Tác động của M&A xuyên quốc gia & bài học cho VIỆT NAM - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, hội nhập là xu hướng tất yếu
khách quan. Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật ấy, chúng ta đang từng
bước phát triển. Đại hội IX đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 10 năm
2001- 2010 nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt
đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nguồn lực con người; năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng; tiềm
lực kinh tế, an ninh quốc phòng được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao. Như chúng ta đã biết vào ngày 07/11/2006 Việt
Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới
WTO. Điều này thể hiện một nỗ lực rất lớn của chúng ta trong việc chứng minh
khả năng phát triển kinh tế của mình với thế giới và cũng mở ra một hướng mới
cho kinh tế nước nhà. Trong một môi trường cạnh tranh kinh tế toàn cầu khốc
liệt như hiện nay, Việt Nam không chỉ muốn tồn tại mà còn muốn đứng vững và
phát triển. Hoạt động đầu tư là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển nề
kinh tế nước ta.
Ở đề án này tôi xin tập trung phân tích một hình thức của đầu tư trực
tiếp nước ngoài là hoạt động mua lại và sáp nhập (M&As). Đây là một hình thức
chúng ta cần tìm hiểu thật kĩ bởi trên thế giới hoạt động M&As đang diễn ra rất
mạnh mẽ. Thêm nữa khi các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành cổ phần hóa thì
M&As không còn trở nên xa lạ với chúng ta nữa. Trong thời gian tới chắc chắn
sẽ có nhiều doanh nghiệp của nước ta thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thực
hiện việc mua lại và sáp nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi mà tôi muốn hướng tới ở đây là hoạt động M&As
trên thế giới và Việt Nam
Kết cấu đề tài:
Bài tiểu luận của tôi gồm có những phần chính sau đây:

hoặc của hai công ty nước ngoài. Còn nếu xét M&A như một hình thức đầu tư
nước ngoài thì ngưới ta thường dùng cụm Cross border M&A chỉ sự sáp nhập và
mua lại giữa hai công ty trong đó nhất quyết phải có 1 bên là công ty nước
ngoài .
Phiên họp ủy viên của Ủy ban Thương Mại & Phát Triển quyết định vào
ngày 12 tháng 5 năm 2000 triệu tập một cuộc họp các chuyên gia ở Geneva về
vấn đề “Mua lại&sáp nhập: Những chính sách nhằm mục đích tối đa hóa những
ảnh hưởng tích cực và tối thiểu hóa những ảnh hưởng tiêu cực của đầu tư quốc
tế”. Cuộc họp này là một phần trong những nỗ lực của UNCTAD để giúp cải
Trang 3
thiện sự hiểu biết về những vấn đề chủ chốt trong những lĩnh vực của đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI), và những ảnh hưởng của FDI đến sự phát triển và những
chọn lựa chính sách, đặc biệt khi họ liên kết với những nước đang phát triển &
những nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, và để củng cố những khả
năng của các quốc gia đưa ra và thực hiện các chính sách, những biện pháp hành
động và các chương trình.
