TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI : TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : TS Cao Ý Nhi
Sinh viên : Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Lớp : Ngân hàng A
Khóa : 49
MSV : CQ492007
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra một cách sâu sắc, toàn diện trên
phạm vi toàn thế giới. Nó là qui luật khách quan mà Việt Nam cần sớm nắm bắt vận dụng.
Việc tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới sẽ mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội đồng
thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp.
Một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế là ngoại thương.
Quyết định tới sự thành công hay thất bại của chính sách kinh tế đối ngoại phải kể đến vai
trò quan trọng của chế độ tỷ giá hối đoái mỗi quốc gia. Tỷ giá hối đoái là một biến số kinh
tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của nền kinh tế . Nó ra đời từ hoạt
động thương mại quốc tế và quay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân
thanh toán của mỗi quốc gia. Là một nước đang đi những bước đi đầu tiên cả về phương
diện lí luận và thực tiễn, hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỉ giá hối đoái đang trở thành vấn
đề cấp bách đặt ra cho chúng ta. Xuất phát từ thực tế khách quan đó, đề án môn học “Lý
thuyết tài chính tiền tệ” sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề :
“ Tỷ giá hối đoái và vấn đề quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay “
Cấu trúc đề án gồm hai phần:
Chương I : Lý luận chung về tỷ giá hối đoái, cơ chế điều hành và chính sách tỷ
giá hối đoái
Chương II : Quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.1. Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh
• Tỷ giá mua: là tỷ giá mà tại đó các tổ chức tín dụng sẵn sàng mua ngoại tệ
• Tỷ giá bán: là tỷ giá mà tại đó các tổ chức tín dụng sẵn sàng bán ngoại tệ
1.1.2.2. Phân loại theo cơ chế quản lý vĩ mô
• Tỷ giá danh nghĩa: là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền
khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
• Tỷ giá thực: là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước
và nước ngoài
3
1.1.2.3. Phân loại theo quan hệ thương mại quốc tế
• Tỷ giá song phương: là tỷ giá được xác định giữa đồng tiền của hai nước trong
quan hệ thương mại quốc tế của hai nước đó với nhau
• Tỷ giá đa phương: là tỷ giá được xác định giữa đồng tiền của nhiều hơn hai nước
trong quan hệ thương mại quốc tế của các nước đó với nhau
1.1.2.4. Phân loại theo thời hạn thanh toán
• Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá được xác định vào ngày hôm nay và việc tiến hành thanh
toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo
• Tỷ giá kỳ hạn: là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra
sau đó từ ba ngày làm việc trở lên
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Là giá cả của ngoại tệ, tỷ giá chịu ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị
trường hối đoái. Quan hệ cung cầu ngoại tệ lại chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố, các
yếu tố này có thể tác động đến tỷ giá trong dài hạn hoặc trong ngắn hạn hoặc cả ngắn và
dài hạn.
1.1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá trong dài hạn
• Lạm phát ( mức giá cả tương đối giữa hai nước )
Ảnh hưởng của mức lạm phát ở hai nước đến tỷ giá xuất phát từ thuyết ngang giá sức
mua (thuyết PPP). Theo thuyết này thì tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản
ánh tương quan lạm phát giữa chúng theo công thức :
ΔE = x 100%
nước có năng suất lao động cao có thể hạ giá hàng nội tương đối so với hàng ngoại mà vẫn
thu được lãi. Kết quả là cầu về hàng nội tăng và đồng nội tệ có xu hướng tăng. Ngược lại
nếu năng suất lao động của một nước thấp hơn nước khác thì hàng hóa nước đó trở nên
tương đối đắt hơn và đồng tiền của nước đó có xu hướng giảm giá. Như vậy, về lâu dài,
năng suất lao động của một nước cao hơn tương đối so với nước khác dẫn đến đồng tiền
nước đó tăng giá.
