Tiểu luận Triết học
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CAO HỌC KHÓA K19
…………………...
..
…..……………….
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM
DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH
THẦN NGƯỜI VIỆT
GVHD : TS Bùi Văn Mưa
SVTH
: Thạch Tố Kim
LỚP
: D1K19
THÁNG 3 NĂM 2010
1
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
tư duy tổng hợp và trong quan hệ biện chứng, để lại dấu ấn sâu đậm hơn cả là những tri
thức về vũ trụ quan và nhân sinh quan.
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và văn hóa dân tộc ngày càng
trở thành trung tâm của sự chú ý. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định vai trò quan
trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người và đặt mục tiêu “
xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Chính vì thế, sự tìm hiểu nguồn gốc, học thuyết Âm Dương, Ngũ hành là một việc cần
thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông và văn hóa Việt Nam. Do đó
tôi chọn đề tài “ Tư tưởng triết học của Âm Dương Gia và sự ảnh hưởng của nó đến
đời sống văn hóa tinh thần người Việt”.
2
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I.
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
1. Triết lí âm dương: khái niệm, nguồn gốc và bản chất
1.1.
Âm dương theo Dịch học
Học thuyết Âm-Dương được thể hiện sâu sắc trong "Kinh Dịch". Trời đất vạn vật nói
chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm Dương và
Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa.Thái Cực này vận động biến thành
hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương luôn luôn chuyển hóa làm cho vũ trụ vận động
dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu
nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách "Quốc
ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn,
dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có
động đất".
3
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm Âm-Dương. Ông
nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”, ông không
những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định
trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó là Âm-Dương.
Nói về nguồn gốc của âm dương và triết lí âm dương, theo rất nhiều người như Khổng
An Quốc và Lưu Hâm ( nhà Hán) cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo. Tương
truyền, Phục Hy (2852 trước CN) đi chơi ở sông Hoàng Hà nhìn thấy bức đồ bình trên
lưng con Long Mã (con vật tưởng tượng mình ngựa đầu rồng) mà hiểu được lẽ biến hóa
của vũ trụ, Phục Hy mới đem lẽ đó vạch thành nét làm ra Hà Đồ.
Lại có một số tài liệu cho rằng đó là công lao của “ âm dương gia”, một giáo phái của
Trung Quốc.
Nhưng Phục Hy chỉ là nhân vật huyền thoại, không có thực còn âm dương gia chỉ có
công áp dụng âm dương để giải thích địa lí- lịch sử, và phái này hình thành vào thế kỉ thứ
ba nên không thể sáng tạo âm dương. Vì vậy cả hai giả thuyết này đều không có cơ sở
khoa học.
Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận “ khái
niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam” ( “ phương nam” ở đây bao gồm vùng nam
Trung Hoa từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam). Trong quá trình phát triển,
nước Trung Hoa đã trãi qua hai thời kì: thời kì “ Đông tiến”, và thời kì “ Nam tiến”.
Trong quá trình “ Nam tiến”, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân
thuộc âm; giống đực không có khả năng ấy, một là một, nên số "lẻ" thuộc dương.
Điều này giải thích tại sao quẻ dương là một vạch dài (-), còn quẻ âm là hai vạch
ngắn (--).
Về hình khối thì khối vuông ổn định, tĩnh, tỷ lệ giữa cạnh và chu vi là 1:4, số 4 là
số chẵn, chính vì thế mà khối vuông thuộc âm; hình cầu không ổn định, động, tỷ lệ
giữa đường kính và chu vi là 1:3 (số π), số 3 là số lẻ, chính vì vậy mà khối cầu
thuộc dương.
Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương. Triết lý âm
dương không phải là triết lý về các cặp đối lập. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có các
phạm trù đối lập nhau, ngôn ngữ của tất cả các dân tộc đều có từ trái nghĩa. Điều quan
trọng của triết lý âm dương chính ở bản chất và quan hệ của hai khái niệm âm dương. Đó
chính là điều khác biệt triết lý âm dương với các triết lý khác.
3. Các quy luật của triết lý âm và dương
Tất cả các đặc điểm của triết lý âm dương đều tuân theo hai quy luật cơ bản. Đó là quy
luật về bản chất của các thành tố và quy luật về quan hệ giữa các thành tố.
3.1.
