CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP lào và mối QUAN hệ VIỆT NAM – lào - Pdf 10

ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP LÀO VÀ
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO
1
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt
1 ASEAN Association of south east
Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
2 FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài
3 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
4 GoL Government of Lao PDR
Chính sách của chính phủ
Lào
5 Lao PDR Lao People’s Democratic
Republic
Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào
6 NEM New economic mechanism Cơ chế kinh tế mới
7 NSEDP
National socioeconomic
development plan
Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội quốc gia
8 SEZs Special economic zones Khu kinh tế đặc biệt
9 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
2
LỜI MỞ ĐẦU
Diện tích: 236,800km
2

hiệu quả thực hiện chính sách trên lĩnh vực tăng trưởng kinh tế cũng như kinh
nghiệm của các quốc gia trên thế giới về tầm quan trọng của chính sách này. Để đạt
được điều này chúng ta phải lưu ý tới các ngành công nghiệp truyền thống và xem
xét cách quản lí, khai thác các tài nguyên hợp lí.
Mục đích nghiên cứu: Tìn hiểu những yếu tốc tác động đến lĩnh vực công nghiệp
Lào trong những giai đoạn hiện nay, mà biểu hiện của sự ảnh hưởng đó chính là
thực trạng của công nghiệp. Đồng thời trình bày những chính sách công nghiệp mà
CHDCND Lào đã thực hiện trong giai đoạn qua, biện pháp khắc phục những mặt
hạn chế, phát huy các ưu điểm, thế mạnh. Đưa ra những định hướng phát triển
công nghiệp Lào trong thời gian tới và khả năng hợp tác Lào – Việt Nam trên lĩnh
vực công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê toán và phướng pháp tổng hợp
và phân tích.
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng và chính sách phát triển công nghiệp Lào trong
giai đoạn hiện nay
Kết cấu đề tài:
Chương I: Một số dặc điểm kinh tế cơ bản ảnh hưởng đến phát triển ngành công
nghiệp Lào.
Chương II: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp, chính sách, giải pháp.
Chương III: Định hướng phát triển ngành công nghiệp, khả năng hợp tác Lào và
Việt Nam trên lĩnh vực công nghiệp.
4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CÔNG NGHIỆP LÀO
1.1. Thuận lợi
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Tài nguyên thiên nhiên
Lào là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản. Nguồn tài nguyên khoáng sản
Lào có gồm 8 nhóm cơ bản: nhóm năng lượng, nhóm kim loại đen, nhóm kim loại
màu, nhóm kim loại quý hiếm, nhóm nguyên liệu hóa chất và phân bón, nhóm

năng to lớn. Dòng sông lớn nhất của Lào là sông Mekong, bắt nguồn từ tỉnh Vân
Nam (Trung Quốc) lớn vào hạng thứ 7 thế giới. Sông Mekong có tiềm năng rất lớn
về vận tải đường thủy, thủy lợi, thủy sản, du lịch và sản xuất.
Ngoài ra Lào còn có các con sông khác như Nặm Ngừm, Nặm Sương, Nặm U,
Nặm Thơn, Nặm Săn, Nặm Nghiệp, Nặm Kađing, Sêbăng phay, Sêđôn đều đổ vào
sông Mekong và có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân
dân, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp, đặc biệt
là tạo tiềm năng to lớn để phát triển thủy điện nhằm phục vụ cho tiến trình CNH-
HĐH, đồng thời tạo nguồn điện năng dồi dào để xuất khẩu sang các nước láng
giềng. Nguồn thủy điện có thể được tạo ra từ tổng lưu lượng của các dòng sông
trên lãnh thổ Lào là rất lớn. Theo tính toán của ủy ban quốc tế sông Mekong, trữ
năng lý thuyết của phần lưu vực các dòng sông thuộc hệ thống sông Mekong có thể
lên tới 400 tỷ kwh, đạt mật độ thủy năng khoảng 1.8 triệu kwh/km
2
.
Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp thủy điện là rất lớn, không chỉ cung
cấp nhu cầu điện trong nước mà còn xuất khẩu nước ngoài.
1.1.1.3. Vị trí địa lí
Lào là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp biển. Lào giáp Trung
Quốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía Nam với
đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới
dài 2069 km, giáp với Myanma ở phía Tây Bắc với đường biên giới dài 236 km;
giáp với Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1835 km.
[1]
Lào là địa bàn thuận lợi làm vai trò trung chuyển giữa các nước có chung biên
giới không chỉ cho việc phát triển thương mại và đầu tư mà tạo cơ hội hợp tác trên
lĩnh vực công nghiệp: Việt Nam và Thái Lan, Trung Quốc có đường biên giới
chung rất dài, có quan hệ lâu đời về thương mại và giao thông vận tải thuận lợi hỗ
trợ cho sự phát triển của Lào đã tạo ra cơ hội thu hút hợp tác đầu tư.
1.1.1.4. Khí hậu

