DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT Họ tên Mã sinh viên Chữ ký
1 Ngô Thị Thanh Loan CQ527233
2 Nguyễn Quỳnh Mai CQ522253
3 Nguyễn Thị Ngọc Mai CQ522259
4 Cao Hồng Minh CQ522302
5 Nguyễn Công Nam CQ527256
6 Trần Thị Hằng Nga CQ522446
7 Phan Khánh Ngân CQ522481
8 Nguyễn Thị Bích Ngọc CQ522553
9 Phạm Hồng Ngọc CQ522567
10 Ngô Thái Minh Ngọc CQ522531
Phần 1: Tổng quan về quản lí nhà nước đối với vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài
1. Một số vấn đề cơ bản về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
1.1/ Khái niệm về FDI:
FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước ngoài góp một lượng vốn đủ lớn để
thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhờ đó cho phép họ trực tiếp tham gia điều
hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, cùng với các đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ
rủi ro và thu lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó.
• Theo tổ chức thương mại thế giới: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi
một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước
khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý
là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường
hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh
doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựơc gọi là "công ty
mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
• Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2000) quy định: FDI
là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản
nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo pháp luật
1.2/ Đặc điểm của FDI:
nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân. Và ở Việt Nam, hình
thức này chỉ chiếm trên 3% số dự án và khoảng 9% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm
2005 chỉ có 181 dự án có hiệu lực với 4,5tỷ USD vốn đầu tư).
Doanh nghiệp liên doanh:
Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture interprise): là loại hình doanh nghiệp
do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với các nước tiếp nhận đầu tư, mời các
nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại các cuộc hội thảo nhằm xây dựng hình ảnh
tốt về sự quan tâm của Chính phủ đối với ĐTNN.
- Phối hợp triển khai Đề án kết nối kinh tế Việt Nam - Singapore nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh thu hút ĐTNN.
- Nâng cấp trang thông tin website về ĐTNN. Biên soạn lại các tài liệu giới
thiệu về ĐTNN (guidebook, in tờ gấp giới thiệu về cơ quan quản lý đầu tư, cập nhật
các thông tin về chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTNN).
- Nghiên cứu các địa bàn đầu tư tiềm năng ở nước ngoài để hướng dẫn hoạt
động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả.
1.4/ Sự cần thiết của FDI trong phát triển kinh tế xã hội:
Đối với bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để phát
triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ
nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những
nước đang phát triển như Việt Nam( có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần
có một số vốn lớn để phát triển kinh tế).Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày
càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế,
trên cả giác độ vĩ mô và vi mô. Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là
3 khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô, FDI
có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn
đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Đầu tư
nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng
tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực
và thế giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Vai trò quản lý nhà nước đối với
FDI được thể hiện thông qua vai trò của nhà nước trong việc hình thành phát triển và
hoàn thiện môi trường đầu tư cho sự vận động có hiệu quả FDI.
2.2/ Chức năng về quản lí nhà nước với FDI:
2.2.1/ Dự báo:
Chức năng dự báo được thể hiện trên cơ sở các thông tin chính xác và các kết luận
khoa học. Dự báo là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và thực hiện công tác
quản lý nhà nước đối với các dự án FDI và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Có thể nói nếu thiếu chức năng dự báo, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI
sẽ không mang đầy đủ tính chất của một hoạt động quản lý khoa học cũng nhu không thể
thực hiện có hiệu quả các mục tiêu quản lý. Hoạt động dự báo bao gồm dự báo tình hình
thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động, thị trường vốn trong và ngoài nước, xu hướng
phát triển, tình hình cạnh tranh trong khu vực và thế giới, chính sách thương mại của các
chính phủ … Để tiến hành tốt chức năng dự báo cần sử dụng các công cụ dự báo khác
nhau và nên tiến hành dự báo từ những nguồn thông tin khác nhau.
2.2.2/ Định hướng:
Xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế mà chính phủ các nước đề ra phương
hướng, nhiệm vụ, kế hoạch từng thời kì. Qua đó xây dựng các phương án mục tiêu,
chương trình hành động, kế hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế và tiến hành quy
hoạch thu hút nguồn vốn, nguồn lực cho sản xuất. Trong đó, hoạt động định hướng
FDI: cần được cụ thể hóa bằng danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư, xác định
lĩnh vực ưu tiên, địa điểm ưu tiên FDI. Nhà nước sử dụng các công cụ kinh tế để
khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo định hướng của mình.