Hầu hết các nước tìm mọi cách để thu hút FDI, đặc biệt là khi FDI tồn tại
dưới dạng đầu tư trực tiếp vào nhà xưởng máy móc, bởi vì những nguồn đầu tư
như vậy có thể đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Như là một phần hệ quả trong
những nỗ lực nhằm thu hút FDI, mua lại và sáp nhập (M&As) trở nên phổ biến
hơn trước đây như là một cách thức thâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia
(TNCs) vào các nước đang phát triển cũng như các nền kinh tế đang trong giai
đoạn chuyển đổi. Tuy nhiên, có một câu hỏi nảy sinh liệu rằng M&As, trái với
đầu tư mới có thể có vai trò trong việc đóng góp vào quá trình phát triển hay
không. M&As được xem là khác với đầu tư mới, chúng không thêm vào khả
năng sản xuất quốc gia mà chỉ đơn thuần đại diện cho 1 sự chuyển quyền sở hữu
từ nội địa ra nước ngoài. Thêm nữa, M&As đôi khi còn được xem như là đã lấy
đi những tài sản quốc gia đáng giá của nước nhận đầu tư tạo ra bởi tiết kiệm
trong nước, nỗ lực về lao động và thầu khoán, và như là đã có được tiềm lực để
tạo ra một loạt vấn đề, ví dụ như sự tập trung thị trường và lạm dụng quyền lực

đầu tư, quốc gia được nhận vốn đầu tư được gọi là nước nhận đầu tư. Trong
trường hợp sáp nhập, văn phòng chính của công ty mới có thể được đặt tại cả 2
nước. Mua lại có 3 hình thức:
- Thiểu số (tập đoàn nước ngoài giữ từ 10 đến 49% số cổ phiếu của công ty)
- Đa số (tập đoàn nước ngoài giữ từ 50 đến 99% số cổ phiếu của công ty)
- Chủ quyền hoàn toàn (tập đoàn nước ngoài chiếm 100% cố phiếu của công
ty)
Số liệu về M&A cho thấy hoạt động mua lại chiếm đa số. Sáp nhập chỉ
chiếm 3% trong tổng số hoạt động M&A xuyên quốc gia. Trên thực tế, mặc dù
định nghĩa của sáp nhập là sự hợp tác quản lý giữa 2 công ty, hầu hết các hoạt
động sáp nhập đều trở thành mua lại khi 1 trong 2 công ty nắm quyền quản lý
công ty còn lại. Tỷ lệ hoạt động sáp nhập thật quá thấp đến mức M&A chỉ còn
được hiểu hoàn toàn là “mua lại”.
Một phần trong hệ quả của cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp
(FDI) là sự gia tăng của M&A xuyên quốc gia vì đây là cửa mở cho các công ty
xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển cũng như góp phần vào sự phát
triển kinh tế của các nước nói trên. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu M&A có thể
Trang 5
đóng góp vào quá trình phát triển như đầu tư mới (GI) hay không? M&A được
nhìn dưới một góc độ khác so với đầu tư trực tiếp bởi tại thời điểm ban đầu, hoạt
động này không làm tăng năng suất sản xuất quốc gia mà chỉ là sự chuyển giao
quyền sở hữu trong nước cho nước ngoài. Trong quá trình toàn cầu hoá nói
chung, ảnh hưởng của M&A với sự phát triển có thể là con dao hai lưỡi và
không ổn định.
2. Lịch sử phát triển M&A
a. Cơn sóng M&A những năm 1890s và từ 1910-1920.
Vào những năm 1890, khi mà những vụ mua lại diễn ra ở Mỹ hoàn toàn
được ghi lại đầy đủ trong các tài liệu thì những bằng chứng đáng tin cậy về hoạt
động M&A ở Châu Âu lại chỉ có từ những năm 60 ở Anh và đầu những năm 80
ở lục địa Châu Âu. Mặc dù vậy, không phải là M&A không xuất hiện ở Châu

nhằm vào những ngành kinh tế qui mô.
b. Giai đoạn 1950-1970.
Cuộc đại suy thoái kinh tế và chiến tranh thế giới II đã ngăn cản cơn sóng
sáp nhập trong một vài thập kỷ. Làn sóng M&A bắt đầu những năm 50 và chỉ
kéo dài trong vòng 2 thập kỷ, nó lên tới đỉnh cao năm 1968 và suy yếu vào năm
1973 khi cuộc khủng hoảng dầu đã đẩy nền kinh tế thế giới đến một cuộc suy
thoái mới. Theo Sudarsanam (2003) mô hình M&A ở Mỹ và ở Anh là khác
nhau, khi mà ở Mỹ hoạt động mua lại được dựa trên sự đa dạng và sự phát triển
của các khối kết lớn, thì ở Liên hiệp Anh các cuộc giao thương lại nhắm tới sự
sáp nhập ngang.
c. Những năm 80.
Làn sóng M&A thứ 4 nổ ra vào năm 1981, khi thị trường chứng khoán
phục hồi sau cuộc suy thoái kinh tế trước đó, và kết thúc năm 1989. Làn sóng
này được khởi nguồn từ những thay đổi trong chính sách chống uỷ thác, sự bãi
bỏ các qui định trong dịch vụ tài chính, và sự hình thành các công cụ tài chính
và thị trường mới cũng như tiến trình công nghệ hoá công nghiệp điện tử. Thị
trường quyền năng tiêu biểu bởi một số lượng chưa từng thấy những sự tước
đoạt, sự mua lại địch thủ và những sự giao thương cổ phần giành quyền sở hữu.
d. Những năm 90.
Làn sóng M&A lần 5 bắt đầu năm 1993, và cũng giống như những làn
sóng trước đây, nó được dấy lên bởi sự bùng nổ kinh tế và chững lại một thời
gian bởi sự thu hẹp của thị trường vốn năm 2000. Cường độ của làn sóng này
(1993 – 2001) tăng nhanh chưa từng thấy cả về giá trị mua lại và số lượng hợp
đồng M&A.. Theo số liệu cổ phần tài chính của Thomson, trong suốt giai đoạn
Trang 7
này có 119035 hợp đồng M&A tại Mỹ và ở Châu Âu là 116925 hợp đồng.
Trong khi chỉ có 34494 và 12729 các cuộc giao thương như vậy ở Mỹ và Châu
Âu trong suốt trào lưu M&A lần thứ 4 (1983-1989).Giai đoạn này cũng tiêu biểu
cho số lượng tiền tệ với tổng giá trị toàn cầu lên tới 20 nghìn tỷ đô, gấp 5 lần
tổng giá trị của giai đoạn 4.

Trang 9
Mua lại và sáp nhập xuyên
quốc gia
Sáp nhập xuyên
quốc gia: tạo nên 1
thực thể mới hoặc
hợp nhất với 1 DN
đã có sẵn sau khi
tài sản và các hoạt
động của DN trong
nước và nước ngoài
kết hợp lại
Mua lại xuyên quốc
gia: Mua lại trên
10% vốn của doanh
nghiệp, chi nhánh ở
nước ngoài.
Mua lại toàn bộ:
mua 100%
Mua lại đa số: mua
50%-99%
Mua lại thiểu số:
mua 10%-49%
Hợp nhất: sáp nhập bình đẳng
Sáp nhập theo luật: Chỉ 1
DN tồn tại tạo thành 1 DN
mới, nắm giữ toàn bộ tài
sản, quyền & nghĩa vụ của
DN khác như 1 thực thể
hoạt động hợp pháp

quy mô. M&A giữa nhà cung cấp các phần động cơ và khách hàng (các hãng
sản xuất ô tô) là một ví dụ tốt.
(c) M&A kết hợp là hình thức mua lại và sáp nhập giữa các công ty không
liên quan hay các công ty trong các hình thức kinh doanh khác nhau. Các công
ty sử dụng hình thức M&A kết hợp muốn giảm rủi ro và tận dụng lợi thế kinh tế
nhờ quy mô.
Sự cân bằng giữa các loại hình M&A trên thay đổi theo thời gian. Tầm
quan trọng của M&A ngang đang tăng dần: trong năm 1990, M&A chiếm 70%
tổng giá trị của hoạt động M&A, 10 năm trước, con số này là 59%. M&A dọc
cũng bắt đầu tăng từ giữa những năm 90 nhưng chỉ dừng lại ở tỷ lệ dưới 10%.
Trong những năm cuối thập kỷ 80, M&A tăng vọt, M&A kết hợp trở nên rất
quan trọng. Tuy nhiên các công ty giờ đây tập trung hơn vào ngành kinh doanh
chính để cạnh tranh dẫn đến sự giảm sút trong tỷ lệ M&A kết hơp.
Sự khác biệt giữa 3 loại hình M&A trên không thực sự rõ ràng. Sự phát
triển liên quan đến công nghệ mạng càng làm cho sự phân biệt trở nên khó khăn
và có thể gây ảnh hưởng lớn đến sự liên kết chính thức giữa các tập đoàn.
Trang 11
5. Xu hướng phát triển M&A.
Đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh
công ty ở nước ngoài đã bùng nổ trong những năm gần đây, trở thành chiến lược
hợp tác phát triển chính của các công ty xuyên Quốc gia (TNCs).
Năm 2006 được coi là năm được mùa của những vụ sát nhập với tổng giá
trị các thương vụ kiểu này đã vượt quá kỷ lục của thời hoàng kim 2000. Theo số
liệu thống kê của hãng thông tin Dealogic, tính đến ngày 20-11, tổng giá trị của
những vụ sát nhập năm 2006 đã lên tới 3460 tỷ USD, tính trên phạm vi toàn cầu.
Con số này đã vượt kỷ lục năm 2003 là 3330 tỷ USD. Tổ chức định mức tín
nhiệm Standard and Poor’s gọi đây là “hội chứng sát nhập”. Tuy nhiên về số
lượng sát nhập, con số năm 2006 (tổng cộng 28312 thương vụ) lại giảm so với
năm 2000 (31019 thương vụ). [WIR2006]
Năm 2006, nước Mỹ vẫn là trung tâm của những vụ sát nhập, chiếm tới

Hewitt Associate, một công ty tư vấn nguồn nhân lực toàn cầu cho biết
khả năng lãnh đạo, sự hoà hợp về văn hoá và mối quan hệ giữa các nhân viên là
những thách thức lớn nhất đối với thành công của những thương vụ M&A ở
Châu Á – Thái Bình Dương. Thông báo này là kết quả của một cuộc nghiên cứu
kéo dài 2 tháng về hoạt động M&A ở Châu Á – Thái Bình Dương do Hewitt tiến
hành gần đây. Cuộc nghiên cứu này là đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố nguồn
nhân lực với thành công lâu dài của các thương vụ M&A trong khu vực. Hewitt
đã bắt đầu tiến hành hoạt động nghiên cứu M&A giữa 37 công ty qui mô lớn của
11 nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương từ tháng 3 đến tháng 4, giống như
chương trình mà Hewitt đã tiến hành ở liên minh Châu Âu cách đây 3 năm.
Kết quả cuộc nghiên cứu này cho thấy các hoạt động liên kết sát nhập ở
Châu Á sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, với 59% số người được hỏi cho
biết trong tương lai gần họ thích đầu tư vào Châu Á hơn các khu vực khác, còn
44% rất lạc quan về hoạt động M&A ở Châu Á trong thời gian tới. Cũng theo
nghiên cứu này, 34% số người được phỏng vấn tin rằng yếu tố nguồn nhân lực
chưa đáp ứng đúng yêu cầu là một trong những cản trở lớn trong các thương vụ
liên kết sát nhập.
Sự hoà hợp văn hoá gần đây đã trở thành yếu tố nguồn nhân lực phức tạp
và quan trọng nhất trong một thương vụ liên kết sát nhập. Nhưng 52% số người
được hỏi cho biết họ không tin là sự hội nhập văn hoá sẽ mất hơn 6 tháng, và chỉ
có 13% cho biết họ giành cho quá trình này một thời gian thích hợp. Cuộc
nghiên cứu còn cho thấy chỉ có 28% số người được phỏng vấn coi trọng sự hoà
hợp giữa các yếu tố con người trong quá trình sát nhập. Tuy nhiên, nhiều công
Trang 13
ty đang bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của yếu tố con người trong quá trình
liên kết sát nhập hoặc thành lập liên doanh.
Trang 14
B. TÁC ĐỘNG CỦA M&A TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA VÀ
DOANH NGHIỆP
I. TÁC ĐỘNG CỦA M&A TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA ĐỐI VỚI NƯỚC

nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong GDP sẽ tốc độ tăng trưởng của GDP cao
hơn.
Hệ số ICOR=I / (GDP
nghiên cứu
- GDP
gốc
) . Vậy ta có
Tốc độ tăng trưởng = (GDP
nghiên cứu
-GDP
gốc
) / GDP
gốc
= I x 1/ICOR x 1/GDP
gốc
Từ công thức trên ta thấy tốc độ tăng trưởng tỷ lệ thuận với mức đầu tư. Khi đầu
tư tăng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng tăng.
Khi có vốn từ hoạt động M&A nước nhận đầu tư sẽ có điều kiện để khai
thác tốt nhất những lợi thế của mình về tự nhiên, vị trí địa lý, mặt đất, mặt
nước…Việc chế biến nguyên vật liệu để tạo ra những sản phảm có hàm lượng
công nghệ cao sẽ càng được đẩy mạnh thay vì xuất khẩu nguyên liệu thô với giá
rẻ rồi nhập nguyên liệu hay sản phẩm tinh với giá thành đắt đỏ. Tuy nhiên không
thể tiếp nhận vốn một cách bừa bãi làm giảm khả năng tăng giá trị sản lượng từ
một đồng vốn đầu tư.Khi đó hệ số ICOR sẽ nhận giá trị cao và điều này là hoàn
toàn bất lợi theo như công thức trên. Các nước tiếp nhận vốn từ hình thức mua
lại và sáp nhập có thể kiểm soát kỹ, và định hướng đầu tư phần nào cho những
công ty từ M&A để có thể làm tăng hiệu quả đầu tư cho đất nước.
Một vấn đề nữa cần phải quan tâm tới trong đầu tư nước ngoài là công
nghệ. Một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì khó mà đạt được trình độ
khoa học kỹ thuật cao cũng như có sự hoàn chỉnh về trình độ quản lý được. Mặt

động được tăng cường là đời sống kinh tế và đời sống tinh thận của người dân
được nâng cao. Chính đây cũng là một yếu tố có tác động tới sự phát triển chung
của toàn xã hội.
Tác động tiếp theo của M&A được thể hiện trên cán cân thanh toán của
các nước nhận đầu tư. Cán cân thanh toán của một nước được tính bằng chênh
lệch giữa luồng vốn vào và luồng vốn ra trong một thời gian nhất định. Như vậy
rõ ràng việc đổ tiền vào các vụ sáp nhập và mua lại đã trực tiếp làm tăng nguồn
vốn vào dẫn đến cán cân thanh toán được cải thiện đáng kể. Nếu hoạt động này
diễn ra mạnh mẽ thì nó có thể tạo ra thặng dư lớn trong cán cân thanh toán. Một
mặt các nhà đầu tư nước ngoài này cũng có những hoạt động nhằm khai thác lợi
thế của nước nhận đầu tư để xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường bên ngoài.
Tất nhiên hoạt động này cũng được tính vào cán cân xuất nhập khẩu của nước
nhận đầu tư. Trước đây khi chưa có sự xuất hiện của những công ty như trên,
nước nhận đầu tư có trình độ phát triển thấp không đủ điều kiện để xuất khẩu
nhiều mặt hàng, phải nhập khẩu nhiều trang thiết bị… Đối với các nước có
nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhưng không có đủ trình độ công nghệ để tiến
hành sản xuất, chế biến thì đa phần chỉ xuất khẩu nguyên liều thô. Theo xu
hướng giá cánh kéo trên thế giới, khi giá cá tăng thì mặt hàng này tăng giá chậm
hơn, còn khi giá cả giảm thì mặt hàng này giảm giá nhanh hơn so với mặt hàng
Trang 17
có hàm lượng công nghệ hay hàm lượng chế biến cao. Tóm lại kim ngạch xuất
khẩu thu được từ các mặt hàng thô, sơ chế là rất nhỏ. Theo phần trên, M&A đem
lại cơ hội sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao ở các nước nhận đầu tư,
chính vì thế kim ngạch xuất khẩu đem lại từ những sản phầm này là không nhỏ.
Tất cả những kết quả trên đều góp phần cải thiện cán cân thương mại. Hoạt động
đầu tư trực tiếp nói chung và M&A nói riêng, cán cân thương mại và cán cân
thanh toán luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
So với hình thức đầu tư mới thì M&A có lợi thế do tận dụng được cơ sở
vật chất cũng như sự nhận biết của người tiêu dùng có sẵn. Chính vì thế mà
khả năng cạnh tranh của những công ty này rất cao. Về mặt lý thuyết điều này

vực công nghiệp và dịch vụ. Đây là một điều hết sức cần thiết cho Việt Nam
trong quá trình tăng tỉ trọng của hai ngành này trong GDP nhằm phục vụ cho
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nhưng bên cạnh đó ta có thể
thấy ngành nông nghiệp không được dành nhiều sự quan tâm đến thế. Vì vậy
nhà nước cũng phải quan tâm đến lĩnh vực này nhằm giảm lực lượng lao động
trong nông nghiệp, tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn.
Hoạt động M&A giúp mở rộng quan hệ với các nước, nâng cao vị thế
kinh tế, chính trị không chỉ cho nước đầu tư mà còn cho cả nước nhận đầu tư, và
cũng giúp nước nhận đầu tư thu hút các nguồn vốn khác. Thứ nhất, đầu tư trực
tiếp nói chung và thông qua M&A nói riêng không chỉ làm quan hệ đầu tư mà cả
quan hệ thương mại…, của nuớc nhận đầu tư được mở rộng. Rõ ràng là việc
thiết lập mối quan hệ buôn bán với quốc gia có doanh nghiệp đầu tư ở nước
mình bao giờ cũng dễ hơn là khi giữa hai quốc gia chưa hề có chung một mối
quan tâm nào. Nước nhận đầu tư có thể tận dụng hệ thống thuế và phân phối của
nước ngoài, tận dụng uy tín của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó hoạt động M&A
cũng làm cho cơ cấu xuất khẩu của nước nhận đầu tư được cải tiến, ảnh hưởng
đến các định hướng chiến lược xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Thứ hai, chính
những công ty đa quốc gia hay các công ty liên doanh với nước ngoài cùng với
các doanh nghiệp trong nước giúp cho quốc gia đó phát triển kinh tế. Một khi
nền kinh tế được cải thiện thì vị thế của nước nhận đầu tư trên trường quốc tế sẽ
được nâng cao. Và cuối cùng, khi các công ty trên làm ăn có lãi, những chính
sách, môi trường đầu tư mà nước nhận đầu tư dành cho họ rất thích hợp cho việc
phát triển thì thế giới sẽ biết đến nước nhận đầu tư như một điểm đầu tư tiềm
năng hay nói cách khác quốc gia này sẽ thu hút được thêm dòng vốn đầu tư cho
công cuộc xây dựng kinh tế của mình.
Trên đây chỉ là một số ảnh hưởng tích cực chính mà hoạt động M&A đem
lại cho các nước nhận đầu tư. Nếu phân tích sâu sắc riêng từng vấn đề chúng ta
Trang 19
vẫn có nhiều điều để nói. Những lợi ích của M&A với nước nhận đầu tư chắc

một cách có chủ đích để làm giảm và thậm chí là loại bỏ cạnh tranh. Các doanh
nghiệp M&A tăng cường tập trung thị trường ngay từ đầu là một trở ngại cho
Trang 20
việc duy trì cạnh tranh của các nước nhận đầu tư. Vậy họ đã làm gì để loại bỏ
cạnh tranh và vì sao họ lại phải loại bỏ cạnh tranh như thế. Thứ nhất các công ty
con được thành lập có thể thực hiện nhiều cách thức khác nhau để chống cạnh
tranh. Hơn nữa các công ty còn của nằm trong hệ thống các công ty đa quốc gia
cũng sẽ hợp nhất với nhau và đơn giản là họ tìm cách để không cạnh tranh lẫn
nhau hay không cạnh tranh với công ty mẹ. Các công ty đa quốc gia làm như
vậy vì họ sẽ có được kiểm soát rộng lớn trên toàn cầu về cả mặt thị trường lẫn
phân phối. Tuy nhiên các công ty đa quốc gia không thể dùng hình thức M&A
để làm giảm sự cạnh tranh của thị trường nếu cấu trúc ngành ở nước nhận đầu tư
được bảo vệ bởi các congolomate trong nước. Trong trường hợp này thì các thì
hoạt động M&A không chỉ giúp cải thiện cấu trúc thị trường mà còn làm tạo ra
được một môi trường cạnh tranh lành mạnh và gay gắt hơn. Qua đây chúng ta có
thể thấy rằng, chính phủ các nước nhận đầu tư phải hết sức thận trọng khi tiếp
nhận vốn đầu tư từ hình thức M&A nếu họ không muốn các doanh nghiệp của
mình bị thao túng.
Tác động đến sự phát triển của nền kinh tế, người ta còn băn khoăn về vai
trò của M&A và GI. Như chúng ta đã biết việc chuyển giao những tài sản vô
hình và hữu hình trong hoạt động này là rất có ích trong điều kiện sự thay đổi
công nghệ, quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng và đang
trở thành động lực để phát triển năng lực sản xuất của mỗi quốc gia. Nhưng liệu
trong các hoạt động như: tăng cường thêm đầu tư và các nguồn tài chính, việc
tăng cường nguồn lực về công nghệ, đẩy mạnh sự cạnh tranh trong thương mại,
tạo việc làm và cải thiện các kỹ năng cho người lao động thì vai trò của GI hay
M&A lớn hơn. Trên thực tế M&A không làm gia tăng thêm năng lực sản xuất
nhiều cho nền kinh tế như GI mà nó chỉ đơn thuần là việc chuyển giao quyền sở
hữu hoặc quyền kiểm soát cho phía các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy
một số hoạt động sản xuất và chức năng sẽ bị giải tán. Ví dụ như một công ty

những điều này đã tạo ra những tác động không nhỏ lên điều kiện xã hội của
nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang và kém phát triển. Những lao động ở
các vùng và lĩnh vực mà các nhà đầu tư tập trung có thu nhập vốn đã hơn các
vùng và lĩnh vực khác nay lại càng cao hơn. Chính vì thế mà khoảng cách về thu
nhập của cư dân giữa các vùng, giữa các lĩnh vực lại càng lớn hơn. Đó là chưa
kể tới những luồng lao động di cư giữa các vùng miền để tìm kiếm công ăn việc
làm có thu nhập cao hơn. Di cư như vậy sẽ làm cho cuộc sống của người lao
động không ổn định, và còn gây ra tình trạng thừa lao động ở nơi này, thiếu lao
động ở nơi khác. Giải quyết vấn đề này chỉ có thể nhờ vào những chính sách
đúng đắn của chính phủ các nước nhận đầu tư. Họ phải đưa ra những biện pháp
khuyến khích đầu tư vào các vùng và lĩnh vực mà trước kia ít được các nhà đầu
Trang 22
tư quan tâm như xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng, đâu tư đào tạo nhằm nâng cao
kỹ năng cho người lao động… Quả thực dùng vốn đầu tư để giúp cho đất nước
phát triển toàn diện không phải là điều dễ làm.
Hoạt động M&A còn có thể gây ra ô nhiễm môi trường và làm cho
nguồn tài nguyên bị cạn kiệt. Rõ ràng các hoạt động M&A tập trung vào lĩnh
vực công nghiệp không phải là nhỏ. Bằng vốn và công nghệ vượt trội, họ tăng
khả năng khai thác để phục vụ cho quá trình sản xuất. Tăng khả năng sản xuất
mà không đi đôi với các hoạt động bảo vệ môi trường và tìm kiếm các nguồn
năng lượng thay thế thì ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên là chuyên một sớm một
chiều có thể xảy ra. Không phải ngẫu nhiên mà đầu tư trực tiếp nước ngoài tập
trung vào ngành khoáng sản và khai mỏ trong những năm thuộc thập kỷ 70 lại
phải chuyển hướng sang các sản phẩm công nghiệp chế biến và lĩnh vực dịch vụ.
Ở Việt Nam theo báo cáo về tình hình đầu tư nước ngoài hậu WTO cho thấy
tình trạng ô nhiễm môi trường cũng khá nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường đất,
nước, không khí nghiêm trọng ở các khu công nghiệp nơi tập trung số đông các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay các chât thải rắn, trong đó có
chất thải rắn nguy hiểm ở các khu công nghiệp khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm 1/3
tổng số chất thải rắn phát sinh năm 2005. Chất thải rắn được các doanh nghiệp

địa làm cho xã hội mở cửa. Trong một chừng mực nhất định, người dân mà đặc
biệt là giới trẻ sẽ bị cuốn theo lối sống khác với nền văn hoá và bản sắc cảu dân
tộc. Đó là chưa kể hoạt động M&A trong các lĩnh vực giải trí như sòng bạc hay
một số dịch vụ vui chơi khác có thể làm tao ra một số tệ nạn trong xã hội. Rõ
ràng nếu không có bản lĩnh tốt, nước nhận đầu tư sẽ phải hứng chịu nhiều thói
hư tật xấu của M&A .
M&A dù có tiêu cực nhưng không ai có thể phủ nhận những điểm tích
cực mà nó đem lại cho nước nhận đầu tư. Trong thời điểm hiện nay, mỗi nước
nhận đầu tư phải biết tiếp nhận và thích nghi với hình thức này.
II. TÁC ĐỘNG CỦA M&A ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1. Tác động tích cực
a. Động lực cho doanh nghiệp thực hiện M&A :
Synergy- Một cộng một bằng ba: đây là công thức đặc biệt của thuật giả
kim trong M&A (mua lại và sáp nhập). Nguyên lý cơ bản ẩn sau chính là việc
mua bán công ty tạo ra giá trị cao hơn, vượt hẳn giá trị tổng của hai công ty ban
đầu. Hai công ty hợp lại với nhau thì có sức mạnh lớn hơn hai công ty riêng biệt,
đó chính là lí do chủ đạo cho sự ra đời của M&A. Điều này càng đúng trong
những giai đoạn kinh tế khó khăn. Các tập đoàn lớn sẽ mua lại các công ty khác
để tạo nên một tập thể có tính cạnh tranh cao hơn và tiết kiệm chi phí hơn. Các
Trang 24
công ty kề vai sát cánh và hi vọng sẽ tạo ra được giá trị thị trường cao hơn cho
cổ phiếu của mình hay là đạt được hiệu suất cao. Bởi vì những lợi ích tiềm năng
này mà các công ty mục tiêu (target company) sẵn sàng đồng ý bán đi khi họ
biết rằng họ sẽ không thể tồn tại nếu chỉ bằng sức của mình.
Hiệu suất dự tính đạt được thông qua kết hợp synergy có thể là minh
chứng rõ ràng nhất. Synergy là một nhân tố tĩnh (cắt giảm chi phí và tăng cường
doanh thu tại một thời điểm nhất định) hoặc năng động (tăng tính sáng tạo). Một
hình thức synergy trước đây có thể kể đến như việc tập trung các nguồn lực (một
trung tâm thay vì hai), tăng cường doanh thu bằng cách sử dụng lẫn nhau hệ
thống phân phối và marketing, đạt được sức mạnh trong trao đổi (trả giá), tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status