Quy luật về bản chất của các thành tố của triết lý âm dương là:
Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương
Trong âm có dương, trong dương có âm.
Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối, trong sự
so sánh với một vật khác. Ví dụ về trong âm có dương: đất lạnh nên thuộc âm nhưng
giới tính là âm, nhưng xét về tính cách có thể là dương…
3.2.
Quy luật về quan hệ giữa các thành tố của triết lý âm dương là:
Âm dương gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau.
Âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng
cực thì chuyển thành âm.
Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho nhau. Cây
màu xanh từ đất "đen", sau khi lớn chín "vàng" rồi hóa "đỏ" và cuối cùng lại rụng xuống
và thối rữa để trở lại màu "đen" của đất. Từ nước lạnh (âm) nếu được đun nóng đến cùng
cực thì bốc hơi lên trời (thành dương), và ngược lại, nếu được làm lạnh đến cùng cực thì
nó sẽ thành nước đá (thành dương).
Âm và Dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố (lực lượng) mà còn phản ánh hai loại
khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau xoắn vào nhau; trong âm có
dương và trong dương có âm. Đó cũng là sự thống nhất giữa cái động và cái tĩnh; trong
động có tĩnh, trong tĩnh có động… nghĩa là trong âm và dương đều có tĩnh và có động,
chỉ khác ở chỗ, bản tính của âm thì hiếu tĩnh, còn bản tính của dương thì hiếu động…
Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dương có động, mà động thì sinh ra biến;
biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cữu được. Chính sự thống
nhất và tác động của hai lực lượng , khuynh hướng đối lập âm và dương tạo ra sự sinh
thành biến hóa của vạn vật; khi vạn vật biến hóa tới cùng thì quay trở lại cái ban đầu.
Biểu tượng Thái cực (hình thành trong đạo giáo vào đầu công nguyên) phản ánh đầy đủ
biệt lập của văn hóa du mục; trong khi quy luật của triết lý âm dương là điển hình của tư
duy tổng hợp, chú trọng đến các quan hệ của văn hóa nông nghiệp.
5. Hai hướng phát triển của triết lý âm dương
7
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Triết lý âm dương là cơ sở để xây dựng lên hai hệ thống triết lý khác đó là hệ thống "tam
tài, ngũ hành" và "tứ tượng, bát quái".
Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân
tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng. Nhưng nếu
xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc
nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân
tích. Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam
Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy âm dương sơ khai mang tính tổng hợp.
Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên người Hán cũng vậy,
sau khi tiếp thu triết lý âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân
tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý âm dương
ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau.
Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra mô hình vũ
trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (ngũ hành). Chính
vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "nhất
sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của
phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9
xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản" ...
Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi âm dương là lưỡng
nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng
thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau:
"lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh
Tiểu luận Triết học
số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời
lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim,
trời lấy số 9 mà làm cho thành.
2. Ngũ hành là gì?
Theo thuyết duy vật cổ đại thì tất cả vật chất cụ thể được tạo thành trong vũ trụ đều do
năm nguyên tố cơ bản ban đầu tạo thành và luôn trãi qua năm trạng thái gọi là: Kim,
Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ( tức là Kim loại, Cây, Nước, Lửa, Đất). Năm trạng thái này gọi là
Ngũ hành, không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen theo tên gọi của
chúng mà đúng hơn là cách quy ước từ xưa để xem xét mối tương tác quan hệ của vạn
vật.
3. Cơ sở Ngũ hành- Hà Đồ.
3.1.
Hà Đồ
Hà Đồ là một hệ thống gồm những chấm đen hoặc trắng được sắp xếp theo những cách
thức nhất định
Hình Hà Đồ
Những nhóm chấm- vạch ấy chính là những kí hiệu biểu thị 10 số tự nhiên từ 1 đến 10 ở
thời kì chưa có chữ viết, nhưng đã xuất hiện triết lí âm dương, bởi các chấm trắng là các
số dương (số lẻ), và các chấm đen biểu thị các số âm (số chẵn).
Đây là sản phẩm mang tính triết lí sâu sắc của lối tư duy tổng hợp:
Thứ nhất, đó là sự tổng hợp giữa số học và hình học (người làm nông vừa tính đếm, vừa
đo đạt ruộng đất): 10 con số được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 1 số âm (chẵn) và
một số dương (lẻ), gắn với một phương Băc- Nam- Đông- Tây và trung ương ( nơi con
người đứng- không có trung ương thì không thể nào xác định bắc- nam- đông- tây được).