ngày càng lớn, đặc biệt là nhu cầu về các lĩnh vực thiết yếu: lương thực, thực
phẩm, may mặc, điện… và trong đó nhu cầu năng lượng đang tăng rất nhanh.
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU NGUỒN NĂNG LƯỢNG ĐƯỢC SỬ DỤNG
TRONG CÁC LĨNH VỰC NĂM 2010
Nguồn năng lượng sử dụng các lĩnh vực:
Chủ yếu: nhu cầu tiêu dùng của người dân 51%,
tiếp theo là giao thông vận tải chiếm 26%.
7
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU NHU CẦU VỀ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
NĂM 2010
Để cung cấp nguồn năng lượng, CHDCND Lào:
Chủ yếu dung gỗ làm chất đốt chiếm 56%,
tiếp theo 12% là điện và 17% là nhiên liệu.
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN DỰ ĐOÁN NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
NĂNG LƯỢNG (kTOE) TRONG GIAI ĐOẠN 2005-2025
Theo nguồn: NEM, 2011
Nhu cầu sử dung năng lượng về nhiên liệu tăng nhanh nhất, tiếp theo là sinh
khối, điện năng…
1.1.2.2.2. Thị trường tiêu thụ bên ngoài
Điện năng sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu điện năng trong nước mà đa số
nguồn điện năng đó dành cho xuất khẩu. Số lượng các dự án thủy điện lớn tại Lào
được tiến hành ngày càng tăng trong vài thập kỷ gần đây, các quốc gia có nhu cầu
về điện lớn như Việt Nam, Thái Lan: việc mở của nền kinh tế nước Lào từ năm
1986 đã thu hút được sự đầu tư của các nhà đầu tư ở châu Á
8
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN NHU CẦU VỀ ĐIỆN NĂNG CỦA CÁC QUỐC GIA QUA
CÁC NĂM
Với tiềm năng thủy điện và nhu cầu về năng lượng trong nước cũng như các
quốc gia trong khu vực, phát triển công nghiệp thủy điện trở thành ngành chiến
lược của Lào.

Myanmar. Điều này giúp Lào trở thành điểm trung chuyển quan trọng giữa các
nước Đông Nam Á lục địa với Trung Quốc, đồng thời tạo cơ hội nâng cao vị thế
của Lào với tư cách là địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và các
nước láng giềng gần gũi của Lào. Vị thế địa chiến lược của Lào ngày càng trở nên
quan trọng và hấp dẫn. Hơn nữa, Lào là một trong những nước có nguồn tài
nguyên rừng tương đối phong phú, nguồn khoáng sản dồi dào, tiềm năng thủy điện
to lớn, càng có cơ hội để phát triển công nghiệp.
Lào gia nhập WTO (26/10/2012)
Lào tham gia tổ chức WTO đã tác động rất lớn đến chính sách phát triển kinh
tế cũng như chính sách công nghiệp. Cơ hội xuất khẩu của các nước đang phát
triển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ được mở rộng. Các
nước đang phát triển trong đó có Lào đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các mặt
hàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài trong
đó có Lào: xuất khẩu những mặt hàng chủ lực như quần áo, sàn phẩm về gỗ… từ
đó, phát triển công nghiệp may mặc, chế biến gỗ, chế biến
Hiện nay, Lào đang thu hút một nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công
nghiệp chủ lực và tiềm năng của mình, đó là thủy điện. Kể từ khi có Luật đầu tư
nước ngoài đến nay, Lào đã thu hút 765 dự án với tổng số vốn đăng kí là 9.6 tỷ
USD, trong đó số dự án về phát triển thủy điện là 605. Đặc biệt, hội nhập kinh tế,
Lào sẽ học hỏi được kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc thực
hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
1.2. Khó khăn
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
10
Là quốc gia duy nhất không giáp biển nên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong
giao thương đối với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, đặc biệt trong
xu thế hiện nay, hội nhập kinh tế là điều rất quan trọng, thu hút vốn đầu tư là một
trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của đất nước, cũng gây ra nhiều
khó khăn cho đất nước Lào. Phần lớn là đồi núi, có nhiều núi non bao phủ bởi rừng
xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m. Diện tích còn lại là bình

