BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINHHỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
_______________ VŨ DUY DUẨN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO - PHƯƠNG THỨC BẢO ĐẢM
PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Lê Thị Hương
2. PGS.TS. Nguyễn Minh Mẫn Hà Nội, Năm 2014
i
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT clxxviii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN clxxix
MỞ ĐẦU 1
1.2.4. Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước, cải cách nền hành chính nhà
nước, quyền công dân có liên quan đến nội dung đề tài luận án 19
1.3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA 20
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa 20
1.3.2. Những vấn đề đặt ra mà luận án phải tiếp tục giải quyết 22
Kết luận Chương 1 24
ii
Chương 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ BẢO ĐẢM
PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 25
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO 25
2.1.1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại 25
2.1.2. Tố cáo và thẩm quyền giải quyết tố cáo 34
2.2. PHÁP CHẾ VÀ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC 39
2.2.1. Quan niệm về pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước 39
3.1.1. Tình hình khiếu nại, tố cáo 77
3.1.2. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo 95
3.2. THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC 107
3.2.1. Về xây dựng, ban hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 107
3.2.2. Về tổ chức thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 112
3.2.3. Về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 118
3.2.4. Về phát hiện, xử lý kỷ luật thông qua công tác thanh tra giải quyết khiếu nại tố
cáo 119
iii
3.3. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 122
3.3.1. Những ưu điểm 122
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 126
3.3.3. Những khó khăn, vướng mắc 130
Kết luận Chương 3 132
Chương 4:
4.2.6. Nâng cao chất lượng chuyên môn cũng như đạo đức công vụ và trình độ công nghệ
thông tin đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 164
Kết luận Chương 4 165
KẾT LUẬN 166
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 168
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GS.TS
HĐND
KNTC
KTNN
NSNN
PGS.TS
TAND
TTCP
TTHC
UBND
UBKT
VKSND
VPCP
77
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan
hành chính nhà nước từ năm 1999 đến năm 2013.
95
i
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận.
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quyền
của công dân, quyền con người. Thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo là thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp. Một mặt, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền tự vệ, phản
kháng của công dân trước các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích
của họ; mặt khác, thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo công dân
tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của các
cơ quan nhà nước.
Thông qua khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan nhà
nước tiếp nhận yêu cầu của công dân về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
hại, đồng thời cảnh báo cho Nhà nước về những khiếm khuyết, bất cập của cơ chế,
chính sách, về những yếu kém của hệ thống quản lý và đòi hỏi cần phải được khắc
phục; cảnh báo về những vấn đề của xã hội và quản lý. Công dân khiếu nại, tố cáo đối
với những quyết định, hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
lý hành chính nhà nước. Bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà
nước có nhiều phương thức khác nhau, trong đó giải quyết khiếu nại, tố cáo với những
kết quả tích cực là một phương thức cơ bản. Kết quả tích cực của giải quyết khiếu nại,
tố cáo gây được tác động kép: Một mặt đảm bảo được các quyền tự do, lợi ích hợp
pháp của công dân, tổ chức; xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, bảo đảm duy
trì ổn định trật tự xã hội, tạo dựng niềm tin của xã hội đối với chính quyền nhà nước.
Mặt khác nó tác động tích cực đến nhận thức của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước
có thẩm quyền trong ban hành các quyết định hành chính, hành vi hành chính, hoặc kỷ
luật, giúp các đối tượng này nâng cao năng lực, phẩm chất, trình độ, ý thức trách nhiệm,
ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện kỉ cương, đúng kỷ luật trong thực thi công vụ. Từ
đó pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước được đảm bảo.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam là bước đi có tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. Đó là quá trình lâu dài với nhiều nội dung phải thực hiện. Trong đó,
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nội dung quan trọng. Như Văn Kiện Đại hội
đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X chỉ rõ: Việc xây dựng cơ chế vận hành của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở "Hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng hoàn thiện
cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định
của các cơ quan công quyền".
iii
Thực trạng và những đòi hỏi trên đã và đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu và
hoạt động thực tiễn nhu cầu bức thiết phải giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn
đối với pháp luật khiếu nại, tố cáo và thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo phù hợp với
những yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Trước thực trạng trên, để góp phần thực hiện nghiêm minh pháp luật khiếu nại,
tố cáo, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đảm bảo pháp chế
và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước tôi chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố
pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước; Vai trò của giải quyết khiếu nại,
tố cáo đối với bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước.
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu việc khiếu nại tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến nay.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu
nại, tố cáo trên phạm vi cả nước
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận về việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm khoa học của học
thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đổi mới, đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính về bảo đảm các
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Đồng thời tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học.
Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận án gồm: phương pháp phân tích,
tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh…
Trong Chương 2, để làm sáng tỏ nội dung các quan niệm, đặc điểm của "khiếu
nại", "khiếu nại hành chính", "giải quyết các khiếu nại hành chính" “tố cáo”, “giải quyết
tố cáo” ; đánh giá sự tác động của "giải quyết khiếu nại, tố cáo" đến bảo đảm pháp
chế, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước luận án sử dụng phương pháp hệ
thống, phân tích, so sánh, diễn dịch Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê, phân
tích, so sánh, diễn dịch, quy nạp ; ở Chương 3 luận án làm rõ cơ chế giải quyết khiếu
nại, tố cáo ở nước ta thời gian qua, làm rõ nguyên nhân của khiếu nại, tố cáo, đánh giá
nhận xét những tác động của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đến việc bảo đảm
pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước; ở Chương 4, trên cơ sở sử dụng
các phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp, so sánh luận án làm rõ những yêu cầu
khách quan và chủ quan cần phải đổi mới cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế, quy trình công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo nhằm góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay;
- Luận án có thể làm tài liệu khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, những
người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên trong các cơ sở đào tạo cử nhân hành
chính, cử nhân luật, các trường đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ Đảng và Nhà nước.
vi
7. Kết cấu của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm
có 4 chương, cụ thể:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận về giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo đảm pháp chế,
kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước.
- Chương 3: Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo đảm pháp chế, kỷ
luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam từ năm 1999 đến nay.
- Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố
cáo nhằm bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam
hiện nay. vii
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền
Xét nhà nước và pháp luật với nghĩa là hai vấn đề cơ bản của lý luận chung
nhận phương thức trị nước bằng pháp luật. Do đó, Nhà nước pháp quyền là sự thắng
thế của tư tưởng, triết lý pháp trị; Nhà nước pháp quyền với chế độ pháp trị là hai tên
gọi khác nhau của cùng một nội dung.
Nhà nước pháp quyền với các chế độ chính trị khác nhau được thiết lập những
mô hình tổ chức quyền lực khác nhau. Song giữa chúng luôn có những điểm chung là
vươn đến tự do của loài người, là sự cố gắng một cách có ý thức nhằm ngăn chặn một
nhà nước bạo lực, buộc nhà nước phải tôn trọng pháp luật và các quyền con người. Bởi
vậy, khi xem xét một cách tổng thể về các quan hệ xã hội mà pháp luật khiếu nại, tố cáo
bảo vệ và những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền cho thấy việc hoàn thiện
pháp luật khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện những nguyên tắc
của Nhà nước pháp quyền.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Konrad - Adenaur - Sfiftung (2002) [191] Từ các
quan niệm khác nhau về nhà nước pháp quyền đã tìm hướng tiếp cận theo những đặc
trưng, giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền. Chẳng hạn, năm yếu tố và giá trị phổ
biến của Nhà nước pháp quyền là dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến; pháp luật
giữ địa vị chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, bảo đảm nguyên tắc
