vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc thái ở tây bắc hiện nay - Pdf 13

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Thảo
Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Thái
ở Tây Bắc hiện nay
(QUA THỰC TẾ Ở TỈNH SƠN LA)
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80
luận văn thạc sĩ triết học
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN HÙNG HẬU
HÀ NỘI - 2006
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã
hội. Con người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới
tương lai cũng từ văn hóa. Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc
của dân tộc ấy. Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó
biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người. Những
giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc
“Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền
văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự
của nó” [9, tr.16].
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa
tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các
vùng, miền của Tổ quốc. Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và
nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác
nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính
đặc thù. Trong các vùng văn hóa ấy, vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa
Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái. Là một vùng rộng lớn, có
địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát
triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm

mạnh CNH, HĐH. Trước tình hình đó thì việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong
giai đoạn hiện nay.
Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phần
công sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Sơn La nói riêng,
tôi chọn vấn đề “Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây
Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La)" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc độ
khác nhau.
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu
như:
3
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994. "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2001. "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb
Văn học, 2002. "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên). "Bản sắc văn hóa dân tộc",
Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003.
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
"Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, 1997. "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn
Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc
Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn
thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH & NV - ĐHQG Hà
Nội."Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay",
Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000. Đề tài: "Vấn đề giữ
gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La), luận văn đưa ra một số giải
pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây
Bắc nói chung, và dân tộc Thái ở Sơn La nói riêng.
* Nhiệm vụ:
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Thái và tính tất yếu khách
quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái.
Hai là, đánh giá thực trạng vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (minh họa bằng các số liệu, thực tế khảo sát ở
tỉnh Sơn La).
5
Ba là, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra một số giải pháp cơ bản,
nhằm kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác
định đối tượng nghiên cứu là văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc (nội dung chủ yếu
là văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La) trên góc độ triết học.
* Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng và
phong phú Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóa của
dân tộc Thái ở Tây Bắc mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnh
triết học những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Thái ở Tây
Bắc và ở Sơn La nhằm kế thừa và phát huy nó trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lýý luận là chủ

Chương 1. BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI. TÍNH TẤT YẾU
KHÁCH QUAN CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NÓ
1.1. BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI
1.1.1. Một vài nét về lịch sử dân tộc Thái
1.1.1.1. Lịch sử tộc người Thái
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có một cộng đồng tộc người tự
nhận mình bằng tên riêng Tăy hay Thăy và được gọi chính thức là Thái.
Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống kê năm 1973 là
trên 36 vạn người. Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người
sống trải khắp vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam. Bắt đầu từ phía Đông
với miền đất người Thái gọi là mường Lò quê tổ ở Tây Bắc tỉnh Yên Bái (nay
chia thành ba huyện thuộc tỉnh Yên Bái: Văn Chấn, Mù Căng Chải, Trạm Tấu
và thị xã Nghĩa Lộ). Sang phía Tây gồm toàn bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu,
Điện Biên và Sơn La. Phía Nam người Thái sinh sống ở miền Tây Bắc Hòa Bình
(nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu) và miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.
Cuối cùng còn thấy những nhóm sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng núi Tây
Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là nơi họ ở đông hơn cả.
Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên các địa bàn trên lãnh thổ Việt
Nam, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em khác, tham gia dựng nước và giữ
nước. Đây cũng chính là quá trình hình thành tộc người để phát triển đến ngày
nay. Hiện nay, chưa có cách nào khác để tìm ra cội nguồn của văn hoá lịch sử
tộc người Thái, ngoài việc rút ra và đúc kết những hiểu biết mới về đời sống tâm
linh của họ. Từ đó, đưa ra những kết luận về nguồn gốc hình thành của dân tộc
này.
Người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên thế
giới mà theo một trong những tục có nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là
Cạn (bốc). Nước có biểu tượng Thần chủ là con Rồng (Tô Luông) mang tên chủ
nước (chảu nặm), và đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ
8
đất (chảu đin). Hai biểu tượng thần chủ Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của

