ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ HƯỜNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA KINH BẮC
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 602285
Người hướng dẫn:
PGS. TS. ĐỖ NHẬT TÂN Hà Nội, 2010
108
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1. BẢN SẮC VĂN HÓA KINH BẮC - VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC 11
1.1. Một số khái niệm liên quan đến văn hóa Kinh Bắc 11
1.1.1. Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa 11
1.1.2. Văn hóa vùng, miền và bản sắc văn hóa vùng, miền 18
1.2. Khái niệm bản sắc văn hóa Kinh Bắc 20
3.1.1. Xu hướng tích cực 81
3.1.2. Xu hướng tiêu cực 82
3.2. Những nguyên tắc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Kinh Bắc
trong thời kỳ mới – đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế 83
3.2.1. Tuân theo những quan điểm của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng. 84
3.2.2. Chủ động hội nhập để tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại
trên cơ sở giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc 85
3.2.3. Không bảo thủ giữ nguyên cái cũ, không chịu đổi mới, tiếp thu cái
mới, cái tiến bộ 87
3.2.4. Không tự ti phủ định sạch trơn cái cũ, bắt chước dập khuôn cái mới
89
3.2.5. Bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa Kinh Bắc với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh
tế - xã hội ở Bắc Ninh – Kinh Bắc 89
3.3. Giải pháp và kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Kinh Bắc trong thời kỳ mới – đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế 90 110
3.3.1. Nhóm giải pháp và kiến nghị về nâng cao, thống nhất nhận thức tư
tưởng 90
3.3.2. Nhóm giải pháp và kiến nghị về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, quản lý 92
3.3.3. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ 95
3.3.4. Nhóm giải pháp và kiến nghị về cơ chế, chính sách 95
3.3.5. Nhóm giải pháp và kiến nghị về xây dựng môi trường văn hóa,
thiết chế văn hóa, sinh hoạt văn hóa ở địa phương và cơ sở 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
đây hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang lại được tách ra. Song nói đến xứ Bắc –
2
Kinh Bắc thì tỉnh Bắc Ninh ngày nay là địa bàn cốt lõi, trung tâm của xứ Bắc
– Kinh Bắc xưa.
Trải chiều dài lịch sử, Kinh Bắc – Bắc Ninh có vị thế và vai trò đặc biệt
quan trọng trong lịch sử dân tộc. Đó là mảnh đất vốn là một trong những cái
nôi sinh thành của dân tộc Việt, trung tâm diễn ra cuộc đấu tranh lâu dài và
khốc liệt của dân tộc chống xâm lược và đồng hóa trong suốt thiên niên kỷ
đầu công nguyên. Nơi đây là quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế -
triều đại mở nền văn minh Đại Việt, miền đất phên giậu phía Bắc của kinh
thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Dưới thời thuộc Hán - “thủ phủ”
vùng đất này - là cái nôi truyền bá Nho học và Phật học lớn nhất của người
Việt. Kinh Bắc - Bắc Ninh còn là một vùng đất lịch sử của những anh hùng,
cội nguồn của văn hóa - văn minh Đại Việt, đồng thời cũng là vùng đất cổ,
giàu truyền thống văn hiến, hiếu học, khoa bảng. Văn hóa Bắc Ninh – Kinh
Bắc phong phú và đặc sắc được thể hiện qua những công trình kiến trúc nghệ
thuật, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử- văn hóa, phong tục tập quán, các
sinh hoạt văn hóa dân gian.
Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập, đặc biệt năm 2006, thị xã Bắc
Ninh chính thức được công nhận là thành phố đô thị loại 3, đã tạo những bước
tiến vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển của địa phương. Bắc
Ninh hiện đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế,
tốc độ đô thị hóa với những biến đổi diễn ra mạnh mẽ nhanh chóng trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội làm cho đời sống nhân dân được cải thiện và
nâng lên đáng kể, hạ tầng cơ sở được kiến trúc, xây dựng khang trang hiện
đại; nhưng bên cạnh đó cũng khiến cho nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật
thể bị mai một, lạm dụng, xâm hại và thương mại hóa. Quá trình đô thị hóa
cùng với mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế cũng hình thành nên những chuẩn
mực mới trong đời sống tinh thần, dẫn đến “sự va chạm” giữa lối sống, lối tư
4
tới. Đây còn là một khoảng trống khoa học cần được nghiên cứu. Chính vì
vậy, tôi chọn đề tài “Giữ gìn bản sắc văn hóa Kinh Bắc trong thời kỳ mới –
đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp bậc Cao
học của mình.