phong phú và đa dạng nhưng chưa khai thác được hết tiềm năng, đồng thời trình độ
kĩ thuật hạn chế, gây khó khăn phát triển các ngành công nghiệp công nghệ nguồn:
11
thiết bị, điện tử, viễn thong… phát triển khoa học công nghệ là vấn đề chiến lược
của quốc gia Lào.
1.2.4. Chính sách phát triển
Sau khi giới thiệu xây dựng kế hoạch kinh tế mới vào năm 1986, nền kinh tế
của CHDCND Lào đã từng bước hội nhập vào sự phát triển kinh tế khu vực và
quốc tế trong quá trình công nghiệp hóa. Cấu trúc sản phẩm quốc dân (GDP) cũng
đã thể hiện sự tiến bộ với công nghiệp hóa gia tăng, đó là kết quả của Chính sách
Chính phủ Lào (GoL) và mà, lần lượt, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển
của cả ngành và khu vực đất nước. Để hỗ trợ công nghiệp hơn nữa, chính phủ của
CHDCND Lào phát triển công nghiệp theo chiến lược hiện đại hóa đất nước, xác
định các lĩnh vực trọng tâm bao gồm thủy điện, khai thác khoáng sản và vật liệu
xây dựng. Chính sách công nghiệp cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển
theo hướng công nghiệp hóa, có thể được chia thành hai giai đoạn chính: NEM
cũng có thể được chia thành một khoảng thời gian chuẩn bị (1986-2000) và thời
gian thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2000-
nay).
Tuy, Lào đã thực hiện các chính sách phát triển nhưng hầu như không đạt
được những kết quả đề ra. Do thiếu cơ chế quản lí chặt chẽ, chưa đưa ra được
những chính sách phù hợp với trình độ quốc gia.
12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN, CHÍNH SÁCH, GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP LÀO
Công nghiệp năng lượng và công nghiệp khai khoáng đã trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của đất nước Lào, đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế.
Tổng giá trị các sản phẩm công nghiệp chiếm 33,1% GDP, trong đó, sản phẩm
công nghiệp chính là đồng, thiếc, thạch cao, gỗ, năng lượng điện, chế biến sản
phẩm nông nghiệp, xây dựng, may mặc, du lịch, ximăng…

