TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SINGAPORE VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM - Pdf 43

MỤC LỤC
MỤC LỤC..........................................................................................................1
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG........................................................................................3
-----  -----........................................................................................................3
Chương I.............................................................................................................3
TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ SINGAPORE............................................3
1.1.Tình hình phát triển kinh tế......................................................................3
1.2. Các ngành kinh tế trọng điểm.................................................................4
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA SINGAPORE. 7
-----  -----........................................................................................................7
2.1. Phát triển Ngoại thương..........................................................................7
2.1.1. Kinh nghiệm của Chính phủ.............................................................7
2.1.1.1. Bộ máy quản lý thương mại Singapore.....................................7
2.1.1.2. Chính sách ngoại thương của Singapore...................................9
2.1.2. Kinh nghiệm của doanh nhân.........................................................13
2.1.2. 1. Kinh nghiệm “ra biển lớn” của doanh nhân Singapore..........13
2.1.2.2. Xác định rõ những rào cản khi mở rộng thị trường.................14
2.1.2.3. Thành công và tăng trưởng nhờ trung thành với những gì mình
biết........................................................................................................14
2.1.2.4. Kiểm soát sự lớn mạnh...........................................................15
2.2.3. Bài học từ khủng hoảng tài chính châu Á......................................19
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
VIỆT NAM.......................................................................................................22
-----  -----......................................................................................................22
3.2. Bài học cho Việt Nam...........................................................................24
3.2.1. Phát triển tài chính..........................................................................24
3.2.1.1. Hoạt động ngân hàng...............................................................24
3.2.1.2. Chính sách tài chính công.......................................................26
C. PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................36
-----  -----......................................................................................................36

Singapore có cơ sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính
sách giáo dục của đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là
nền tảng cho việc phát triển kinh tế của đất nước.
Singapore đáng là bài học để Việt Nam nghiên cứu trong quá trình định
hướng con đường phát triển quốc gia.

=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
2


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

B. PHẦN NỘI DUNG
-----  ----Chương I
TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ SINGAPORE
1.1.

Tình hình phát triển kinh tế

Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản. Sự
can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế được giảm thiểu tương đối nhiều. Singapore
có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả ổn
định. Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên
ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất
canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp
không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở
trong nước.
Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng

và đồ uống, sửa chữa tàu, xây dựng giàn khoan ngoài khơi...
- Dịch vụ: Bên cạnh một nền công nghiệp dựa vào công nghệ tiên tiến của
thế giới, Singapore không quên tận dụng một mặt mạnh khác, đó là lĩnh vực dịch vụ,
lĩnh vực đóng góp chủ yếu cho GDP của Singapore. Năm 2007, mức đóng góp này
là 68,8%. Các ngành dịch vụ thế mạnh của Singapore là vận tải (logistic) và thông
tin liên lạc, tài chính, du lịch.
Năm 2008, ngành dịch vụ của Singapore cũng chịu nhiều tác động bởi khủng
hoảng tài chính gây ảnh hưởng xấu lên các công ty tài chính, dịch vụ tài chính đi
xuống. Không chỉ có vậy, doanh thu từ dịch vụ du lịch giảm khi người tiêu dùng trên
thế giới cắt giảm chi tiêu. Lĩnh vực dịch vụ chỉ tăng trưởng 5,3% trong quý 3/2008
sau khi tăng trưởng 7,1% trong quý 2/2008.
- Thương mại: Thương mại là nhân tố quyết định của nền kinh tế Singapore,
vì thế chính sách thương mại của đảo quốc này có thể tóm lược trong hai yếu tố chính:
Bảo toàn và mở rộng thị trường, giảm thiểu các rào cản thương mại. Đảm bảo hoạt
động của các quốc gia trong khuôn khổ những qui định do Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đề ra.
Ngoài ra, chính sách thương mại của Singapore cũng phù hợp với một số thoả
hiệp song phương và đa phương đã được ký kết giữa Singapore với một hay nhiều nước
khác như chương trình Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Thoả ước
thương mại tự do (FTAs), Thoả ước công nhận hỗ tương (MRAs)... Trong những năm
cuối thế kỷ 20, Singapore đã sử dụng hai phương tiện truyền thống trong thương mại là