phân quyền và sự độc lập của tư pháp; pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất
quán, phải bảo đảm tính công khai, minh bạch dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời; tôn trọng
và bảo vệ quyền công dân và quyền con người. Trong một công trình khác nhóm tác
giả này lại nêu ra tám đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền là: có hệ thống pháp
luật hoàn thiện, bảo đảm tính đồng bộ để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; xác
định cơ chế hữu hiệu để bảo đảm tính tối cao của luật; pháp luật mang tính pháp lý cao,
công bằng, nhân dân đạo, tất cả vì lợi ích của con người, nhà nước và công dân bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ; quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của con người
được bảo đảm; quyền lực nhà nước được tổ chức, phân công khoa học; tồn tại trên cơ
sở một xã hội công dân; thực hiện các cam kết quốc tế.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền khiếu nại, tố cáo
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1999), (Bước vào thế kỉ 21) [151] Khi
nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong việc tiếp nhận và thỏa
mãn những nhu cầu hợp pháp của công dân đã cho rằng; Pháp luật về khiếu nại, tố cáo
hạn can thiệp của Nhà nước đối với các quyền cơ bản của công dân, giới hạn các quyền
tự do của công dân trong mối quan hệ với quản lý nhà nước cùng với việc bảo đảm các
điều kiện cho công dân thực hiện các quyền cơ bản của mình.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Jen - Michel De - Forger (1995), (Luật Hành
chính) [190], khi bàn về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính đã cho
rằng. Việc pháp luật ghi nhận khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân có
x
ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố địa vị pháp lý của công dân trong quan hệ với
các cơ quan công quyền, trong việc hỗ trợ, bảo đảm thực tế cho quyền tự do, quyền dân
chủ của con người. Ghi nhận quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền cơ bản cũng là
việc Nhà nước thừa nhận sự phản kháng theo pháp luật của công dân trước việc làm trái
pháp luật. Về bản chất, khiếu nại, tố cáo phản ánh mối quan hệ giữa công dân, cơ quan,
tổ chức với Nhà nước hoặc giữa công dân, cơ quan, tổ chức với nhau thông qua việc
đòi hỏi về sự can thiệp của Nhà nước. Khiếu nại, tố cáo là sự phản chiếu mức độ đúng
đắn của chính sách pháp luật, thước đo về sự hài lòng của dân chúng đối với cơ quan
công quyền và thước đo về thái độ của công dân đối với chế độ.
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về tài phán hành chính và kỷ luật
hành chính
Xét trên khía cạnh dân chủ thì tài phán hành chính và kỷ luật hành chính là một
cơ chế bảo đảm quyền dân chủ bằng cách cho phép công dân có thể chống lại (phản
đối) các quyết định hoặc hành vi hành chính của các cơ quan công quyền và công chức
đã lạm quyền, vi phạm pháp luật làm thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền và
lợi ích hợp pháp của họ.
Từ khía cạnh trên đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế
giới tiêu biểu như:
Nghiên cứu của tác giả Francis Lamy với tựa đề Tài phán hành chính ở cộng
hòa Pháp được trình bày tại hội thảo Việt Pháp về Tòa án hành chính - Hà Nội, 1994
[187]. Khi tập trung nghiên cứu về tài phán hành chính tác giả nhận xét: việc trao quyền
xét xử các tranh chấp hành chính cho chính bản thân cơ quan hành chính lại dẫn đến
động tài phán hành chính. Do đó cần thiết phải có Tòa án hành chính độc lập với hoạt
động điều hành của cơ quan hành chính
Một tác phẩm khác có nhan đề Nhà nước pháp quyền của tác giả Otto Beahr,
xuất bản tại Đức năm 1964 đã viết: pháp luật và đạo luật chỉ có thể giành được ý nghĩa
và quyền lực thực sự ở nơi nó sẵn sàng tìm thấy sự phán quyết về việc thi hành chúng.
Ông đưa ra một câu hỏi mang tính bản chất của việc xử lý các khiếu kiện hành chính là:
Khi đã đi đến một quyết định cơ bản là cần thiết phải tổ chức việc kiểm tra hoạt động
hành chính theo con đường tòa án thì cùng với nó sẽ đặt ra vấn đề: việc kiểm tra này sẽ
giao cho các tòa án “thường” hay tòa án “chuyên trách” về hành chính. Câu hỏi này đã
được trả lời bằng việc thành lập các tòa án chuyên trách ở Đức sau này.