II. Lịch sử nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận văn
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vùng quê Kinh Bắc và văn
hóa Kinh Bắc dưới nhiều góc độ: Lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học và ngôn
ngữ học như:
Cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, sách được viết xong năm 1435,
còn gọi là An Nam Vũ Cống. Trong tác phẩm sau phần giới thiệu qua vị trí
chung của toàn quốc, đơn vị hành chính, nhân khẩu, quốc hiệu, quốc đô qua
các thời đại, Nguyễn Trãi chép riêng các đạo thời Lê sơ. Riêng về Kinh Bắc
sách đã giới thiệu như sau: “Thiên Đức là tên sông, xưa là Bắc Giang, đời Lý
nhấc lên làm phủ. Vệ Linh là tên khác của núi Vũ Sơn. Đổng Thiên Vương
bay lên trời là ở nơi đây. Kinh Bắc xưa là bộ Vũ Ninh, tây và nam giáp
Thượng Kinh, Sơn Nam, đông và bắc giáp Thái Nguyên, Hải Dương. Đây là
trấn thứ tư trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên giậu phía bắc…”. Như
vậy, ngay từ thời đó, Kinh Bắc xưa đã được nhắc tới như một địa phương đất
tốt, vị trí quan trọng, với những nghề tiểu thủ công cổ truyền.
Cuốn thứ hai hết sức quan trọng là: Đại Nam nhất thống chí (Triều Tự
Đức, tập III, quyển XIX) khi giới thiệu về tỉnh Bắc Ninh đã nêu lên những sự
cải tạo và sử dụng tự nhiên của nhân dân thời đó đối với các yếu tố tự nhiên
và việc phát triển các hoạt động sản xuất của địa phương.
Cuối thời Lê, đầu Nguyễn đã xuất hiện sách Kinh Bắc phong thổ ký (kí
hiệu R986, thư viện Quốc gia), nằm trong sách Thiên tải nhàn đàm của Đàm
Nghĩa Am, là sách địa lý Việt Nam về đời Gia Long – Minh Mạng. Riêng
phần Kinh Bắc phong thổ ký có ghi rõ tác giả là Nguyễn Thăng, tri phủ Lạng
Giang, viết năm 1807 in trong phần phụ dẫn của sách Thiên tải nhàn đàm.
với những nghiên cứu về Đền Đô - một di tích lịch sử văn hóa trong các tác
phẩm “Chuyện kể ở Đền Đô” và cuốn “Di tích lịch sử Đền Đô”; nghiên
cứu về văn bia trên đất Kinh Bắc với các công trình “Văn bia văn miếu Bắc
Ninh” của Nguyễn Quang Khải, cuốn “Văn bia văn chỉ Yên Phụ”; tác giả
Nguyễn Hữu và Nguyễn Duy Hợp với nghiên cứu về “Chùa Dâu - Lịch sử
và truyền thuyết”.
Công trình nghiên cứu về “Gốm sành nâu ở Phù Lãng” trong luận văn
Tiến sĩ của tác giả Trương Thị Minh Hằng, 2005,
Tác giả Vương Xuân Tình thì lại tìm hiểu văn hóa Kinh Bắc trong
nghiên cứu về “Tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc”
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí như: “Pho
tượng Pháp Điện một kiệt tác nghệ thuật thế kỷ XVII” (Trà Hải), “Về vùng
văn hóa Luy Lâu - hồi cố và mấy suy nghĩ tản mạn” (Nguyễn Hữu Toàn),
“Bắc Ninh đất trăm nghề” (Trần Đình Luyện), “Lịch sử chùa Bút Tháp qua
tư liệu Hán Nôm” (Phạm Tuấn), “Tìm hiểu về quả chuông cổ nhất xứ Kinh
Bắc ở chùa Diên Phúc” (Nguyễn Khắc Bảo), “Tranh Đông Hồ nét văn hóa
Kinh Bắc” (Văn Côn), “Di tích lịch sử Bắc Ninh - Công tác quản lý và phát
huy giá trị” (Lê Viết Nga), “Nét đẹp kiến trúc dân gian ở làng Đình Bảng”
(Hồ Sĩ Tá)…
Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về văn hóa phi vật thể của văn hóa
Kinh Bắc.