2.2.3/ Bảo hộ và hỗ trợ:
Bảo hộ là việc nhà nước bảo vệ quyền lợi chính đáng của dn nước ngoài, Hỗ trợ là
việc nhà nước hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường vốn, thị trường lao
động cho ndt nước ngoài trong quá trình chuyển giao công nghệ.
2.2.4/ Tổ chức và điều hành:
Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy quản lý
án đầu tư, lập hồ sơ dự án, đàm phán, kí kết hợp đồng, thẩm định và cấp giấy
phép.
• Quản lí các dự án đầu tư sau khi cấp giấy phép
• Điều chỉnh, xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình hoạt động, giải quyết
những ách tắc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
• Kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ theo pháp luật của các cấp các, các nghành có
liên quan đến hoạt động đầu tư, kiểm tra kiểm soát và xử lý những vi phạm của
các doanh nghiệp trong việc thực hiện theo qui định của nhà nước về giấy phép
đầu tư, các cam kết của các nhà đầu tư.
• Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình hợp tác đầu tư từ đội ngũ
cán bộ làm công tác quản lý đầu tư ở các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư đến
đội ngũ các nhà quản lý kinh tế tham gia trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài cũng như đội ngũ lao động kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh của khu vực này.
Phần 2: Quản lí vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ
một số nước điển hình
Trong bài nghiên cứu này nhóm đã chọn ra 4 nước thành công điển hình trong quản lí
FDI: Đức, Trung quốc, Singapore, Australia.
A – Quản lí FDI tại Đức
Đức là một nước cộng hòa đại nghị liên bang bao gồm 16 bang. Thủ đô và thành phố lớn
nhất là Berlin. Đức là thành viên của Liên Hiệp quốc, NATO, G8, G20, OECD và WTO.
Nước Đức là một cường quốc với nền kinh tế có GDP danh nghĩa đứng thứ tư và GDP
sức mua tương đương đứng thứ năm trên thế giới. Đức là nước viện trợ phát triển hằng
năm nhiều thứ nhì và ngân sách quốc phòng đứng thứ sáu trên thế giới. Quốc gia này có
một mức sống cao và hệ thống an sinh xã hội toàn diện. Nước Đức giữ vị trí chính yếu
trong quan hệ ở châu Âu cũng như có nhiều liên kết chặt chẽ trên thế giới. Nước Đức
cũng được biết đến là dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
I. Tổng quan về nền kinh tế:
Đức hiện nay là một siêu cường kinh tế với các vị trí lãnh đạo trong nhiều ngành công
nghiệp. Đức là nền kinh tế hang đầu châu Âu và thứ 4 thế giới (2010) và thứ 5 (2011).
Đầu tư từ các nước ngoài châu Âu liên tục tăng. Bắc Mỹ chiếm 10% trong khi châu Á
chiếm 5% trong tổng FDI. Đặc biệt là các nước châu Á đang tăng cường đầu tư FDI vào
Đức trong các năm gần đây. Đức đang là nước tiếp nhận những dự án mới có vốn FDI
của Trung Quốc lớn nhất thế giới.
Theo khảo sát triển vọng đầu tư thế giới từ 2012-2014 của UNCTAD, Đức là điểm
đến kinh doanh hấp dẫn nhất châu Âu. 100 công ty xuyên quốc gia xếp hạng Đức đứng
đầu trong EU-15 và đứng thứ 3 toàn thế giới cho triển vọng đầu tư 2012 – 2014.
Một cuộc nghiên cứu được thực hiện bởi Văn phòng thương mại Mỹ đã làm nổi bật
những khía cạnh tích cực của môi trường kinh doanh của Đức. Khi chọn để đầu tư các
nguồn vốn trung hạn vào châu Âu, 73% các công ty Mỹ tham gia cuộc nghiên cứu này đã
chọn Đức là sự lựa chọn hàng đầu của mình.
Source: American Chamber of Commerce (2011)
2. Các lĩnh vực tiếp nhận FDI chủ yếu:
Từ năm 2007 – 2011, thị trường FDI của Đức đã có 3.535 dự án đầu tư bởi khoảng
3.000 doanh nghiệp nước ngoài. Với 834 dự án về các ngành chưa được khai thác
(Greenfield projects), năm 2011 chứng kiến 1 năm thành công khi Đức xếp hạng 5 thế
giới về thu hút đầu tư FDI.