Qua nghiên cứu về tài phán hành chính (mô hình ở một số nước) cho thấy tổ
chức cơ quan tài phán hành chính ở các nước trên thế giới rất khác nhau nhưng về tổng
quát, có thể phân ra làm mấy hệ thống cơ bản sau đây:
* Pháp và một số nước theo mô hình Pháp: Có các Toà án hành chính độc lập
nhưng gắn bó chặt chẽ với nền hành chính quốc gia thông qua việc giao thêm cho Toà
án hành chính chức năng tư vấn pháp lý, nhất là ở trung ương. Cùng với Pháp là các
xii
nước: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bỉ, Italia, Ai Cập, Côlômbia.
* Một số nước có hệ thống cơ quan tài phán hành chính chỉ làm nhiệm vụ xét xử
hành chính. Đó là: Cộng hoà liên bang Đức, Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào Nha,
Mêhicô…
* Một số nước chọn giải pháp trung gian: Toà án hành chính không tổ chức
thành hệ thống độc lập mà thành các toà án chuyên trách về hành chính trong hệ thống
Toà án thường như ở Trung Quốc, Inđônêxia, Bênanh, Cônggô, Bờ biển Ngà,
Mađagaxca, Môritani, Nigiênia, Xênêgan, Tôgô…
* Ở các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ: Toà án thường có chức năng tài
phán hành chính, ngoài Anh, Mỹ có các nước Ailen, Aixơlen, Nauy, Đan Mạch,
Canađa, Síp, Nigênia, Irắc, Ixraen. Một số nước Đông Nam Á ảnh hưởng Mỹ cũng theo
hệ thống này.
Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2001; "Nhận diện Nhà nước pháp quyền",
PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2002; "Về tư tưởng
Nhà nước pháp quyền và khái niệm Nhà nước pháp quyền". PGS.TS Lê Minh Tâm, Tạp
chí Luật học, số 2/2002; "Học thuyết Nhà nước pháp quyền, một vấn đề trong lịch sử
hình thành và phát triển", TS. Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2002; "Xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng", Tô Xuân Dân, Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Cộng sản, số 4 tháng 2/2004;
Các công trình nghiên cứu này chủ trương tìm hiểu và cắt nghĩa về những đặc trưng có
bản của nhà nước pháp quyền, sự cần thiết phải xây dựng nhà nước pháp quyền là cơ sở
để thực hiện dân chủ trong quản lý nhà nước đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng nhà
nước pháp quyền và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ
trọng tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Các nghiên cứu
này đều thống nhất về mặt tư tưởng là xây dựng nhà nước pháp quyền phải đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chế độ nhân dân làm chủ, quyền làm chủ
của nhân dân được thực hiện chủ yếu bằng thiết chế quyền lực nhà nước. Ðảng Cộng
sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội cũng chủ yếu bằng Nhà nước và
thông qua Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thật
sự của dân, do dân, vì dân, trong sạch, vững mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả cao
trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội, đối ngoại của đất nước
luôn là mối quan tâm, là nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng và nhân dân ta.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa", GS.TS
Hoàng Văn Hảo, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2004: trong nghiên cứu này tác
giả đi sâu nghiên cứu hệ thống các tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa đồng thời tác giả đã có những đánh giá, nhận xét về việc
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay qua đó chỉ ra những cách thức cơ
bản để xây dựng nhà nước pháp quyền trong tình hình mới đồng thời nêu ra một số
xiv
biện pháp, cách thức để thực hiện và bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu:
xv
- Bài "Những yêu cầu đặt ra trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về
KNTC", Phạm Văn Khanh, Tạp chí Thanh tra, số 9/1999; "Việc giải quyết khiếu nại
của công dân trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước sau khi Tòa án hành
chính được thiết lập", Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ); Đề tài Nghiên
cứu khoa học năm 1996, 2004; "Xây dựng quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại
hành chính", Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ).