Nhắc đến văn hóa phi vật thể của vùng văn hóa Kinh Bắc không thể
không nhắc tới những làn điệu dân ca Quan họ và các nghiên cứu về loại hình
văn hóa dân gian đặc trưng này.
Cuốn “Một số vấn đề về dân ca Quan họ” tập hợp một số bài tham luận
tại Hội nghị khoa học các năm từ 1965- 1971 do Ty Văn hóa Hà Bắc tổ chức
(Cuốn sách xuất bản năm 1972). Cuốn sách giúp người đọc cái nhìn tổng quát
7
về dân ca Quan họ trên nhiều phương diện khác nhau: nguồn gốc của dân ca
nghiên cứu tiêu biểu như cuốn “Lễ hội Bắc Ninh” của Trần Đình Luyện,
2003, Sở Văn hóa – Thông tin Bắc Ninh xuất bản, “Hội Lim, truyền thống và
hiện đại” (kỷ yếu hội thảo khoa học), Sở Văn hóa – Thông tin Bắc Ninh,
2004, “Một số sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng ở vùng Dâu” của (Nguyễn Hữu
Toàn), “Văn hóa truyền thống làng Viêm Xá” (Đỗ Thị Thủy).
Trong thời gian này còn có cuốn sách “Vùng văn hóa Quan họ Bắc
Ninh” là kết quả của chương trình hợp tác giữa Bộ Văn hóa – Thông tin và
Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh xây dựng hồ sơ trình UNESCO công
nhận Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân
loại. Cuốn sách dày hơn 1000 trang, được tuyển chọn từ các công trình nghiên
cứu về Quan họ Bắc Ninh từ trước đến nay, đã giới thiệu toàn vẹn về văn hóa
Quan họ.
Trong quá trình nghiên chúng tôi thấy có rất nhiều công trình, sách báo,
tài liệu nghiên cứu về văn hóa Kinh Bắc ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau,
có một số nghiên cứu đã nêu được nhiều nét đặc trưng của văn hóa Kinh Bắc;
một số khác nghiên cứu một cách rời rạc, lẻ tẻ một vài đặc trưng bản sắc văn
hóa Kinh Bắc mà chưa có công trình nghiên cứu và sách báo nào đề cập một
cách hệ thống những đặc trưng của bản sắc văn hóa Kinh Bắc, đặc biệt là vai
trò của nó đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và việc giữ gìn phát
huy nó trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
3.1. Mục đích
Thấy rõ được vai trò của bản sắc văn hóa Kinh Bắc trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của Kinh Bắc – Bắc Ninh nói riêng và xây dựng bảo
vệ Tổ quốc nói chung. Từ đó, có cách ứng xử phù hợp và giải pháp khả thi
9
nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Kinh Bắc trong thời kỳ mới – tiếp tục
đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ
quốc, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Góp phần làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa bản sắc văn hóa Kinh
Bắc với mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng biến đổi bản sắc văn
hóa Kinh Bắc trong thời kỳ mới tiếp tục đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa Kinh Bắc.
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
+ Giúp cho đảng bộ, chính quyền tỉnh Bắc Ninh nói riêng; Đảng, Nhà
nước và các cơ quan chức năng nói chung những cơ sở và luận cứ để chỉ đạo
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Kinh Bắc trong thời kỳ tiếp tục đẩy
mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
+ Có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập, giảng dạy.
VII. Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục;
phần nội dung gồm 3 chương với 9 tiết.
