồng tiền được coi là tiền phụ
thuộc. Tiền phụ thuộc đến với tiền chủ chốt sẽ đến được với vàng. Vì chỉ
tiêu tiền phù hiệu nên các nước lớn đã phát hành một lượng tiền phù hiệu lớn
để thao túng kinh tế, chính trị, vơ vét của cải, tài nguyên, xâm chiếm thuộc
địa ở các nước kém phát triển. Khi lượng tiền phù hiệu ở trong lưu thông quá
lớn thì nó trở lại để đổi lấy tiền vàng sẽ không có lượng vàng đủ lớn để đúc
tiền vàng nữa.
Mạt khác, trước đại chiến thế giới I, chính phủ các nước chạy đua vũ trang
đã timg mọi cách vơ vét vàng, vì thế lượng vàng trong lưu thông giảm mạnh,
các dấu hiệu tiền tệ, tiêng giấy tăng lên, đến khi chiến tranh thế giới năm
1914 bùng nổ, chế đọ bản vị vàng tan vỡ. Các nước bắt đầu áp dụng các hình
thức biến tướng của ngang giá vàng là chế độ bản vị vàng thoi và chế độ bản

= 5,6055 FRF (5,5*101%).
Trong thời kỳ đầu cứ 1USD giấy phát hành ra đã có từ 4 đến 8 USD
vàng bảo đảm. Lượng vàng đảm bảo đồ sộ như vậy nên cả thế giới tư bản
chỉ lo có vàng để đổi lấy USD mà mua hàng Mỹ chứ không quan tâm đến
việc USD có đổi lấy vàng được không. Chính vì vậy, các nước có xu hướng
chuyển đổi từ dự trữ vàng sang dự trữ USD để tiết kiệm chi phí. USD đã trở
thành tài sản dự trữ quốc tế của các nước vì Mỹ cam kết với các NHTW rằng
sẽ chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng. Các nước ngày càng mở rộng
thương mại với Mỹ, gia tăng dự trữ USD của họ, khiến cho sức hút USD ra
ngoài ngày càng tăng. Tổng khối lượng USD trên toàn thế giới vào cuối năm
1944là 28,5 tỷ USD, thì đến cuối năm 1968 đã lên đến gần 100 tỷ USD.
Trong 25 năm độc quyền phát hành tiền tệ, Mỹ đã lợi dụng đồng USD để thu
hút của cải các nơi trên thế giới về tay mình. Hàng trăm tỷ USD được thả
lang thang đi khắp các nước mà không có gì bảo đảm, gây ra lạm phát USD.
12
Tỷ giá hối đoái
Chế độ Bretton Woods ngày càng bộc lộ những hạn chế mà bản thân nó
không tự khắc phục được:
- Dự trữ không tương xứng: Do quy mô thương mại quốc tế ngày càng tăng
gắn liền với những dòng vận động tiền tệ lớn, đòi hỏi các NHTW phải mua
và bán khối lượng lớn đồng USD để duy trì tỷ giá hối đoái đã thoả thuận. Về
dài hạn, một số ngân hàng nhận thấy dự trữ USD và vàng của mình không
đủ đáp ứng nhu cầu trên.
- Các cuộc khủng hoảng có nguyên nhân đầu cơ: Khi có sự thay đổi về mức
giá cả tương đối giữa các đổng tiền làm cho một số đồng tiền được đánh giá
quá cao hoặc quá thấp. Vì tỷ giá là luôn cố định, việc các nhà đầu cơ mua,
bán lượng tiền lớn khiến cho NHTW phải chi tiêu những lượng ngoại tệ lớn
để cố gắng duy trì tỷ giá đã định theo thoả ước cho đến khi nó được thay
đổi.
- Sức ép từ tương quan thực tế giữa các đồng tiền: Sự tăng trưởng khác nhau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status