=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
4


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 


=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
5


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

Tại Singapore, các nhà đầu tư nước ngoài không bị đòi hỏi phải tham gia vào
các hoạt động liên doanh hay nhượng quyền kiểm soát quản trị cho quyền lợi địa
phương. Chính quyền Singapore không hạn chế hay làm nản lòng các nhà đầu tư
nước ngoài nhằm bảo hộ nền công nghiệp trong nước hay vì bất cứ lý do nào khác.
Tuy nhiên vẫn có một số ngoại lệ đáng chú ý còn tồn tại trong lãnh vực sản xuất vũ
khí, công nghiệp truyền thanh và thông tin nội địa. Ngoài ra, các cơ hội đầu tư cũng
còn bị hạn chế trong việc sở hữu các tài sản tư.
Tháng 4/2000, lĩnh vực viễn thông được tự do hóa hoàn toàn nhằm đảm bảo
cho Singapore vị thế của một trung tâm thông tin và truyền thông quan trọng của
châu

Á.

Những hạn chế về quyền tư hữu của người nước ngoài cũng được gỡ bỏ đối với
ngành ngân hàng địa phương, ngành bảo hiểm và các công ty điện lực.
Từ năm 1978, Singapore đã gỡ bỏ mọi hạn chế về giao dịch chứng khoán nước
ngoài và chuyển dịch vốn, không giới hạn việc tái đầu tư cũng như chuyển vốn và lãi về
nước.
Tình hình đầu tư nước ngoài vào Singapore: Theo Cục Thống kê
Singapore, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Singapore đã tăng gấp hơn
3 lần trong giai đoạn 1995-2005. Năm 2007, tổng số vốn nước ngoài đầu tư vào
Singapore là 14,279 tỷ USD với 239 dự án, tăng 23,1% so với năm 2006, tạo công
ăn việc làm cho 35.441 lao động. Những nước và vùng lãnh thổ đầu tư chủ yếu vào

gia thông qua sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng
của mình, MTI tiến hành việc hoạch định và phân tích kinh tế, điều hợp các
chính sách kinh tế của chính phủ.
Về mặt tổ chức, ngoài bộ máy hành chánh trực thuộc, MTI còn có trách
nhiệm giám sát và hỗ trợ hoạt động cho các đơn vị dưới đây: - Cục thống kê;
Cục dịch vụ thông tin; Sở cân đo; Hội đồng phát triển kinh tế (EDB); Hội
đồng cấp giấy phép hoạt động cho các khách sạn; Hội đồng thành phố Jurong;
Hội đồng khoa học và công nghệ quốc gia; Hội đồng tiện ích công cộng; Tập
đoàn phát triển Sentosa; Hội đồng hiệu suất và định chuẩn Singapore; Hội
đồng du lịch Singapore; Hội đồng phát triển thương mại Singapore (TDB).
Vai trò xúc tiến thương mại của MTI thuộc về TDB, một trong những tổ
chức có thế lực nhất về mặt thương mại tại đảo quốc này. Được thành lập vào
năm 1983, TDB chịu trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy Singapore tiến
=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
7


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

nhanh trên đấu trường thương mại quốc tế, bảo vệ quyền lợi kinh tế của đảo
quốc, đồng thời giới thiệu sản phẩm của Singapore trên khắp thế giới. Bước
vào thế kỷ 21, hội đồng này hướng tới 5 lãnh vực hoạt động sau đây:
- Cổ xuý cho một nền thương mại tự do và công bằng tại các diễn đàn
quốc tế.
- Khai phá các thị trường mới cho hoạt động xuất khẩu của Singapore
và mở rộng các lĩnh vực cung ứng
- Biến Singapore thành một địa điểm hấp dẫn hơn nữa đối với thương
nhân quốc tế