Tương quan so sanh mức thu nhập của hai quốc gia cũng quyết định sự thay đổi tương
quan giá trị giữa hai đồng tiền về mặt dài hạn do nó ảnh hưởng đến nhu cầu xuất nhập
khẩu và nhu cầu đầu tư của hai nước. Nếu GDP tính théo đầu người của một nước tăng
nhanh hơn nước khác sẽ làm cho nhu cầu nhập khẩu của nước đó tăng lên,cầu về ngoại tệ
tăng, dẫn đến ngoại tệ tăng giá. Nhưng khi thu nhập theo đầu người tăng nghĩa là tỷ suất
sinh lời của các khoản đầu tư vào nước này sẽ tăng nhanh hơn, luồng vốn đầu tư đi vào
nhiều hơn và lại làm cho bản tệ tăng giá. Hai ảnh hưởng này xảy ra đồng thời và tác động
vào tỷ giá . sự thay đổi của tỷ giá phụ thuộc vào ảnh hưởng ròng của hai tác động trên
5
Cũng cần lưu ý rằng,một nước có thể bé đến nỗi sự thay đổi trong năng suất lao đông
hoặc sự ưa thích hàng nội hơn hàng ngoại sẽ không có tác động đến giá cả tương đối của
hàng nội so với hàng ngoại. trong trường hợp này, những thay đổi trong năng suất lao động
và ứng xử của người tiêu dung tác động đến thu nhập của một nước nhưng không nhất
thiết tác động đến tỷ giá
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá trong ngắn hạn
• Mức lãi suất so sánh ở hai nước
Thay đổi mức lãi suất ở hai nước ảnh hưởng đến tỷ giá dựa trên thuyết ngang giá lãi
suất (Interset Parity - IP). Theo thuyết này thì tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để
phản ánh tương quan mức lãi suất giữa chúng theo công thức :
ΔE = x 100%
Trong đó : ΔE là tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau một năm
R là mức lãi suất %/ năm của nội tệ
là mức lái suất %/ năm của ngoại tệ
nhanh và càng mạnh
• Sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương trên thị trường ngoại hối
Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào làm tăng cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại
hối làm cho tỷ giá tăng và ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ làm tăng cung
ngoại tệ và làm cho tỷ giá giảm. Tần số và cường độ can thiệp càng mạnh càng khiến cho
tỷ giá biến động nhanh và mạnh trong ngắn hạn. Hơn nữa, tín hiệu can thiệp của ngân hàng
trung ương có tác dụng tâm lý rất mạnh đến các thành viên thị trường khiến cho tỷ giá thay
đổi nhanh chóng
1.1.4. Tác động của tỷ giá đến các hoạt động kinh tế
1.1.4.1. Tác động đến hoạt động ngoại thương
Khi tỷ giá biến động, nó sẽ làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu đắt lên hoặc rẻ đi
một cách tương đối từ đó ảnh hưởng đến khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và kim
ngạch ngoại thương. Chẳng hạn, khi tỷ giá tăng làm cho giá hàng xuất khẩu tính bằng
ngoại tệ rẻ hơn trên thị trường quốc tế do đó làm tăng khả năng cạnh tranh về giá, dễ tìm
kiếm thị trường tiêu thụ. Do vậy khối lượng hàng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu tăng.