La). Đến thế kỷ thứ XI theo “Quăm Tô Mương” cho rằng: khởi thủy từ thời đại
của anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đưa ngành Thái Đen xuôi theo dòng sông
Hồng xuất phát từ mường Ôm, mường Ai (Vân Nam, Trung Quốc) đến mường
Lò (Nghĩa Lộ). Sau đó hậu duệ Tạo Xuông, Tạo Ngần đã khai “Mường” lập
“Tạo” tạo ra cả một vùng rộng lớn gồm rất nhiều huyện. Vùng giữa ngày nay:
Thuận Châu (Mường Muổi) thuộc tỉnh Sơn La là thủ phủ của ngành Thái Đen.
Cho đến cuối thế kỷ XIII, người Thái ở Việt Nam đã ổn định về cư trú chủ yếu ở
Tây Bắc Việt Nam.
Dân tộc Thái chia thành nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều
nhóm khác nhau:
Thái Đen (Táy Đăm): Cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (hầu như toàn
tỉnh). Nghĩa Lộ (mường Lò) thuộc tỉnh Yên Bái; ở tỉnh Điện Biên; Tuần Giáo
tỉnh Lai Châu và một số ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai.
Thái Trắng: (Táy Đón hay Táy Khao) tập trung ở Mường Lay, mường So
(Phong Thổ, Lai Châu); mường Chiến (Quỳnh Nhai); một số khác tự xưng là
Thái Trắng nhưng có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mường Tấc
(Phù Yên), Bắc Yên; mường Sang, Mộc Châu (Sơn La).
Nhóm Thái Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc) có nét giống với các nhóm
Thái ở Thanh Hóa. Nhóm Thái ở Thanh Hóa cư trú ở mường Một- mường Đeng
tự nhận mình thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mường- Hàng
Tổng, Tay Dọ). Nhóm Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen, Trắng đã mờ
nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian và quê hương xuất xứ của mình khi đến nơi
này.
Lịch sử phát triển của người Thái theo con đường dích dắc qua hàng ngàn
năm, nhưng với người trong nhóm nói tiếng Thái vẫn giữ mạch tư duy văn hóa
lưỡng phân, lưỡng hợp để tưởng nhớ quê cha đất tổ xa xưa nhất.
1.1.1.2. Người Thái ở Tây Bắc
Là dân tộc cú số dõn khá đông ở miền Tây Bắc, năm 1955 người Thái ở
miền Tây Bắc nước ta mới có 22 vạn người, thì đến năm 1989 riêng người Thái
10

của mình. Tuy vậy, người Thái ở Tây Bắc vẫn mang trong mình những nét văn
hóa riêng, độc đáo cần được giữ gìn, kế thừa và phát huy.
Sự hình thành nhóm Thái ở Tây Bắc:
Đơn vị cư trú của người Thái được gọi là Bản và Mường. Nhiều bản hợp
thành một mường nhỏ, nhiều mường nhỏ hợp thành một Châu mường. Ngay từ
đầu, các bản mường đã phân bố tương đối đông đúc trên những vùng cư trú của
ba nhóm địa phương:
Ở phía Bắc- những bản mường của người Thái Trắng tập trung trong các
thung lũng ruộng đồng màu mỡ. Khoảng thế kỷ thứ VIII, Mường Lay dưới thời
Lô Lạnh Lạt Ma đã trở thành trung tâm của vùng này. Lợi dụng sự phát triển của
người Thái, quýý tộc thống trị Mường Lay đã bành trướng thế lực khắp nơi.
Phía Bắc phát triển tới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Từ Mường Tè ở phía
Đông kéo sang đầu Nặm U (Thượng Lào) ở phía Tây. Phía Nam phát triển dọc
theo sông Đà từ Mường Chiên (Quỳnh Nhai) xuống đến miền đất thuộc huyện
Mường La ngày nay.
Phía Nam, sau đợt thiên di của người Thái Trắng từ Lào sang, bản mường
bắt đầu xuất hiện. Khoảng cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX dưới thời chúa
Nhọt Cằm, Mường Sang đã trở thành trung tâm của vùng này. Thế lực của quýý
tộc Mường Sang đã ảnh hưởng khắp khu vực rộng lớn. Phía Bắc đến vùng đất
thuộc Mường Vạt (Yên Châu), Phia Đông là đất Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La).
Phía Tây và miền Tây Nam là miền đất thuộc Mường Ét, Chiềng Cọ (Sầm Nưa-
Thượng Lào), và phía Nam là vùng đất thuộc hai huyện Đà Bắc, Mai Châu
thuộc Hòa Bình ngày nay.
Khu vực giữa- sau khi Lạng trượng thu phục đất Mường Thanh, con cháu
ông đã nối nghiệp nhau thống trị đất này. Càng về sau anh em trưởng thứ của
quýý tộc càng trở nên bất hòa. Lợi dụng tình thế đó, các thế lực của quýý tộc
Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quýýý tộc Thái Đen ở
Mường Thanh. Con cháu Lạng Trượng phải dần về ở Mường Muổi. Sau khi ổn
định tại Mường Muổi, họ lại bắt đầu bành trướng khắp vùng cư trú của người
Thái Đen, kéo suốt từ vùng hữu ngạn sông Hồng sang sông Mã. Từ đó, trung

13
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương
thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn [35, tr. 431].
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn
hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư kýý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như
đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc riêng của mình [72, tr. 23].
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,
có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội
sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội. Văn
hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã
hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định
nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất
của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã
khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng
khác và cho các thế hệ mai sau” [28, tr.11]. Định nghĩa này nhấn mạnh trong
văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị các mẫu mực xử
thế và các hệ thống hành vi. Vấn đề cần được nhấn mạnh ở đây là trong khái
niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc có nhiều khả năng
được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá cho các cá thể hoặc
các nhóm trong cộng đồng.