Hiện nay TDB có hơn 30 văn phòng thương mại trên khắp thế giới, với
chức năng quảng bá cho nền thương mại Singapore và quan trọng hơn cả là hỗ
trợ các công ty Singapore trong giao thương quốc tế. Sự hỗ trợ này được thể
hiện một cách nhuần nhuyễn và đa dạng thông qua các đoàn công tác, các hội
chợ thương mại để tìm cơ hội hợp tác và đầu tư.
Tính đến nay, đã có hơn 140 công ty trên thế giới đặt cơ quan đầu não
của họ tại Singapore. Nhiều công ty khác đang toan tính làm việc này. Chính
quyết định đặt trụ sở của họ tại Singapore đã góp phần biến đảo quốc này
thành một trung tâm thương mại quốc tế. Về mặt hàng hải, Singapore là hải
cảng bận rộn nhất thế giới, đồng thời là một trung tâm dịch vụ hậu cần và vận
chuyển quốc tế.
2.1.1.2. Chính sách ngoại thương của Singapore
* Ngoại thương và kiểm soát lạm phát
Thương mại là nhân tố quyết định của nền kinh tế Singapore, trong đó,
quan trọng nhất là ngoại thương. Chính sách ngoại thương của đảo quốc này
có thể tóm lược trong hai yếu tố chính:
- Bảo toàn và mở rộng thị trường, giảm thiểu các rào cản về thương mại.
- Đảm bảo hoạt động của các quốc gia trong khuôn khổ những qui định
do Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đề ra.
Ngoài ra, chính sách thương mại của Singapore cũng phù hợp với một
số thoả hiệp song phương và đa phương đã được ký kết giữa Singapore với
một hay nhiều nước khác như chương trình Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình

=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
9


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
10


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

hệ số ICOR thấp, có nghĩa là đồng vốn đầu tư khả dụng vào nền kinh tế mang
lại một hiệu quả cao đối với sự tăng trưởng của GDP.
Nhưng tăng trưởng kinh tế bằng con đường xuất khẩu không phải là
một sự chọn lựa dễ dàng. Bên cạnh nhiều thách thức khác, đẩy mạnh xuất
khẩu đối với những nước đang phát triển, trong đó phần xuất khẩu nguyên liệu
thô, khoáng sản, nông lâm hải sản chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kim ngạch
xuất khẩu, cũng đặt ra một vấn đề kinh tế vĩ mô là nguy cơ lạm phát gia tăng,
đặc biệt là sự gia tăng giá cả lương thực thực phẩm vốn luôn luôn tạo áp lực
nặng nề trên đời sống của người dân nghèo và trở thành một vấn đề mang tính
chất xã hội và chính trị.
Khắc phục những hệ quả không mong muốn của một chiến lược đẩy
mạnh xuất khẩu đối với giá cả trong nước không phải là điều dễ dàng, nếu
không có một chính sách tỷ giá và một sự sử dụng dự trữ ngoại tệ quốc gia
đúng đắn, phù hợp, một chiến lược công nghiệp hóa hiệu quả, một môi trường
đầu tư cởi mở và trên hết là một ý chí tiết kiệm mạnh mẽ của toàn thể cộng
đồng.
Kinh nghiệm thành công của Singapore chỉ ra rằng đồng ngoại tệ kiếm
được từ xuất khẩu khoáng sản, nguyên liệu thô, nông hải sản phải được dùng
để mua máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp thâm dụng lao động
(labour intensive) để có thể xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp có hàm
lượng lao động lớn.
Những đồng ngoại tệ kiếm được từ việc xuất khẩu các sản phẩm có hàm
lượng lao động lớn lại phải được tiếp tục sử dụng cho việc nhập khẩu máy
móc thiết bị, quy trình công nghệ cao cho những ngành công nghiệp thâm

ra trường quốc tế. Để làm được như vậy, các công ty phải linh hoạt chuyển đổi
và liên tục đem lại giá trị mới cho khách hàng.
Ông Reza Ali nhắc lại báo cáo “Loại bỏ rào cản để SMEs tiếp cận với sự
quốc tế hóa” về ba khó khăn chính mà SMEs phải đối mặt ở thị trường nước
ngoài. Một, khả năng xác định cơ hội kinh doanh. Hai, hạn chế tiếp cận thông
tin thị trường. Ba, thiếu khả năng vươn đến khách hàng tiềm năng ở nước ngoài.
Đương đầu với những khó khăn trên, chính phủ và doanh nghiệp
Singapore đã có các động thái hỗ trợ SMEs về nhiều mặt. Tiêu biểu nhất là việc
=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
12