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (Đơn vị: %)
Nguồn: Theo WB
2.1.2.3. Tốc độ phát triển ngành công nghiệp
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP GIAI
ĐOẠN 1985-2010 (Đơn vị: %)
Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn hiện nay, tăng liên
tục với tốc độ nhanh, năm 2010 đạt 20%.
2.1.2.4. Những ngành công nghiệp trọng điểm
2.1.2.4.1. Thủy điện
Vào năm 2010 Lào xếp thứ 138 trong tổng 183 quốc gia( Việt Nam xếp thứ
136) về sản lượng điện tạo ra ( số liệu do WorldBank cung cấp). Đó là một bước
tiến lớn cho ngành công nghiệp sản xuất điện của Lào từ xuất phát điểm là một
nước phải nhập khẩu điện. Một mốc quan trọng cho ngành sản xuất điện của Lào
nữa là: Vào tháng tư năm 2010, chính phủ nước này đã cho phép đập thủy điện
Nam Theun 2 bắt đầu hoạt động. Dự án được liên doanh giữa chính phủ lào Công
ty điện lực của Thái Lan và công ty năng lượng của Pháp Électricité de France với
chi phí khoảng 1,3 tỷ đô la Mỹ . Phần chi phí được tài trợ một phần bởi Ngân hàng
phát triển Châu Á và Ngân hàng Thế giới. Sản lượng điện sản xuất ra 95% sẽ được
xuất khẩu sang Thái Lan và 5% đươc tiêu dung trong nước đáp ứng 20% nhu cầu.
Cùng với xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và xung quanh là các nền kinh tế
mới nổi: Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nhu cầu điện dự kiến sẽ tăng rất
nhanh. Với một tiềm năng khoảng trên 23.000 MW tiềm năng thủy điện và Lào trở
thành một nhà cung cấp điện chính cho khu vực Đông Nam Á "nguồn điện của
Đông Nam Á". Hiện nay, chỉ có khoảng 10% tiềm năng của nó đã được sử dụng
(khoảng 2.500 MW). Các kế hoạch Gol yêu cầu tăng sản lượng thủy điện ít nhất là
1/3 tiềm năng của nó vào năm 2020.
15
BIỂU ĐỒ: LƯỢNG ĐIỆN XUẤT NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2001-2009
Nguồn: Theo thống kê và đầu tư
2.1.2.4.2. Công nghiệp khai khoáng

Trong 12/2010, một dự án mở rộng mỏ đồng Sepon được hoàn thành, làm
tăng công suất khai thác đến 80.000 tấn / năm của đồng cathode từ 65.000 tấn/năm.
16
Trong 1/2009, công ty liên doanh SinoAgri. Các công ty liên doanh cũng sở hữu
một giấy phép khảo sát đối với tiền gửi kali trong một khu vực khoảng 237 km ².
Trong năm 2010, tài nguyên khoáng sản SinoAgri hoàn thành việc xây dựng một
nhà máy thí điểm $ 37 triệu USD, trong đó có khả năng sản xuất 100.000 tấn/năm
và được đặt tại đông bắc Sakhon Nakon lưu vực tỉnh Khammouan.
Trong tháng11năm 2010, việc xây dựng nhà máy khai thác khoáng sản kali-clorua
Potash Lào Công ty TNHH Công nghiệp đã hoàn thành.
2.1.2.4.3. Dệt may
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành kinh tế quan trọng tại CHDCND
Lào. Đây là khu vực quan trọng thu hút FDI, như phần lớn các nhà máy may mặc
đầu tư nước ngoài, cho dù vốn nước ngoài hoặc liên doanh (S. Oraboune, 2005).
Hiện nay, có 90 đến 100 nhà máy may mặc tại Lào, 54 trong số đó là thành viên
của Hiệp hội may Lào. Trong số này 54 nhà máy, 26 có vốn đầu tư nước ngoài, 13
công ty liên doanh, và 15 là tinh khiết nhà máy Lào. Các thị trường chính của các
sản phẩm may mặc Lào là Ý, Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Australia, và Nhật Bản.
Ngành công nghiệp dệt may đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của nước
CHDCND Lào. Trong năm 2008, xuất khẩu hàng dệt may chiếm 13,8% tổng giá trị
công nghiệp của đất nước bổ sung, và 3,6% GDP của nước này. Xuất khẩu hàng
may mặc chiếm 23,4% tổng giá trị xuất khẩu, đăng một tốc độ tăng trưởng trung
bình hàng năm là 14% từ 1995 đến 2008 (S. Insisienmay V. Nolintha, 2010).
Chỉ qua 8 năm (từ 2003 đến năm 2011) sản lượng xuất khẩu của ngành liên
tục tăng gấp 3 lần từ 28,120 nghìn tấn đến 71,542 nghìn tấn. Chỉ có giai đoạn
2008- 2009 là có biến động giảm mạnh (giảm từ 81,180 nghìn tấn xuống còn
58.784 nghìn tấn) do ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu .
Ngành dệt may không chỉ tạo ra giá trị lớn mà nó còn là ngành tạo ra nhiều
việc làm và thu hút nhiều lao động tại đây. Vào năm 2011, ngành này thu hút tới
30.000 lao động và mục tiêu của Hiệp hội các ngành may mặc Lào là lượng lao