riêng của nó.
15
Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so
sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để
xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống,
phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân,
thiện, ích, mỹ” [60, tr.19]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo,
khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân
tộc. Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng
tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc. Mặc dù, tiêu chuẩn
của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là không như nhau. Giá trị
văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên
ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc. Không
thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí xem xét, đánh giá
nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triển hay không…điều
đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hóa.
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di
truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã
được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình. Chính quá trình đó
đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ. Cộng đồng sẽ bền vững
khi nó trở thành dân tộc. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền
văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền
thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [65, tr.13]. Một
dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền
văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc. Chính
vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của
dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân
tộc.
- Bản sắc văn hóa:

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua
văn hóa. Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa
dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào
17
cũng được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp
phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản
sắc” [64, tr.13].
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong
sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường
xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…
trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr. 37].
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản
sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản
sắc dân tộc. Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét
hơn ở văn hóa. Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại
của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy.
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị. Giá trị tinh thần bên trong và
biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc
đẩy nhau phát triển. Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản
lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ
mờ phai. Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt,
độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của
văn hóa.
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như:
hoàn cảnh địa lýý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lýý, phương thức hoạt
động kinh tế. Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ
những yếu tố tạo thành dân tộc. Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc
phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở. Nó không chỉ là hình thức
mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc
Việt Nam. Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ

1.1.2.2. Văn hóa của dân tộc Thái
Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trị văn
hóa do chính cộng đồng tộc người đó tạo ra và là sản phẩm của con người bao
gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa
19
thiết chế xã hội Như đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ trình bày
những giá trị văn hóa đặc trưng thuộc về văn hóa của dân tộc Thái:
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại hình
văn hóa thung lũng. Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên
của miền Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình
văn hóa thung lũng.
Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa tộc
người này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo. Điều này cũng nói
lên khả năng thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình. Văn
hóa thung lũng của dân tộc Thái có các đặc trưng sau:
Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao,
rừng sâu, dầy khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình. Khí hậu hai mùa rõ rệt.
Từ lâu dân tộc này đã tạo lập các cánh đồng lúa, đối tượng tác động chính
của lao động xã hội.
Vùng sườn dốc nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nương theo các
phương pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống trồng
trọt. Đây là đặc trưng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũng
của dân tộc.
Các nóc nhà cư trú thành từng cụm theo hình thức mật tập gọi là bản,
được tự do khai thác tự nhiên. Ngoài việc chính làm ruộng và làm nương, mỗi
một hộ gia đình đều tiến hành nuôi gia súc, gia cầm, làm các nghề thủ công,
trong đó nổi lên là nghề trồng bông dệt vải và tiến hành hái lượm, săn, thu bắt
hải sản ở sông suối.
Các bản nằm trên đường vành đai thung lũng và nhiều bản hợp thành
mường. Bản là lãnh thổ cộng đồng tộc người, trong khi mường thì thường có

việc vỡ đất phải giải quyết ngay khâu dẫn nước từ các dòng chảy tự nhiên vào
tưới tiêu, sao cho cánh đồng trồng lúa hợp lý với vùng tự nhiên của nó. Từ đó,
dòng nước thiên nhiên gắn chặt với các khâu của công trình thủy lợi truyền
thống, mà người Thái quen lấy Mương làm tiêu biểu chung “có nước mới có
mương, có mường mới có Tạo”. Nước đã sinh ra tổ chức xã hội mang tên
21
Mường, mường xưa có người đứng đầu mang tên Tạo. Tạo lại trở thành pháp
nhân đứng ra tổ chức xã hội, tác động và biến tự nhiên thành ruộng lúa, cung
cấp cho con người thóc gạo. Giải pháp nước (văn hóa Thủy lợi) được người ta
đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng nước.
Qua hệ thống Mương, Phai, Lái, Lin, người Thái đã sớm tích lũy được
một số kinh nghiệm để dẫn nước tưới ruộng theo phương pháp thủ công và thu
được những hiệu quả nhất định, cho cuộc sống lao động sản xuất của dân tộc
Thái trong một thời gian dài. Song song với việc sản xuất lương thực trên ruộng
nước, người Thái còn làm nương rẫy. Trên một diện tích nương, tập quán Thái
chỉ thực hiện ba vụ cũng là ba năm hay ba mùa, đến năm thứ tư phải phá rừng
làm nương mới. Một gia đình nông dân Thái chỉ cần phá rừng làm bốn đám
nương luân chuyển đã khép kín trong chu kỳ 12 năm. Thời gian đó là khoảng
thời gian đủ cho rừng nhiệt đới tái sinh và người dân có thể trở lại canh tác trên
diện tích ban đầu. Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh, hình thức canh tác nương
rẫy chiếm phần quan trọng sau làm ruộng, nằm trong lãnh thổ bản.
+ Công cụ lao động: Dân tộc Thái trên bước đường phát triển của mình
không thể không biết sử dụng các công cụ kim loại, trong sản xuất cũng như
trong sinh hoạt. Tuy nhiên, trong chế tác những kim loại đó, họ chưa có kỹ thuật
nấu, đúc, khoan mà chỉ biết rèn, gò ở trình độ thô sơ, đơn giản. Như đã nói đến ở
trên, trong tổng thể văn hóa thung lũng với nền nông nghiệp phức hợp thì việc
sản xuất các công cụ lao động tinh xảo, hầu như chưa được chú ý lắm. Trong
sáng tạo văn hóa trên cánh đồng lòng chảo và làm nương rẫy trên các sườn dốc,
dân tộc này chỉ cần có bốn công cụ kép có lưỡi kim loại là: Dao (mịt hay pạ), rìu
(khoan), cày (thay), và mai (lủa).