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

bảo đảm các SMEs tiếp cận vốn vay thông qua hỗ trợ tài chính cho doanh
nghiệp địa phương, chế độ bảo hiểm tiền vay, và chương trình cho vay quy mô
nhỏ. Với các SMEs gặp khó khăn trong việc vay vốn ở khu vực thị trường
thương mại, chính phủ cũng làm việc với ngân hàng để cấp vốn và bảo toàn
nguồn vốn thông qua chương trình cho vay vốn bắc cầu và hỗ trợ tài chính cho
doanh nghiệp địa phương. Bên cạnh đó, chính phủ còn có chương trình cho vay
quy mô nhỏ để cấp vốn hoạt động cho các doanh nghiệp vi mô.
Hơn thế nữa, SPRING Singapore phối hợp với IE Singapore để xúc tiến
phát triển các SMEs của Singapore đặt tại hải ngoại, từ tiếp cận nguồn vốn, phát
triển nội lực đến mở rộng kinh doanh. Singapore có kế hoạch huy động 1,5 tỷ
USD nguồn vốn phát triển bằng cách cho vay vốn trong 10 năm và chính phủ
đóng góp ½ số lượng này.
SPRING Singapore và IE Singapore giúp SMEs tăng cường năng lực
thiết yếu cho phát triển dài hạn như phục vụ định hướng khách hàng, sáng kiến

truyền thống hay thị trường tìm được thông qua các đối tác tin cậy. Một khi
các doanh nhân Singapore quyết định hoạt động kinh doanh tại một thị trường
nào đó, họ luôn tuân thủ các luật lệ và tập quán thương mại tại thị trường đó.
2.1.2.3. Thành công và tăng trưởng nhờ trung thành với những gì mình
biết
Một trong những thành công mà các doanh nhân Singapore học được
và vận dụng thành công từ những tập đoàn, công ty lớn trên thế giới là việc
phát triển thị trường dựa trên những điều kiện và năng lưc thực tế của mình.
Thông thường, các doanh nghiệp Singapore phát triển thị trường mới bằng
cách đem những sản phẩm thành công và có lợi thế cạnh tranh nhất của mình
đem bán ra nước ngoài. Cách thức này nhằm hạn chế rủi ro so với việc cho ra
đời sản phẩm mới, tạo dựng thương hiệu, xây dựng các chính sách phát triển
sản phẩm mới vốn rất tốn kém.
Theo một cuộc điều tra về ý kiến các nhà lãnh đạo doanh nghiệp vừa và
nhỏ Singapore trong việc phát triển kinh doanh ra toàn cầu, có khoảng 60%
doanh nghiệp đã áp dụng chiêu thức này và họ cũng gặt hái được sự thành
công trong việc hạn chế những mạo hiểm. Chỉ có 9% doanh nghiệp vừa và
nhỏ chấp nhận thử sức với việc cho ra đời sản phẩm mới đem đi bán ở những
=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
14


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

thị trường mới, trong khi tỷ lệ trung bình của giới là 15%. Ngay cả các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Mỹ, Canada và Úc cũng thích ứng dụng các chiến lược
truyền thống là sử dụng sản phẩm đã có thế mạnh khi phát triển ra thị trường
tòan cầu và chỉ có khỏang 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ các nước này dám


trong sự phát triển nền kinh tế quốc gia. Sắp tới, Singapore sẽ nỗ lực hỗ trợ để
đưa ngày càng nhiều hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ “ra biển rộng”, hòa
nhập vào sân chơi quốc tế.
2.2. Phát triển tài chính
2.2.1. Xây dựng hệ thống ngân hàng, trở thành trung tâm tài chính của
châu Á
Thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Singapore chọn con đường phát triển khác
hẳn với nhiều nước Đông Nam Á láng giềng, bằng cách triển khai chiến lược
phát triển tài chính hướng ngoại, với mục tiêu biến Singapore trở thành trung
tâm tài chính khu vực.
Trong hơn 30 năm sau, chính phủ Singapore đã triển khai các cải cách
và mở cửa thị trường tài chính đồng thời thực thi nhiều biện pháp khuyến
khích để thu hút các định chế tài chính nước ngoài vào Singapore. Chiến lược
này đã thành công. Số định chế tài chính nước ngoài triển khai vào thị trường
Singapore tăng mạnh trong giai đoạn này: từ dưới 100 tổ chức những năm
1970, con số này tăng lên gần 450 những năm 1990. Chính nhờ sức cạnh tranh
của các ngân hàng nước ngoài này, các ngân hàng nội địa của Singapore phải
nâng cấp, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ và kỹ năng quản lý. Tính đến
tháng 3/2001, Singapore đã có 133 ngân hàng thương mại (8 nội địa và 125
nước ngoài), 11 công ty tài chính, 58 ngân hàng đầu tư, 151 công ty bảo hiểm,
88 công ty môi giới bảo hiểm, 63 văn phòng đại diện, 81 công ty môi giới
chứng khoán, 168 công ty tư vấn đầu tư và 8 công ty môi giới ngoại hối quốc
tế.
Các định chế tài chính của Singapore bao gồm Ủy ban tiền tệ
Singapore, ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại dịch vụ, ngân hàng
tiết kiệm bưu điện, công ty tài chính…Trong đó Ủy ban tiền tệ Singapore do
Bộ tài chính Singapore thành lập từ năm 1971 để giám sát các tổ chức tài
=======================================================
=