6 Xây dựng 62 424,807,707 2.54
7 Công nghiệp chế biến gỗ 65 159,769,822 0.96
8 Công nghiệp may mặc 74 67,778,289 0.41
Tổng 1,649 16,691,931,511 100
Nguồn: MPI, 2009
Từ năm 1989 lên đến năm 2008, khoảng US $ 17 tỷ USD giá trị vốn đầu tư
nước ngoài đại diện cho một số 1.600 dự án chảy vào Lào. Gần 60% tổng số vốn
đầu tư nước ngoài (khoảng 47 dự án) đến ngành điện, sự thừa nhận rõ ràng về tiềm
năng của đất nước trong thủy điện. Đến năm 2008, tổng vốn FDI trong lĩnh vực
năng lượng lên tới 9,8 tỷ USD. Các lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và nông nghiệp đã
nhận được khoảng 11% (USD 1,8 tỷ) và 9% (USD 1,6 tỷ) vốn FDI, tương ứng,
trong khi FDI trong Con số này đại diện cho khoảng 7% tổng số vốn đầu tư nước
ngoài (Cục Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2009). Lĩnh vực khai thác khoáng sản
đã tăng dần từ năm 2003, đạt 1,2 tỷ USD trong năm 2008.
18
TỔNG GIÁ FDI ĐẦU TƯ CÔNG NGHIỆP LÀO GIAI ĐOẠN 2007-2012
Đơn vị: triệu USD
Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Nông nghiệp 20 30 10 10 23 20
Dịch vụ 60 56 50 50 80 80
Năng lượng 400 590 500 410 690 910
Sản xuất 88 100 34 61 90 90
Khoáng sản 290 200 180 230 220 200
Tổng 838 976 774 761 1103 1300
Nguồn: Ước tính và dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào
Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, kể từ khi khai thác phát triển
bắt đầu 2003/2004, khu vực khai thác khoáng sản đã có những đóng góp quan
trọng đối với 'Làophát triển kinh tế. Khu vực khai thác khoáng sản có tác động trực
tiếp và gián tiếp của Lào nền kinh tế. Thứ nhất, khai thác mỏ đóng góp vào GDP
nhu cầu và cung cấp phụ tăng cường đầu tư vốn cổ phần. Như tăng dòng FDI sang

lần thứ sáu (2006-2010), CHDCND Lào chuyến sang thực hiện một chương trình
phát triển để có thể đạt được thành công và thậm chí vượt quá mục tiêu kế hoạch
đẫ đề ra (đây là NSEDP đầu tiên mà Lào đạt được các mục tiêu vĩ mô đưa ra).
Tiếp theo thực hiện kế hoạch lần thứ 7 (2010-2015) để đạt mục tiêu phát triển.
Mục tiêu dài hạn cải thiện nền kinh tế Lào từ tình trạng nền kinh tế chậm phát
triển (LDC) đến năm 2020 trở thành nền kinh tế có tiềm năng trong năm lĩnh vực
chính: thuỷ điện, sản xuất nông nghiệp, du lịch, khai thác và sản xuất vật liệu xây
dựng. Để đạt được những điều này, Lào đã xác định là ưu tiên phát triển ngành
công nghiệp. Từ khi thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển nền kinh tế Lào.
Trong thập kỷ qua, các dự án FDI trong công nghiệp thuỷ điện, các hình thức
canh tác-hợp đồng (bao gồm cả hàng may mặc và xe gắn máy và lắp ráp ô tô) đã
tăng đáng kể.Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất được đặt tại các khu vực đô thị với số
lượng lớn nhất tại Viêng Chăn và một vài ở Savannekhet và Pakse, trong khi hầu
hết lực lượng lao động đã di cư từ khu vực nông thôn.
20
Tuy nhiên, sự phát triển của các khu kinh tế đặc biệt (SEZ) đã được đưa ra
nhằm thu hút FDI nhiều hơn cho đất nước. Do đó, để hỗ trợ công nghiệp Lào trong
những trường hợp như vậy, đặc biệt là với một cái nhìn để thực hiện AFTA và theo
thỏa thuận của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AFC) vào năm 2015 và xa hơn nữa,
toàn diện hơn nữa và chính sách công nghiệp toàn diện là cần thiết.
Sau khi giới thiệu xây dựng kế hoạch kinh tế mới vào năm 1986, nền kinh tế
của CHDCND Lào đã từng bước hội nhập vào sự phát triển kinh tế khu vực và
quốc tế trong quá trình công nghiệp hóa. Cấu trúc sản phẩm quốc dân (GDP) cũng
đã thể hiện sự tiến bộ với công nghiệp hóa gia tăng, đó là kết quả của Chính sách
Chính phủ Lào (GoL) và mà, lần lượt, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển
của cả ngành và khu vực đất nước. Để hỗ trợ công nghiệp hơn nữa, chính phủ của
CHDCND Lào phát triển công nghiệp theo chiến lược hiện đại hóa đất nước, xác
định các lĩnh vực trọng tâm bao gồm thủy điện, sản xuất nông nghiệp, du lịch, khai
thác khoáng sản và vật liệu xây dựng.