góc Nếp nhà sàn là một đơn vị không gian chứa đựng tế bào của xã hội. Đó có
thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa đến tuổi trưởng
thành, cũng có thể là tổ hợp gia đình lớn có từ hai cặp vợ chồng trở lên và đàn
con cháu của họ. Dù gia đình nhỏ hay lớn, đều có một sự thống nhất cộng đồng
tộc người trong giải pháp nội thất xử lý phân chia mặt bằng thành khái niệm:
Phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc thành hai phần. Tục ngữ
Thái có câu “đầu gối đất, chân kề nước” quy định tập quán nơi ngủ thống nhất
23
quay đầu về sườn núi, đó cũng là “mé đầu” hay “phía trên” của thân nhà; duỗi
chân về phía cánh đồng hay dòng suối, sông con, đây là “mé chân” hay “ phía
dưới”. Từ đó, nẩy sinh việc bố trí, sắp xếp thành một nửa là các gian ngủ của gia
đình. Trong nửa phía trên (đầu) chủ nhà bao giờ cũng nằm kề sát gian thờ tổ
tiên, tục gọi là “ngủ cài hóng”. Nếu là gia đình lớn thì tiếp đó là gian ngủ theo
thứ tự con cả đến con thứ…nửa phía dưới (chân) là nơi để tiếp khách, đặt bếp
núc và giành cho sinh hoạt ban ngày.
Phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang. Một bên là cầu thang dẫn lên
lan can đi vào cửa chính bên hồi để vào nội thất. Đầu tiên sẽ thấy “phía trên” có
gian thờ tổ tiên như được giấu kín trong buồng có vách ngăn - hóng; đối diện ở
phía dưới có khoang gọi là “gian cửa sổ tựa” để ngồi tựa hóng mát, tiếp khách lạ
và quý, đọc và viết lách khi cần thiết. Giữa nhà, nơi giáp với chân chỗ ngủ của
chủ nhà thường đặt thêm một bếp để sum họp gia đình. Nửa này tính từ phía
giữa gian nhà đổ về phía lan can hồi được gọi là “quản”, quy định giành chủ yếu
cho các sinh hoạt đàn ông. Một bên cầu thang dẫn lên sàn phơi và nơi đặt nước
dùng. Sàn phơi là nơi để thanh thiếu nữ ngồi kéo sợi, làm vải và là nơi ngồi tâm
tình cùng người yêu vào buổi tối. Qua cửa chính vào nội thất ở “phía dưới” sẽ
tiếp ngay với bếp ăn hàng ngày và đối diện về “phía trên” là nơi trang điểm và
sinh hoạt của phái đẹp - gọi là “cửa sổ gương”. Nửa này tính từ giữa nhà đổ về
phía sàn phơi gọi là “chan” quy định giành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn bà,
gắn với công việc nội trợ.
Nếp nhà sàn còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh. Theo cách tư

Thứ tư, vải vóc là văn hóa kỹ thuật mà người sản xuất phải trải qua quá
trình hiểu biết mới làm ra được. Bởi việc làm ra vải là cả một quá trình dài có
thể chia làm hai giai đoạn chính trong đó bao gồm nhiều những công việc khác
nhau: Trước hết là trồng bông và từ bông dệt thành vải. Sau đó là công đoạn
nhuộm sợi cũng rất phức tạp và cầu kỳ. Tấm thổ cẩm là một dải vải hoa văn dày,
màu sắc tươi mát, phong phú, trong đó, màu đỏ đóng vai trò chủ đạo được
nhuộm bằng cánh kiến nấu pha với nhựa cây rừng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status