Những nước quan trọng nhất về nguồn vốn cho những dự án đầu tư mới là Mỹ với
24% tất cả các dự án đầu tư, Thụy Điển 8% và Anh 8%.
- Ngành công nghệ thông tin ICT và công nghiệp phần mềm, dịch vụ kinh doanh và
tài chính là những lĩnh vực đang dẫn đầu thu hút các dự án mới.
- Ngành sản xuất ô tô, máy móc thiết bị công nghiệp, hàng tiêu dùng và công nghiệp
hóa chất cũng là lĩnh vực đang thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài.
- Hầu hết các dự án mới là về dịch vụ sales, marketing, dịch vụ hỗ trợ văn phòng.
- 14% dự án đầu tư là địa điểm đặt nơi sản xuất, 1 hoạt động kinh doanh rất quan
trọng của Đức.
class="bi x11 ye1 w4 h9"
3. Các đối tác chính của Đức:
Đức sản xuất hàng hóa như hóa chất, ô tô, máy móc thiết bị và các ngành công nghiệp
cho toàn thế giới với nhu cầu rất cao. Đối tác thương mại chính của Đức bao gồm các
hàng lớn và ổn định cho các nhà đầu tư. Việc Đức hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng
cho phép các công ty đạt được, chia sẻ kiến thức, các sản phẩm và người lao động trong
một mạng lưới toàn cầu.
Đức là một thị trường mở và nồng nhiệt chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó
được thể hiện bằng việc 22.000 doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập doanh nghiệp ở
Đức và bây giờ sử dụng hơn 2,7 triệu người lao động. Thị trường Đức mở cửa cho đầu tư
kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực. Không còn có bất kỳ ngành công nghiệp nào bị nhà
nước kiểm soát. Đức đang nhận được sự quan tâm ngày càng tăng từ các công ty cổ phần
tư nhân và các quỹ đầu tư do các công ty của nó rất hấp dẫn và điều kiện đầu tư thuận lợi.
Nền kinh tế Đức được đặc trưng bởi các công ty tư nhân nhỏ và vừa. 85% các doanh
nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này làm cho ngành công nghiệp Đức rất
linh hoạt, phong phú và cạnh tranh. Nhiều người trong số các công ty có chuyên môn cao
và là những nhà lãnh đạo thị trường thế giới trong lĩnh vực của họ, vì vậy được gọi là
"nhà vô địch ẩn danh ".
Khung pháp lý về thuế:
Đức là một nước cộng hòa liên bang và thuế như vậy được thu thập bởi Liên bang và
các thành phố. Có một số lượng lớn các khoản thuế, cả trực tiếp và gián tiếp, nhưng đối
với hầu hết người dân, VAT - thuế thu nhập là đáng chú ý nhất.
+ Thuế thu nhập cho người Đức và người không cư trú:
Người Đức thuộc diện chịu thuế thu nhập đầy đủ. Tất cả và thu nhập mà họ có, cả hai thu
được trên đất Đức và ở nước ngoài, có thể bị đánh thuế. Người không cư trú chỉ phải nộp
thuế thu nhập trong một số trường hợp nhất định, chủ yếu khi họ kiếm tiền từ một công ty
thường trú tại Đức hoặc tham gia vào các giao dịch kinh doanh có quan hệ gần gũi với
chính đất nước, chẳng hạn như bất động sản.
+ Thuế Doanh nghiệp:
Thuế doanh nghiệp chủ yếu là liên quan cho các doanh nghiệp cũng như các hiệp hội, ví
dụ như hợp tác xã và hiệp hội. Quan hệ đối tác và các doanh nghiệp tư nhân không cần
phải trả tiền thuế doanh nghiệp. Trong hầu hết các trường hợp, thu nhập bởi các loại của
các công ty sẽ được quy cho các đối tác cụ thể và đánh thuế như một phần của tiêu chuẩn
thuế thu nhập.
thoảng, lợi ích được cấp như là một sự kết hợp của một cấp đầu tư và các khoản vay lãi
suất thấp, tùy thuộc vào địa bàn đầu tư và kích thước của công ty đầu tư.
_Thành lập Cục Thương mại và Đầu tư Đức (GTAI):
Cục Thương mại và Đầu tư Đức là cơ quan phát triển kinh tế của nước Cộng hòa
Liên bang Đức vào tháng 1 năm 2009. Bộ Đầu tư và thương mại Đức đã dược hình thành
sau sự sát nhập giữa Phòng Thương mại nước ngoài Đức và Phòng Đầu tư vào Đức.