khoáng sản đến năm 2020 (MEM, 2008). Các mục tiêu chính trong việc phát triển
thứ nguyên khoáng sản 1997
2.2.1. Chính sách phát triển công nghiệp năng lượng
Thúc đẩy phát triển bền vững năng lượng tái tạo như là một phần quan trọng
của đảm bảo cung cấp năng lượng cho phát triển kinh tế và xã hội.
Cung cấp các khuyến khích tài chính cho các nhà đầu tư nhằm mục đích để
sản xuất năng lượng sạch để đáp ứng nhu cầu trong nước, và người xã hội và trách
nhiệm môi trường để tăng cường đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật và quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển năng lượng tái tạo
Biện pháp tài chính, bao gồm:
Chính sách trợ cấp thuế quan mua năng lượng đến năm 2015, đặc biệt là việc
sửa đổi thuế suất, trong điều kiện tham chiếu để phù hợp công nghệ và điều kiện
tài chính. Chính sách cung cấp vốn đầu tư để hỗ trợ đầu tư ban đầu về năng lượng
tái tạo, bao gồm cả các khoản vay lãi suất thấp để đầu tư vào việc sản xuất năng
lượng tái tạo. Cải thiện pháp luật và các quy định liên quan đến năng lượng tái tạo.
Cùng với xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và xung quanh là các nền kinh tế
mới nổi: Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nhu cầu điện dự kiến sẽ tăng rất
nhanh. Với một tiềm năng khoảng trên 23.000 MW tiềm năng thủy điện và Lào trở
thành một nhà cung cấp điện chính cho khu vực Đông Nam Á "nguồn điện của
Đông Nam Á". Hiện nay, chỉ có khoảng 10% tiềm năng của nó đã được sử dụng
(khoảng 2.500 MW). Các kế hoạch Gol yêu cầu tăng sản lượng thủy điện ít nhất là
1/3 tiềm năng của nó vào năm 2020.
Để thực hiện dự án tiềm năng này, chính phủ Lào đã mở cửa ngành thủy điện,
không chỉ doanh nghiệp trong nước mà còn các nhà đầu tư nước ngoài. Gần đây,
hơn 10 quốc gia đã đầu tư vào lĩnh vực thủy điện tại Lào, mà các nhà đầu tư chính
là Thái Lan, chính phủ Lào .Một số dự án đã thu hút sự quan tâm của Pháp, Hàn
Quốc, Nhật Bản, các công ty Trung Quốc và Malaysia.
22
2.2.2. Chính sách phát triển công nghiệp khai khoáng