tài chính quốc tế tại nước này phát triển với tốc độ vượt bậc.
Như vậy, Singapore là nền kinh tế đầu tiên trong khu vực cho phép các
ngân hàng nước ngoài điều hành các đơn vị tại nước mình (ACUs), và sự thành
=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
17


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

công của thị trường tiền tệ châu Á đã đưa Sing trở thành một quốc gia giàu có
và là trung tâm tài chính thế giới.
So với các nước trong khối ASEAN thì Singapore có thị trường tài
chính phát triển nhất, năm 1975 ở Singapore lãi suất tiền vay và tiền gửi trong
nước đã được tự do hóa. Năm 1978, việc kiểm soát hối đoái cũng đã được nới
lỏng, đem lại việc tự do hóa tài chính đầy đủ…. nhằm tạo điều kiện cho các
ngân hàng Singapore huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước
để phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tiền tệ đã huy động được,
đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Ông Hoàng Đạo Hải, Giám đốc Indochina Infracstructure Management
Vietnam, phát biểu trong hội thảo về chương trình phát triển thị trường tài
chính trên địa bàn Tp.HCM, liệt kê những đột phá mà đảo quốc này đã làm
được, như ưu đãi thuế cho trái phiếu; luật bảo mật thông tin ngân hàng; luật ủy
thác cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn người thừa hưởng tài sản
sau khi họ qua đời (nhằm thu hút khách hàng Trung Đông); người nước ngoài
có thể định cư mãi mãi ở Singapore miễn là họ có tài sản 13 triệu Đô la Mỹ,
với ít nhất 3,1 triệu Đô la nằm tại một định chế tài chính ở đây.
Ở những lĩnh vực cụ thể là những quy định hết sức thông thoáng: nới
lỏng quy định liên quan đến các quỹ mạo hiểm (hedge funds), cho phép họ có

Và chìa khóa thành công của Temasek, hiện đang làm chủ một tích sản
lên đến 110 tỉ USD, chính là do có sự lãnh đạo tốt với sự tiếp sức của một ban
cố vấn quốc tế tên tuổi, trong đó có một phó chủ tịch của tập đoàn dịch vụ tài
chính Merrill Lynch và một chủ tịch sáng lập của một tập đoàn tài chính Mỹ.
Việc thành lập Temasek nhằm phục vụ yêu cầu tách biệt vai trò điều hòa
và đề ra chính sách của chính phủ khỏi vai trò kinh doanh...”. Nguồn vốn của
Temasek được hình thành chủ yếu từ khoản tiết kiệm bắt buộc của người dân
cùng với nguồn ngân sách nhà nước thu được từ thuế. Với số vốn đó, cùng với
sự giúp đỡ của các chuyên gia kinh tế hàng đầu quốc gia và thế giới, Temasek
tập trung đầu tư và kinh doanh vào một số lĩnh vực nhất định nhằm thu lại lợi
nhuận cho quốc gia. Lợi nhuận đó sẽ được chia đều cho những người góp vốn,
chính là những người dân đã phải trích ra một phần thu nhập của họ. Chính
bởi lý do này mà ở Singapore, khoản trợ cấp khi về hưu của người dân là rất
lớn. Khác với ở Việt Nam, với số lương hưu như vậy, người dân hoàn toàn có
thể sống thoải mái với chính đồng lương của mình.