Đối với nhập khẩu, sự giảm giá của đồng bản tệ sẽ hạn chế nhập khẩu vì giá hàng nhập
khẩu bán bằng đồng nội tệ trên thị trường trong nước tăng làm cho cầu tiêu thụ hàng nhập
khẩu giảm, do đó khối lượng và kim ngạch nhập khẩu giảm. Xuất khẩu tăng, nhập khẩu
giảm dẫn đến cán cân thương mại được cải thiện, lượng ngoại tệ chuyển vào trong nước có
xu hướng gia tăng. Do vậy, phá giá hay giảm giá nội tệ là một trong những biện pháp cải
7
thiện cán cân thương mại, cán cân vãng lai và cán cân thanh toán quốc tế. Tuy nhiên tác
động của nó còn tùy thuộc vào cơ cấu xuất nhập khẩu và do vậy mức độ tác động sẽ khác
nhau ở các nước khác nhau và trong từng thời kỳ
1.1.4.2. Tác động đến mức giá cả trong nước
Tỷ giá biến động sẽ ảnh hưởng đến giá hàng nhập khẩu bán trên thị trường nội địa từ
đó tác động đến mức giá cả trong nước. Chẳng hạn, khi tỷ giá tăng, giá hàng nhập khẩu
bán bằng nội tệ tăng dẫn đến mức giá chung trong nước tăng. Nếu hàng nhập khẩu là hàng
tiêu dùng, nó trực tiếp làm tăng chỉ số CPI. Nếu đó là hàng tư liệu sản xuất, nó làm cho chi
phí sản xuất tăng dẫn đến mức lạm phát cũng sẽ tăng, gây bất ổn cho nền kinh tế. Nếu tỷ
Quy định này phản ánh sự kiểm soát của ngân hàng trung ương hoặc chính phủ vào
hoạt động của thị trường kỳ hạn, kể cả giao dịch giao ngay và giao dịch hoán đổi của các
chủ thể kinh tế
1.2.2.4. Chế độ tỷ giá
• Chế độ tỷ giá cố định
Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá mà trong đó Ngân hàng Trung ương buộc phải
can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá xung quanh tỷ giá cố định do ngân hàng
trung ương xác định trong một biên độ hẹp đã định trước. Trong chế độ này, Ngân hàng
Trung ương buộc phải mua hay bán ngoại tệ, trực tiếp tác động đến cung cầu ngoại tệ
nhằm giới hạn tỷ giá trong biên độ đã định. Để can thiệp, ngân hàng trung ương phải có
nguồn dự trữ ngoại hối đủ mạnh
Hình 1.2.2.4.a : chế độ tỷ giá cố định : cầu tăng
Trong hình 1.2.2.4a, khi cầu ngoại tệ tăng từ D1 đến D2 tỷ giá tăng từ E1 đến E2, Ngân
hàng Trung ương phải bán ngoại tệ để tăng cung ngoại tệ, làm dịch chuyển đường cung
ngoại tệ từ S1 đến S2 và giá ngoại tệ trở về mức tỷ giá trung tâm E1 (giả định rằng biên độ
dao động là 0). Để duy trì mức tỷ giá E1, lượng ngoại tệ đã phải tăng từ Q1 lên Q3, nghĩa
là Ngân hàng Trung ương phải bán một lượng ngoại tệ ( Q3 – Q1), do đó dự trữ ngoại tệ
9
giảm, lượng tiền trung ương (MB) và tiền cung ứng (MS) giảm ảnh hưởng đến việc thực
hiện chính sách tiền tệ. MS giảm có thể dẫn đến giảm phát. Để tránh hậu quả giảm phát,
Ngân hàng Trung ương phải tiến hành các hoạt động “can thiệp triệt tiêu” như mua chứng
khoán trên thị trường mở để tăng MB và MS
Khi cung ngoại tệ tăng, Ngân hàng Trung ương can thiệp trên thị trường ngoại hối theo
chiều hướng ngược lại. Ngân hàng Trung ương mua ngoại tệ trên thị trường ngoại hối làm
cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá trở về mức cố định. Dự trữ ngoại tệ tăng, lượng tiền trung ương và
lượng tiền cung ứng tăng, MS tăng có thể dẫn đến lạm phát, do vậy, có thể can thiệp vô
hiệu hóa
Trong trường hợp không thể can thiệp, Ngân hàng Trung ương phải điều chỉnh tỷ giá
trung tâm, phá giá hoặc nâng giá đồng nội tệ
Chế độ tỷ giá cố định có ưu điểm: