LUẬN ÁN: Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La) potx - Pdf 15


II
LUẬN ÁN:

Kế thừa và phát huy bản sắc văn
hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện
nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La)

giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam. Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi. Xu thế toàn cầu hóa
đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam cũng
như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này. Kinh tế thị trường
với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa
truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn
hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa
truyền thống của người Thái, còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát
triển của thời đại. Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập
quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người
Thái nói chung, và người Thái ở Tây Bắc nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai
căng, không còn giữ được bản sắc. Vấn đề khác quan trọng hơn cả, đó là chúng ta
đang phấn đấu để có được sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng
miền trên cả nước. Để đạt được điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn
hóa chiếm vai trò, vị trí hết sức quan trọng, không thể có bình đẳng dân tộc nếu như
không giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta, bởi lẽ:
"Vấn đề dân tộc là vấn đề văn hóa, đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗ khác" [19, tr.10].
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc,
tạo điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc
thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Trước
tình hình đó thì việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây
Bắc là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phần công sức
nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Sơn La nói riêng, tôi chọn vấn đề
“Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua
thực tế ở tỉnh Sơn La)" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.


trên cơ sở đó đề xuất nội dung, giải pháp xây dựng mô hình bản văn hóa", 1999,
UBND tỉnh Sơn La. "Vài nét về người Thái ở Sơn La", Vì Trọng Liên, Nxb Văn hóa
Dân tộc, Hà Nội, 2002. "Hoa Văn Thái" của Hoàng Lương, Nxb Lao động, Hà Nội,
2003. "Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống ở vùng núi Bắc Trung Bộ hiện nay",
Cao Văn Thanh (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Và nhiều bài viết trên
các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử
Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm
chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Thái ở
nước ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá
trị văn hóa, phong tục tập quán của người Thái (nói chung), người Thái ở Tây Bắc (nói
riêng) nhằm giới thiệu về người Thái; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa
dân tộc Thái. Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi
sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp
cho sự phát triển văn hóa các dân tộc Tây Bắc nhưng cũng chỉ là những giải pháp
mang tính định hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu về văn hóa
dân tộc Thái ở góc độ văn hóa, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới
góc độ triết học, chưa bàn nhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Thái ở Tây Bắc một cách khái quát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn * Mục đích nghiên cứu:
trên cơ sở làm rõ thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở
Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La), luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản
nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung, và
dân tộc Thái ở Sơn La nói riêng.
* Nhiệm vụ:
luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Thái và tính tất yếu khách quan của

Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Thái ở Tây Bắc; phân
tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Thái dưới góc độ triết học. Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa
của dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La trong giai đoạn hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về
văn hóa, bản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa nó; đồng thời góp phần khẳng định vai trò,
ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc theo hướng: Xây dựng
một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu tham
khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở Tây Bắc và tỉnh Sơn La.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết. Chương 1
Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái. Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa và phát
huy nó
1.1. Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái
1.1.1. Một vài nét về lịch sử dân tộc Thái
1.1.1.1. Lịch sử tộc người Thái
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có một cộng đồng tộc người tự nhận
mình bằng tên riêng Tăy hay Thăy và được gọi chính thức là Thái.
Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống kê năm 1973 là trên 36
vạn người. Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người sống trải khắp
vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam. Bắt đầu từ phía Đông với miền đất người

theo mẹ về núi” [41, tr. 23]. Từ đây, ta có thể hình dung được bức tranh có thể có về
sự hình thành, và phát triển văn hóa cội nguồn của hai ngành Người thuộc nhóm nói
tiếng Thái có liên hệ với Người Việt (Kinh) trong lịch sử hàng ngàn năm hình thành và
phát triển: Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của ngành người Thái Trắng ở
cùng nhóm nữ với bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim -
cạn thì Mẹ thủy tổ, hay thần Mẹ của ngành người Thái Đen sẽ ở nhóm Nữ
của tập đoàn người có đại diện nhóm Nam là ông Lạc Long Quân mang
biểu tượng Rồng - nước. Ngược lại, Cha thủy tổ hay thần Cha của ngành
người Thái Trắng cùng nhóm Nam là ông Lạc Long Quân mang biểu tượng
Rồng Nước thì Cha của ngành Thái Đen sẽ ở nhóm Nam có đại diện nhóm
Nữ là Bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn [69].
Theo các nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của người Thái đã sinh cơ lập nghiệp tại
một vùng nào đó chính trong phạm vi họ đang cư trú hiện nay, có thể từ trước công
nguyên đã có một phần người Thái cư trú chủ yếu là ở vùng Mường Thanh bây giờ.
Sang những thế kỷ đầu công nguyên, một bộ phận Thái Trắng ở đầu sông Đà, sông
Nậm Na đã di cư xuống phía Nam cư trú ở các huyện phía Bắc như mường Tè, mường
Xo (Phong Thổ), mường Lay, Quỳnh Nhai (Sơn La). Đến thế kỷ thứ XI theo “Quăm
Tô Mương” cho rằng: khởi thủy từ thời đại của anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đưa
ngành Thái Đen xuôi theo dòng sông Hồng xuất phát từ mường Ôm, mường Ai (Vân
Nam, Trung Quốc) đến mường Lò (Nghĩa Lộ). Sau đó hậu duệ Tạo Xuông, Tạo Ngần
đã khai “Mường” lập “Tạo” tạo ra cả một vùng rộng lớn gồm rất nhiều huyện. Vùng
giữa ngày nay: Thuận Châu (Mường Muổi) thuộc tỉnh Sơn La là thủ phủ của ngành
Thái Đen. Cho đến cuối thế kỷ XIII, người Thái ở Việt Nam đã ổn định về cư trú chủ
yếu ở Tây Bắc Việt Nam.
Dân tộc Thái chia thành nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm
khác nhau:
Thái Đen (Táy Đăm): Cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (hầu như toàn tỉnh).

nhất như: cùng một vùng thổ ngữ, cùng một loại hình sinh hoạt phong tục tập quán,
văn học, nghệ thuật, tôn giáo…Nhóm thứ hai, phân bố ở phía Nam trong các huyện
Mộc Châu, Phù Yên (Sơn La) và một phần ở Văn Chấn (Yên Bái). Nhóm này do ảnh
hưởng của nhiều luồng văn hóa khác nhau, nên chỉ có thể thống nhất trên các nét như:
Cùng chung một câu chuyện kể về nguồn gốc của sự thiên di, cùng một phong tục tập
quán, một loại hình văn nghệ dân gian. Riêng về ngôn ngữ, có hai vùng thổ ngữ: Mộc
Châu và Phù Yên.
Thái Đen có những đặc trưng của một nhóm địa phương tương đối thuần nhất.
Hiện phân bố ở các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái); Mường La, Thuận Châu,
Mai Sơn, Sông Mã (Sơn La); Tuần Giáo, Điện Biên. Ngoài ra, còn có một phần phân
bố ở các huyện Phong Thổ, Sình Hồ, Quỳnh Nhai. Một nhóm Thái Đen có hơi khác
một số điểm về tập quán và thổ ngữ, hiện đang cư trú ở huyện Yên Châu nên thường
gọi là Thái Yên Châu.
Sự phân chia hai ngành Thái Trắng và Thái Đen ở miền Tây Bắc hiện nay, là kết
quả của một quá trình thiên di, xáo động trên những diễn biến lịch sử lâu dài và phức
tạp. Cho dù hiện nay có hai ngành Thái, chẳng qua cũng là sự chuyển hóa từ một
nhóm Thái cổ xưa nhất mà thiên di đi mỗi người một ngả. Rồi đến địa vực cư trú mới
của mình, từng nhóm một tiếp xúc với điều kiện tự nhiên và chịu ảnh hưởng của các
dân tộc xung quanh rồi xa dần cái nguyên gốc của mình. Tuy vậy, người Thái ở Tây
Bắc vẫn mang trong mình những nét văn hóa riêng, độc đáo cần được giữ gìn, kế thừa
và phát huy.
Sự hình thành nhóm Thái ở Tây Bắc: Đơn vị cư trú của người Thái được gọi là Bản và Mường. Nhiều bản hợp thành
một mường nhỏ, nhiều mường nhỏ hợp thành một Châu mường. Ngay từ đầu, các bản
mường đã phân bố tương đối đông đúc trên những vùng cư trú của ba nhóm địa
phương:
ở phía Bắc- những bản mường của người Thái Trắng tập trung trong các thung
lũng ruộng đồng màu mỡ. Khoảng thế kỷ thứ VIII, Mường Lay dưới thời Lô Lạnh Lạt

khác. Từ đó trở đi, cho dù người Thái có bị phân thành từng châu mường, dù cho núi
non hiểm trở và kinh tế chậm phát triển, sự giao lưu giữa các châu mường còn hạn chế.
Xã hội Thái cũng trải qua những năm tháng bị bọn đế quốc, phong kiến chia
rẽ…Nhưng lịch sử người Thái ở Tây Bắc vẫn phát triển thành một khối. Đến nay, mặc
dù người Thái vẫn có các nhóm địa phương với hai ngành Thái Đen, Thái Trắng ở
phía Bắc và phía Nam. Nhưng tựu trung lại chỉ là một dân tộc mà tên thường gọi là
“Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”
1.1.2. Văn hóa của dân tộc Thái - bản sắc của nó
1.1.2.1. khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa
- Văn hóa: Là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật ngữ này
không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà cả trong các ngành khoa học khác
nhau. Tuy nhiên, việc xác định nội hàm của nó cũng còn nhiều ưý kiến, vì thế trên thế giới
hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về văn hóa. Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn
hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội
trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối,
điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện
diện của con người.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở,
mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [35, tr. 431].
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp
(21/1/1998), Tổng thư kưý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ,

nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về
thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh
thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật
thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới
dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các
lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…
ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai
nghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa
của một tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh, là một chi tiết của
văn hóa nói chung. Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc
người (Nation) sống trong cùng một quốc gia. Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những
quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người,
phản ánh những nhận thức, tâm lưý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành
trong lịch sử của tộc người đó. ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người
đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng
dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó.
Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so sánh nền
văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc
văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống, phong tục, tập quán, lối
sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, ích, mỹ” [60, tr.19]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát
vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc. Mục
đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn
thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc. Mặc dù, tiêu chuẩn của các giá trị
văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là không như nhau. Giá trị văn hóa còn mang tính
khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành
văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc. Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân

Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc. Nó là hạt nhân
năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác. Bản
sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình:
Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào
đó có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và
phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc
trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [6, tr.
48].
Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng
(văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại). Mỗi dân tộc trong quá trình giao
lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung.
Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị của mình, tạo ra sự khác biệt
trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc. Bản sắc văn hóa dân
tộc không phải là một biểu hiện nhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền
vững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc.
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn
hóa. Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa dân tộc:
“Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp
vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng
văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [64, tr.13].
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng
tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với
điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…trong quá trình
vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr. 37].
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc
riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân
tộc. Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn hóa.
sử cụ thể. Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo
lập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại. Truyền thống cũng không
phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ
bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực
nội sinh của dân tộc.
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều tầng,
nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là
nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc. Nguồn nuôi dưỡng vô tận tâm hồn và đời sống
tinh thần của đồng bào các dân tộc. Đây là kho của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu
của văn hóa Việt Nam. Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các
dân tộc thành viên là việc làm hết sức có ưý nghĩa. Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định
hướng, đường lối của Đảng, Nhà nước và ưý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân.
1.1.2.2. Văn hóa của dân tộc Thái
Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trị văn hóa
do chính cộng đồng tộc người đó tạo ra và là sản phẩm của con người bao gồm nhiều
lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa thiết chế xã
hội Như đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ trình bày những giá trị văn
hóa đặc trưng thuộc về văn hóa của dân tộc Thái:
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại hình văn
hóa thung lũng. Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên của miền
Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình văn hóa thung
lũng. Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa tộc người
này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo. Điều này cũng nói lên khả năng
thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình. Văn hóa thung lũng của

điểm đặc thù cho nên, định hướng tác động trong khai thác tự nhiên truyền thống của
người Thái là đồng ruộng lòng chảo và nương rẫy trên sườn núi. Hàng ngàn năm nay,
dân tộc này đã có những biện pháp dẫn thuỷ nhập núiđiền, đúc rút được tập quán làm
thuỷ lợi bằng biểu tượng ngôn ngữ (điều mà không phải bất cứ cộng đồng người làm
ruộng nào cũng làm được). Người Thái có bốn chữ nói lên bốn giải pháp: Mương,
Phai, Lái, Lin. “Đây là mặt biểu hiện cụ thể của văn hóa lúa nước có cội nguồn từ cư
dân nói tiếng Tày- Thái cổ, trải qua các giai đoạn lịch sử của nó, không những đọng lại
trong ngôn ngữ Thái mà còn có ở ngôn ngữ văn hóa Việt - Mường” [10]. Yếu tố đầu
tiên trong văn hóa mưu sinh của tộc người Thái là việc làm ruộng nước, nó trở thành
động lực phát triển lịch sử cộng đồng tộc người theo mạch vừa tụ cư, vừa định cư, lan
tỏa chung cho cả nhóm nói tiếng Thái. Việc khai khẩn vùng đất hoang vu thành cánh
đồng trồng lúa trở thành hàng đầu trong hệ thống kinh tế cổ truyền Thái. Trong đó,
cùng với việc vỡ đất phải giải quyết ngay khâu dẫn nước từ các dòng chảy tự nhiên
vào tưới tiêu, sao cho cánh đồng trồng lúa hợp lý với vùng tự nhiên của nó. Từ đó,
dòng nước thiên nhiên gắn chặt với các khâu của công trình thủy lợi truyền thống, mà người Thái quen lấy Mương làm tiêu biểu chung “có nước mới có mương, có mường
mới có Tạo”. Nước đã sinh ra tổ chức xã hội mang tên Mường, mường xưa có người
đứng đầu mang tên Tạo. Tạo lại trở thành pháp nhân đứng ra tổ chức xã hội, tác động
và biến tự nhiên thành ruộng lúa, cung cấp cho con người thóc gạo. Giải pháp nước
(văn hóa Thủy lợi) được người ta đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng nước.
Qua hệ thống Mương, Phai, Lái, Lin, người Thái đã sớm tích lũy được một số
kinh nghiệm để dẫn nước tưới ruộng theo phương pháp thủ công và thu được những
hiệu quả nhất định, cho cuộc sống lao động sản xuất của dân tộc Thái trong một thời
gian dài. Song song với việc sản xuất lương thực trên ruộng nước, người Thái còn làm
nương rẫy. Trên một diện tích nương, tập quán Thái chỉ thực hiện ba vụ cũng là ba năm
hay ba mùa, đến năm thứ tư phải phá rừng làm nương mới. Một gia đình nông dân Thái
chỉ cần phá rừng làm bốn đám nương luân chuyển đã khép kín trong chu kỳ 12 năm.
Thời gian đó là khoảng thời gian đủ cho rừng nhiệt đới tái sinh và người dân có thể trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status