Nhiệm vụ của nó là thúc đẩy Đức như 1 điểm đến của đầu tư công nghiệp và công nghệ
và xác minh các nhà đầu tư vào thị trường Đức. Tổ chức này khuyên các công ty nước
ngoài mở rộng hoạt động kinh doanh ở Đức và cung cấp dữ liệu toàn diện và định hướng
cũng như thông tin về các dự án đầu tư và phát triển và luật pháp, phong tục.
Kể từ những năm 1950, Đức có chế độ đầu tư rất cởi mở và không hề có bất cứ rào
cản nào đối với IFDI. Như một vài nước đã phát triển, sự tăng lên của SWFs trong những
năm gần đây gây ra tranh luận trong công chúng đẫn đến luật thắt chặt đầu tư ở Đức.
Quỹ đầu tư quốc gia là khái niệm dịch từ cụm từ tiếng Anh sovereign wealth
funds (SWF). Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính, hoạt động đầu tư của các SWF bắt
đầu bị dòm ngó. Lợi dụng những khó khăn tài chính của các công ty trước khủng hoảng,
các SWF gia tăng việc mua lại tài sản nước ngoài, khiến nhiều người lo ngại các chính
phủ sẽ dùng SWF như những cánh tay nối dài để thâm nhập nền kinh tế nước ngoài,
trong khi một số lại tin rằng SWF chính là các cứu tinh.
Vào tháng 4 năm 2009, Chính phủ Đưc sửa đổi Luật thương mại và thanh toán với
nước ngoài. Theo luật này, Bộ trưởng Kinh tế và Công nghệ có thể xem xét dự án thâu
tóm 1 công ty Đức bởi 1 nước không thuộc Liên minh châu Âu hoặc người mua không
thuộc khối tự do thương mại châu Âu và ngăn cản hoặc cấm 1 giao dịch nếu nó đe dọa
đến an ninh quốc gia hoặc trật tự xã hội.
Theo Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Công nghệ, vào tháng 10/2010, 34 công ty nước ngoài
đã nộp đơn lấy giấy cấp phép không bị phản đối kể từ khi luật mới có hiệu lực từ tháng 4
năm 2009. Tất cả các công ty nhận được giấy này trong vòng 2 tuần. Từ tháng 4 năm
2009 đến tháng 5 năm 2010, không có sự phê duyệt nào bởi Chính phủ. Mặc dù với
những dấu hiệu khá tích cực với bộ luật này cho đến nay, luật đầu tư giới hạn hơn có thể
gửi những dấu hiệu sai đến các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng. Vì vậy điều này bị chỉ
hiện đại. FDI là một kênh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cần chủ động
phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam theo hướng chuyên môn hoá, tập trung đào tạo
nguồn nhân lực có kỹ thuật, tay nghề và trình độ quản lý tốt để chủ động hơn, sẵn sàng
nắm bắt và tiếp nhận công nghệ ở trình độ cao. Một ví dụ là, Tập đoàn IBM dự định sẽ
tuyển 250 chuyên gia công nghệ thông tin vào làm việc tại Trung tâm Dịch vụ toàn cầu
của tập đoàn này tại Việt Nam, và Trung tâm này có thể tiếp nhận từ 3.000 đến 5.000 lao
động Việt Nam có trình độ cao về công nghệ thông tin vào làm việc. Tuỳ thuộc vào tốc
độ phát triển, tập đoàn này tuyên bố có thể tiếp nhận 20.000 lao động có trình độ nếu Việt
Nam đáp ứng đủ
5
. Tuy nhiên thực tế hiện nay, Việt Nam chưa đáp ứng đủ số lượng lao
động có trình độ cao theo yêu cầu của khu vực FDI nói riêng và nhu cầu của xã hội nói
chung.
Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng bằng những đóng góp cụ thể vào tăng trưởng,
tạo công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy hội nhập kinh
tế quốc tế đã chứng minh vai trò quan trọng của FDI trong nền kinh tế của Việt Nam. Tuy
nhiên vai trò của FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả và góp phần vào sự phát triển bền
vững khi nó được lựa chọn và khuyến khích vào những ngành, những khu vực thật sự cần
thiết cho nền kinh tế để đảm bảo tính bền vững cho phát triển lâu dài và phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam
Giải pháp về thuế:
Chính sách và pháp luật thuế giai đoạn 2006-2010 để đáp ứng được quá trình hội
nhập và mở cửa thị trường. Chính sách pháp luật thuế hiện hành được sửa đổi, bổ sung
theo hướng giảm mức điều tiết, nhưng mở rộng đối tượng chịu thuế nên hầu hết các
sắc thuế đã thực hiện tốt chức năng điều tiết thu nhập của các doanh nghiệp và dân
cư, đã tiến gần đến mục tiêu đảm bảo nghĩa vụ thuế công bằng, bình đẳng hơn giữa các
thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, giữa người
trong nước và người nước ngoài; thực hiện đúng các cam kết hợp tác, hội nhập kinh tế
quốc tế và lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo CEPT/AFTA, EU, Hoa Kỳ và các tổ
chức quốc tế khác, đang góp phần
trương “ra sức nâng cao mức độ mở cửa với bên ngoài”, “tích cực lợi dụng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả”… cùng với môi trường chính trị tương đối ổn
định đều là các nhân tố quan trọng “ghi điểm” đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế
cho thấy, nhờ có chính sách mở cửa hợp lý nên việc thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Trung Quốc rât hiệu quả.
II/ Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI:
1. Cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện các quy định pháp luật đối với các nhà
đầu tư nước ngoài.
• Giai đoạn đầu khi cải cách mở cửa, Trung Quốc đã ban hành Luật doanh nghiệp
liên doanh (1979) nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động đầu tư nước
ngoài và ban hành Quy định khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 1986. Để tiếp
tục cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt là các ngành định hướng xuất khẩu
và các ngành công nghệ mới, công nghệ cao, Trung Quốc đã sửa đổi Quy định
hướng dẫn các dự án đầu tư nước ngoài (ban hành năm 1995) vào các năm 1997,
2002 và 2005.
• Cùng với việc ban hành các Luật, Trung Quốc cũng đề ra một số quy định pháp
luật nhằm khuyến khích và tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài như: bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp có thương nhân nước ngoài đầu tư,
nghiêm khắc xử lý việc thu phí bừa bãi, phân bổ không hợp lý, bảo vệ tính nghiêm
túc của pháp luật, tăng cường lòng tin của các thương nhân nước ngoài đến Trung
Quốc đầu tư.
• Để hạn chế việc chồng chéo của hệ thống luật pháp, Trung Quốc quy định rõ các
công ty có thương nhân nước ngoài đầu tư phải hoạt động dựa trên cơ sở “Luật
công ty”, nhưng trong trường hợp đặc biệt có mâu thuẫn với Luật Đầu tư nước
ngoài thì phải tuân theo “Luật đầu tư nước ngoài”.
• Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc cũng tiến hành bổ sung và hoàn thiện: “Luật
chống lại cạnh tranh không chính thống”, “Luật chống lại lũng đoạn” và những
luật căn bản của kinh tế thị trường, tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các
doanh nghiệp nước ngoài.
2. Chính sách ưu đãi thuế:
trực tiếp nước ngoài thì chỉ 2 năm sau (1993) Trung Quốc đã đứng thứ 2 trên thế giới
(sau Mỹ) và đứng đầu các nước đang phát triển về lĩnh vực này. Năm 1993 vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đăng kí vào Trung Quốc là 111,436 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện
là 33, 767 tỷ USD. Đây là một kỷ lục chưa từng có trên thế giới. Phương thức "lợi dụng
vốn ngoại" của Trung Quốc trong giai đoạn này là cùng góp vốn với công ty nước ngoài,
khuyến khích doanh nghiệp FDI nghiên cứu và thực nghiệm tại Trung Quốc. Từ năm
1995, FDI của Trung Quốc tập trung vào nhóm ngành công nghiệp, xây dựng (chiếm
khoảng 70%), trong đó ngành chế tạo chiếm tỷ trọng lớn…Nếu lượng vốn đầu tư trực
tiếp thực hiện ở Trung Quốc tính đến năm 1992 đạt mức 50,9 tỷ USD thì đến năm 1998
đã lên tới 259,858 tỷ USD. Như vây, trong thời kỳ 20 năm (1979-1998) tính bình quân ở
Trung Quốc mỗi năm có tới gần 13 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được thực
hiện (bằng 11,8 lần vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện bình quân trong thời kì
1988-1999 tại Việt Nam).
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào cuối năm 2001, chính
sách thu hút FDI của Trung Quốc có sự điều chỉnh phù hợp với các quy định của WTO
với việc từng bước mở cửa thu hút đầu tư FDI vào các ngành dịch vụ, bất động sản, tiền
tệ… Kể từ khi bắt đầu tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ năm 2001, vốn
FDI chảy vào Trung Quốc cũng bắt đầu gia tăng vào năm đó. Người đứng đầu Văn
phòng Thống Kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) cho biết, đầu tư nước ngoài vào Trung
Quốc đã tăng 9,5% bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2001 – 2010.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tổng cộng đạt 653,14 tỷ USD trong thập
kỷ qua. Năm 2010, đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, đạt
105,7 tỷ USD, tăng 125% so với năm 2001. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
đã gây tác động tiêu cực đến đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Để khắc phục ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng, chính quyền Trung Quốc đã quyết định sửa đổi mô hình phát
triển kinh tế bằng cách cắt giảm nhập khẩu và chú tâm vào nhu cầu cũng như các nguồn
đầu tư trong nước.
Bắc Kinh có kế hoạch thu hút cỡ 120 tỉ USD vốn FDI mỗi năm trong giai đoạn 2012-
2015 nhưng với những gì đang diễn ra, mục tiêu này khó có thể đạt được. Trung Quốc đã
thu hút được 111,7 tỉ USD vốn FDI trong năm 2012 và kém mức 116 tỉ USD của năm
hoạt động sản xuất tại Trung Quốc và chuyển đi nơi khác. Đơn cử, công ty sản xuất đồ
thể thao Adidas vừa qua đã đóng cửa cơ sở sản xuất của mình tại Trung Quốc.
Theo dự báo từ Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc, tổng lượng vốn
FDI đổ vào thị trường đông dân nhất thế giới từ năm 2007 đến nay lên tới khoảng 625 tỷ
USD. Trong 10 tháng đầu năm, lượng vốn FDI vào Trung Quốc đã giảm gần 3,5% so với
cùng kỳ năm trước. Dù vậy, khi đối sánh, những quốc gia kỳ vọng sẽ nhận được đầu tư
lớn khi các nhà sản xuất rời bỏ thị trường Trung Quốc như Việt Nam, Bangladesh,
Indonesia và Thái Lan, chỉ nhận được tổng cộng hơn 140 tỷ USD trong cùng khoảng thời
gian, kém hơn rất nhiều so với Trung Quốc.
IV/ Các đối tác đầu tư FDI lớn của Trung Quốc:
Kể từ khi cải cách và mở cửa vào năm 1978, Chính phủ Trung Quốc đã thu hút được
một lượng lớn FDI từ hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó các quốc gia khu vực
châu Á là nguồn đầu tư chính. Đặc biệt Hồng Kông đã trở thành nguồn cung cấp dòng
vốn FDI chính cho Trung Quốc. FDI từ Hồng Kông , Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và MaCao đã đóng góp gần 70% tổng số vốn
đầu tư nước ngoài. Ngoài Châu Á thì Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và một số quốc gia
khác trên thế giới cũng đầu tư vào Trung Quốc trên diện rộng. Nhiều tập đoàn đa quốc
gia Châu Âu và Châu Mỹ đã thiết lập doanh nghiệp ở Trung Quốc nhằm mục đích sản
xuất hàng hóa phục vụ cho thị trường nội địa Trung Quốc. Đã có 400 trong số 500 tập
đoàn lớn nhất thế giới đã có mặt ở Trung Quốc, nhất là trong các lĩnh vự chế tác và chế
tạo máy, ô tô, điện tử, viễn thông, hóa dầu…Và điều này thì Việt Nam chưa làm được,
các đối tác lớn của Việt Nam vẫn chủ yếu là các nước châu Á. Trong vài năm tới, Việt
Nam cũng khó có thể đạt được những thành tựu trên như Trung Quốc bởi Trung Quốc là
một thị trường lớn, có tốc độ tăng trưởng cao. Hơn nữa khi Trung Quốc đã trở thành
thành viên chính thức của WTO thì càng mở ra những cơ hội đầu lớn cho các nhà đầu tư
trên toàn thế giới.
Hình 1: Top Foreign Investors
A – Number of projects B – Actual FDI, US$ billion
Source: Statistic data of the Ministry of Commerce, P.R.China