11
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
BẢN SẮC VĂN HÓA KINH BẮC - VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC 1.1. Một số khái niệm liên quan đến văn hóa Kinh Bắc
1.1.1. Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa
- Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú. Mọi sự vật
hiện tượng, mọi quá trình trong thế giới vật chất lẫn tinh thần có mối liên hệ
với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức, tác động và ảnh hưởng
trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa của nó. Để có một quan niệm đầy
hai vai)
Trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, Hà
Nội, 2005, tập 4, trang 798 đưa ra khái niệm văn hóa một cách khái quát:
“Là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một
nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước”. Khái niệm văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa
nhân văn rất rộng [60, tr. 798].
Các - pốp nhà văn hóa thuộc Liên Xô định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ
của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội
và lịch sử của loài người”.“Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp,
có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa
biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội”.
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, từ
việc phân tích đi đến xác định được bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa mà
13
tổng hợp lại, đã nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Học giả Đào Duy Anh định nghĩa: “Văn hóa là văn vật và giáo hóa,
văn hóa là giáo hóa con người trở nên đẹp đẽ” [1, tr. 13].
GS. Trần Quốc Vượng định nghĩa: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như
lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử. Văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ
thuật, học vấn… và tùy từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác
nhau. Ví dụ xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là cái tự nhiên được biến
đổi bởi bản tay của con người” [57, tr. 16].
Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới
và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống,
tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ. Có thể tìm thấy những biểu hiện
hệ giữa dân tộc và văn hóa trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Tính dân
tộc là nội dung quan trọng, luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu, vì đó là
tính chất cốt lõi của một nền văn hóa.
Như vậy văn hóa của một dân tộc hiểu theo nghĩa căn bản nhất là toàn
bộ những cái qua đó một dân tộc tự biểu hiện mình, tự nhận biết mình và giúp
các dân tộc khác tự nhận biết mình. Bởi vậy, văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất
tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc, đồng thời cũng là nơi thể hiện ý thức và
những phương thức tiếp nhận những giá trị của các dân tộc khác theo tinh
thần cùng tham dự và cùng chia sẻ.
Từ rất nhiều cách định nghĩa trên về văn hóa, song chúng ta có thể
thấy: văn hóa không chỉ là lối sống, là tổng hợp những lĩnh vực khác nhau
như: khoa học, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật… mà nó còn là
những đặc trưng phổ quát nhất, tồn tại trong tất cả các giá trị vật chất, tinh
15
thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa không phải là một vật cụ thể, người ta
không thể tìm được sự vật hiện hình nào dưới cái tên văn hóa, nhưng ngược
lại sự vật hiện tượng nào kể cả trong tự nhiên, một khi đã đặt trong mối quan
hệ với con người đều biểu hiện mặt văn hóa của nó. Như vậy văn hóa vừa là
cụ thể, vừa là trừu tượng.
Từ những sự lý giải trên, theo chúng tôi: Văn hóa là hệ thống những
giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong mọi lối sống nếp sống vật chất và
tinh thần của một cộng đồng người hay một quốc gia.
- Khái niệm bản sắc văn hóa
Cốt lõi của văn hóa là bản sắc văn hóa. Theo nghĩa từ điển (Hán Việt),
bản sắc được giải thích như sau: bản là gốc, cái thuộc về phần mình, gốc là
đầu mọi việc; sắc là màu, vẻ, dung mạo. Bản sắc còn có một nghĩa khác là
tính chất đặc biệt vốn có. Trong tiếng Anh, từ identity có nghĩa là đồng nhất.
Sự đồng nhất hoá làm nên bản sắc của một đối tượng…
Với những nghĩa trên, đã đưa đến nhiều cách giải thích khác nhau về
tích cực. Nó giúp chủ thể luôn có diện mạo mới mà không đánh mất sắc diện
của mình.
Trong mối quan hệ với văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, bản sắc
văn hóa được xếp vào văn hoá phi vật thể nhưng không có quan hệ “ngang
hàng” với văn hoá phi vật thể. Bản sắc văn hóa chi phối, định hướng cho văn
hoá phi vật thể. Quan hệ chi phối này không phải là quan hệ giữa cái bên
ngoài đối với cái bên trong mà là quan hệ nội tại. Có thể gọi đây là quan hệ
tâm và biên. Bản sắc văn hóa ở vị trí tâm. Nếu tâm thay đổi thì biên thay đổi
và ngược lại.