- Một số giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có đề cập đến KNTC và
giải quyết KNTC như: cuốn "Tìm hiểu Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân",
PGS.TS. Lê Bình Vọng, Nxb Pháp lý, Hà Nội 1991; cuốn "Kỉ yếu Bác Hồ với Thanh
tra", Thanh tra Nhà nước, Nxb Thống kê, Hà Nội 1991; cuốn "Giải đáp Luật hành
chính Việt Nam, Chương XIX", TS. Phạm Hồng Thái và TS.Đinh Văn Mậu, Nxb TP
Hồ Chí Minh 1996; cuốn "Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo" PGS.TS Phạm
Hồng Thái (Chủ biên), Nxb TP Hồ Chí Minh 2003; cuốn "Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ và cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam",
Viện khoa học Thanh tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2004; cuốn "Giáo trình Luật hành
chính Việt Nam, Chương XXI, Chương XXII", Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005.
- Một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ luật học có liên quan như: Luận văn
thạc sỹ luật học của Phạm Văn Long, năm 2002: "Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố
cáo ở nước ta hiện nay [142]; Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Trần Văn Sơn (2006):
"Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo
của các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay" [161]…
Các nghiên cứu này có nội dung cơ bản sau:
+ Chiếm đại bộ phận là các công trình nghiên cứu về khiếu nại, tố cáo từ góc độ
của pháp luật hành chính. Tập trung nghiên cứu phân tích, lý giải những vấn đề thực
tiễn thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành; về tăng cường pháp chế; về đổi
mới tổ chức, bộ máy giải quyết khiếu nại, tố cáo; về đổi mới quy trình thủ tục giải
tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền giám sát của Quốc hội, thực trạng giám
sát của Quốc hội và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của
Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân [141].
- “Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Ngô
Mạnh Toan (2008). Nội dung luận án tập trung giải quyết vấn đề hoàn thiện pháp luật
khiếu nại, tố cáo từ những yêu cầu của xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội
chủ nghĩa [172].
- "Phân biệt khiếu nại hành chính với khiếu kiện hành chính", Vũ Trọng Hách,
Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3 năm 2008. Bài viết của tác giả tập trung phân tích làm
rõ những đặc điểm chung và khác nhau giữa khiếu nại hành chính và khiếu kiện hành
xvii
chính, tránh nhận thức nhầm lẫn giữa hai quyền này trong hoạt động thực tiễn và trong
thực hiện quyền khiếu nại và quyền khiếu kiện [128].
- "Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo", Luận văn thạc sĩ
Luật của Trần Thị Thúy Mai (2010). Nội dung luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận
về tiếp công dân, thực trạng công tác tiếp dân, quan điểm, giải pháp đổi mới công tác
tiếp dân trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính [146].
1.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giải quyết khiếu
nại hành chính
1.2.3.1. Nhóm các đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật học
và chuyên ngành hành chính công đề cập đến việc giải quyết khiếu nại của công dân
- “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở
Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thế Thuấn (2001).
Nội dung luận án tập trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khiếu
nại, tố cáo và hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tham số
và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân; thực trạng pháp luật và kết quả, tồn tại, nguyên nhân trong hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước; hệ thống các giải pháp cơ bản tăng cường
dung luận văn tập trung làm rõ vấn đề khiếu nại về đất đai và việc giải quyết khiếu nại
về đạt đai, các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Hải
Dương [169].
- “Hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Ninh Bình hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Thị Hồng
Thơm (2009). Nội dung luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo,
pháp luật về khiếu nại, tố cáo; thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan
hành chính nhà nước ở tỉnh Ninh Bình; phương hướng hoàn thiện pháp luật về khiếu
nại, tố cáo và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo ở
tỉnh Ninh Bình [170].
1.2.3.2. Nhóm các tác phẩm, đề tài khoa học liên quan đến giải quyết khiếu nại
- "Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh nghiệm",
Đề tài khoa học cấp bộ do Tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh chủ nhiệm (1998-1999). Nội
dung đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý về quyền khiếu nại, quyền tố cáo của
công dân, tình hình giải quyết khiếu nại và các kinh nghiệm, giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương [145].
- "Một số vấn đề đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt
Nam", của tiến sĩ Nguyễn Văn Thanh - luật gia Đinh Văn Minh, Nxb Tư pháp, Hà Nội
2004. Nội dung cuốn sách tập trung đề cập đến khiếu kiện hành chính (nghĩa rộng -
khiếu nại hành chính và khiếu kiện hành chính), thực trạng và vấn đề đổi mới cơ chế
nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân [149].