Đánh giá thực nghiệm đã chỉ ra rằng CHDCND Lào đã dần dần tiến vào mạng
lưới sản xuất khu vực và toàn cầu, đặc biệt là hàng may mặc và các ngành công
nghiệp xe máy. Hầu hết các nhà máy may mặc vẫn còn trong các hình thức cắt-
làm-cắt, (CMT) và tạo thu nhập.Trên thực tế, ngành công nghiệp may mặc cũng
đứng trong hàng đầu mặc dù khu vực này đã góp phần đáng kể vào việc giảm
nghèo thông qua 5 lĩnh vực xuất khẩu của đất nước. Một ngành công nghiệp sản
23
xuất khác có tiềm năng là xe máy, như hiện nay có gần 20 nhà máy lắp ráp xe máy
tại Lào.
2.3. Giải pháp
2.3.1. Phát triển cơ sở hạ tầng
Để phát triển công nghiệp của đất nước, GoL nhấn mạnh phát triển cơ sở hạ
tầng như là một nhu cầu quan trọng. Trong NSEDP thứ 7 (2011-2015), đầu tư vào
cơ sở hạ tầng đã được xác định là quan trọng cho sự phát triển. GoL đã thiết lập
mục tiêu ngân sách phân bổ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng khoảng 35%
( xã hội: 35%, kinh tế 30%). Kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho năm năm tiếp
theo đã được xác nhận của Bộ Giao thông vận tải (MPWT) bao gồm xây dựng
đường, quy hoạch và phát triển thành phố, và các dự án liên quan đến giao thông
như sân bay, hậu cần
Ở cấp quốc gia, kế hoạch chiến lược đã được đưa ra đầu những năm 2000. Để
thực hiện chiến lược này, các dự án xây dựng quốc lộ đã được cung cấp một lộ
trình hướng đến năm 2020. Trên lộ trình cốt lõi cho phát triển đường quốc gia, hai
đường cao tốc song song đã được công nhận là có tầm quan trọng đối với đất nước,
đặc biệt là sự phát triển của một tuyến đường mới song song cùng với quốc lộ 13.
Đường giao thông kết nối với các nước láng giềng khác cũng rất quan trọng.
Bản đồ: Đường bộ kết nối với các nước
láng giềng "đất được liên kết"
Kết hợp với mạng lưới đường bộ, một kế
hoạch xây dựng đường sắt cũng đã được xác
định trong Đề án tuyến đường sắt

chuẩn chất lượng. Nó sẽ ngày càng cần thiết Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để
thích ứng với cơ cấu công nghiệp, và cơ chế, sản xuất và tiếp thị để có thể tham gia
vào thương mại quốc tế chính thống và đầu tư, và quốc gia nên cố gắng sự khác
biệt với các nước láng giềng ' sản xuất giá trị. Điều này có nghĩa là thị trường thích
hợp phải được được xác định phù hợp với bốn lĩnh vực tiềm năng: hàng may mặc,
du lịch, thủ công mỹ nghệ, và khu vực chế biến hàng nông sản. Điều quan trọng
cần nhấn mạnh rằng thương mại và công nghiệp chính sách không phải là yếu tố
duy nhất tạo ra khó khan hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho tính cạnh tranh của đã
nói ở trên các lĩnh vực, gắn kết chính sách và mối liên kết giữa ngành công nghiệp,
thương mại và các lĩnh vực khác cũng đóng một vai trò.
Để tăng quốc tế khả năng cạnh tranh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã
tăng lao động của mình năng suất và phát triển năng lực địa phương, bao gồm cả
các khoản đầu tư vào các tổ chức kỹ thuật. Ngoài ra, công nghệ, nâng cấp và đổi
mới là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất. Ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm: công nghiệp tập trung sản xuất bia, nước giải khát, đường, trà, cà phê, trái
cây và rau quả. Vấn đề bao gồm cung cấp bên khó khăn để chế biến thực phẩm;
thiếu nguyên liệu sản xuất tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, giới hạn truy cập
thị trường thông tin, tín dụng chính thức, kỹ năng và giáo dục; thiếu ngành công
nghiệp phụ trợ; không đầy đủ cơ sở hạ tầng, năng lực và chất lượng tiêu chuẩn.
25

Trích đoạn Hợp tác Tam giác phát triển CL Biện pháp khắc phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status