Giữa văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể có mối quan hệ hữu cơ
nhưng xét theo trục thời gian thì văn hoá phi vật thể là cái có trước. Cũng xét
theo trục thời gian, bản sắc văn hóa là cái tiềm ẩn, có tính xuyên suốt, nhưng
17
là cái chi phối, cái định hướng, cho nên nó là cái có trước văn hoá phi vật thể
(thuộc biên) và văn hoá vật thể.
Khi lần tìm bản sắc văn hóa, chúng ta chỉ có thể tập trung xem xét
những biểu hiện của cốt cách, tinh thần dân tộc đó trong đời sống thực tế.
Những biểu hiện đó không phải do ngẫu nhiên, không phải không có tính mục
đích mà thường gắn với những mối quan hệ cụ thể, vận động theo một thiên
hướng rõ ràng, có thể xác định tinh thần, cốt cách của một dân tộc qua 3 mối
quan hệ:
- Quan hệ giữa chủ thể văn hoá với hiện thực khách quan (nhận thức và
ứng xử với thế giới khách quan).
- Quan hệ giữa chủ thể văn hoá với môi trường xã hội, chủ yếu là
quan hệ với văn hoá ngoại nhập (nhận thức và ứng xử với các yếu tố văn
hoá ngoại nhập).
- Quan hệ giữa chủ thể văn hoá với chính sản phẩm của mình - văn hoá
truyền thống (nhận thức và ứng xử với các yếu tố văn hoá truyền thống).
Nếu làm rõ 3 mối quan hệ trên chúng ta có thể xác định bản sắc văn
những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp lên qua lịch sử hàng nghìn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc của cộng
đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn,
ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân,
gia đình, làng nước, lòng nhân ái bao dung, trọng tình đạo lý, đầu óc thực tế,
tinh thần cần cù sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong
lối sống”. [67, tr. 30].
1.1.2. Văn hóa vùng, miền và bản sắc văn hóa vùng, miền
- Khái niệm văn hóa vùng, miền
Vùng, miền văn hóa là hiện tượng, thực thể xã hội – lịch sử đã được
các nhà văn hóa học nghiên cứu và phân định. Trong quá trình hình thành, tồn
19
tại và phát triển, mỗi nền văn hóa thường được hợp thành bởi các vùng, miền
văn hóa với những đặc trưng, sắc thái riêng làm thành tính thống nhất và đa
dạng của các nền văn hóa.
Về khái niệm văn hóa vùng, miền, cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam,
Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005, trang 818 viết: “Là một thực thể văn
hóa bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng và các vùng khác
không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu. Những nét đặc trưng
văn hóa vùng thể hiện trên các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể trên các
lĩnh vực kinh tế (làm ruộng nước hay nương rẫy, trồng trọt hay tiến hành kinh
tế chiếm đoạt, thừa hưởng của cải sẵn có của tự nhiên ), văn hóa vật chất
(nhà cửa, y phục, trang sức, ăn uống, phương tiện di chuyển), văn hóa xã hội
(các chu kỳ trong đời người: cưới xin, sinh đẻ, ma chay, nếp sống), văn hóa
tinh thần (tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng,…) [61,
tr. 818].
Học thuyết của các nhà dân tộc học Xô Viết trước đây về khu vực
lịch sử - dân tộc học, hay lịch sử - văn hóa, thực chất là học thuyết về vùng
văn hóa.
miền nhất định.
1.2. Khái niệm bản sắc văn hóa Kinh Bắc
1.2.1. Điều kiện hình thành bản sắc văn hóa Kinh Bắc
Có một vùng quê nằm ven sông Cầu, trên vùng châu thổ sông Hồng
nặng phù sa xanh rờn ngô lúa, xóm làng quần tụ bao đời, một vùng lịch sử và
văn hóa, nơi có truyền thống khoa bảng và là nơi lưu giữ những huyền thoại
đẹp với bao di tích và lễ hội dân gian. Trên bản đồ Việt Nam đó là tỉnh Bắc
Ninh thuộc xứ Kinh Bắc trong lịch sử. Vùng đất này chẳng những là nơi trù
phú về kinh tế, là trung tâm giao lưu văn hóa, mà còn là nơi có phong cảnh