=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
21


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
ĐÔ THỊ VIỆT NAM
-----  ----3.1. Một số điểm tương đồng cơ bản giữa Việt Nam và Singapore
Cả hai quốc gia trên đều phải chịu một quãng thời gian đô hộ tương đối
dài của các nước thực dân và trải qua rất nhiều những cuộc chiến trong suốt
giai đoạn thế chiến thứ hai. Với Singapore, thực dân Anh và sau đó là phát xít

quốc gia.
Vị trí địa lý cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam và
Singapore chắc chắn sẽ có những chính sách tương đồng trong việc phát triển
chiến lược ngoại thương trong khu vực. Thật vậy, hai quốc gia trên đều đã rất
tích cực tham gia vào các vấn đề chung của ASEAN, là những thành viên vô
cùng năng động trong việc đóng góp vào thành công của khối thương mại tự
do AFTA.
Đi theo nền kinh tế thị trường: Cả Việt Nam và Singapore đều nhìn ra
những điểm mạnh mà nền kinh tế thị trường đem lại. Đó là lợi thế về ngoại
thương, phát triển năng lực sản xuất bắt nguồn từ gia tăng cạnh tranh, tự do
chu chuyển vốn và lao động, kích thích đầu tư nước ngoài…
Cùng tham gia nhiều tổ chức kinh tế: Cả Việt Nam và Singapore đều
tham gia tổ chức thương mại quốc tế (WTO) và tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu
Á-Thái Bình Dương (APEC). Đây là những tổ chức kinh tế quan trọng của
khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh quan hệ kinh tế quốc tế của cả
Việt Nam lẫn Singapore.
Công ty kinh doanh vốn nhà nước: Việt Nam và Singapore là một trong
số ít quốc gia trên thế giới đang duy trì công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước (SCIC của Việt Nam, được thành lập năm 2005, còn tập đoàn Temasek
của Singapore thành lập năm 1974). Về cơ bản, hai tập đoàn trên đều sử dụng
hình thức kinh doanh là sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào các hoạt động
kinh tế, xã hội nhằm thu lại lợi nhuận cho quốc gia. Với 1 nguồn vốn tương
đối lớn thu về từ thuế và các khoản tiết kiệm quốc dân, các công ty này sẽ
chính là điểm tựa vững chắc cho việc nâng cao mức sống người dân trong dài
hạn ở cả 2 quốc gia
=======================================================
=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
23


=
 Trần Thị Phượng- Địa lý học K22
24


 Chính sách phát triển kinh tế Singapore vài bài học cho VN 

hoặc đẩy mạnh tín dụng phát triển kinh tế theo “kiểu bong bóng” là nguy cơ
tổn thương của hệ thống ngân hàng.
Xây dựng hệ thống ngân hàng có tiềm lực vững mạnh, nhanh chóng đa
dạng các hình thức huy động vốn, cùng với đẩy mạnh phát triển thị trường tài
chính nhằm khai thông vốn trong nước, đồng thời thu hút tư bản nước ngoài
để đáp ứng vốn và kỹ thuật cho quá trình công nghiệp hóa. Bên cạnh đó,
Chính phủ cần có biện pháp mở cửa đồng bộ cắt giảm thuế quan, chính sách
ưu đãi tín dụng… để nâng cao chất lượng tín dụng.
Khi định chế tài chính trong nước còn yếu kém, nhất là khi hệ thống
ngân hàng chưa đủ khả năng phân phối tín dụng một cách hữu hiệu, việc tự do
hóa thị trường vốn ngắn hạn là rất nguy hiểm. Dòng vốn tư bản ngắn hạn ồ ạt
gây hiện tượng “thừa vốn”, dẫn đến tình trạng lãng phí, hâm nóng thị trường
bất động sản, và sự đảo ngược dòng vốn này gây ra bất ổn trong thị trường tài
chính.
Cần có sự can thiệp kịp thời của Chính phủ đối với hệ thống ngân hàng,
mở rộng tín dụng và thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất đối với những mặt
hàng, ngành công nghiệp ưu tiên hướng đến xuất khẩu, nhằm tạo động lực
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vấn đề hỗ trợ lãi suất cho tín dụng cần phải có
chương trình hành động bước đi thích hợp với những chỉ tiêu cụ thể, với kinh
nghiệm của các nước cần phải có chế độ kiểm soát chặt chẽ các khoản tín
dụng để tránh nguy cơ thất thoát vốn. Tuy nhiên nếu sự can thiệp quá mức
mang tính áp đặt của Chính phủ vào hoạt động ngân hàng sẽ trở nên bị gò bó,
thiếu tính linh động, gây khó khăn cho ngân hàng trong tiến trình hội nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status