10
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
5-10 Hành Thổ, ở Trung Tâm.
Ngũ hành được xây dựng như thế chính là một mô hình 5 yếu tố về cấu trúc không gian
của vũ trụ. Sự sắp xếp các hành theo phương cho thấy rõ nguồn gốc nông nghiệp của
ngũ hành: đối với nông nghiệp không gì quan trọng hơn đất, cho nên hành Thổ được đặt
vào trung ương, cai quản bốn phương. Sau đất thì đến nước, nên hành Thủy ứng với số 1,
11
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
là khởi đầu, Thủy là âm nên ở phương Bắc; Hỏa là dương nên ở phương Nam. Hành Mộc
(dương), bởi cây cối là sự sống, xanh tốt vào buổi sáng, mùa xuân nên ứng với phương
Đông dương tính, còn hành Kim (âm bởi kim loại tĩnh) ứng với phương Tây âm tính .
Các hành được sắp xếp theo thứ tự của Hà Đồ là thứ tự Thủy- Hỏa- Mộc- Kim- Thổ. Thứ
tự quen dùng “ Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ” là thứ tự đã bị sau này làm cho sai lạc.
Ngũ hành tương sinh theo Hà Đồ
Giữa các hành có quan hệ tương sinh: quan hệ này xác định giữa từng cặp hai thành một
theo trật tự kim đồng hồ của ngũ hành theo Hà Đồ. Ngoài tương sinh giữa các hành còn
có quan hệ tương khắc.
4. Các quy luật tương sinh và tương khắc trong Ngũ hành
Học thuyết Ngũ hành diễn giải sự sinh hóa của vạn vật qua hai nguyên lí cơ bản gọi là
Tương Sinh và Tương Khắc trong mối tương tác và quan hệ của chúng.
Thủy sinh Mộc ( ví du: nước giúp cây tươi tốt).
Mộc sinh Hỏa (ví dụ: gỗ làm nhiên liệu cho lửa).
Hỏa sinh Thổ ( ví dụ: lửa đốt tro bụi làm cho đất màu mỡ).
Thổ sinh Kim (ví dụ: trong lòng đất sinh ra kim loại).
Kim sinh Thủy (ví dụ: kim loại nóng chảy trở về thể lỏng).
Ngũ hành tương sinh thực chất là sự chi tiết hóa của âm dương chuyển hóa (Thủy là cực
âm và Hỏa là cực dương).
luôn có mầm mống của tương sinh, trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc.
Do đó vạn vật luôn luôn tồn tại và phát triển.
Lấy Ngũ hành theo Hà Đồ làm gốc, kéo hành Thổ từ trung tâm ra biên, biểu diễn mối
quan hệ tương sinh tương khắc trong hình ngôi sao.Các mũi tên liền nét theo vòng thuận
chiều kim đồng hồ biểu thị quan hệ ngũ hành tương sinh, còn các mũi tên không liền nét
vẽ heo hình ngôi sao bên trong biểu thị ngũ hành tương khắc.
Ngũ hành tương sinh- tương khắc
13
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Với tư cách một mô hình bộ 5 về cấu trúc không gian của vũ trụ, Ngũ hành có các ưu có
các ưu điểm:
Có số lượng thành tố vừa phải ( không nhiều quá không ít quá).
Có số lượng thành tố lẻ ( bao quát được trung tâm).
Có số lượng về mối quan hệ tối đa.
Về mặt toán học, người ta đã chúng minh rằng hệ thống 5 trung tâm chính là hệ thống tự
điều chỉnh ưu việt nhất.
Tóm lại, thuyết Ngũ hành đã khẳng định tính vật chất của thế giới; Vạn vật và thế giới
không ở trong trạng thái tĩnh mà ở trong trạng thái động và không tồn tại tách biệt lẫn
nhau mà tồn tại trong mối quan hệ mật thiết chuyển lẫn nhau. Tuy nhiên, hạn chế của
Ngũ hành là đã coi sự vận động và quan hệ của vạn vật chỉ đi theo chu trình tuần hoàn,
lập lại.
5. Mối quan hệ giữa âm dương và Ngũ hành
Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với
hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỉ
cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn
khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết Ngũ hành để
phương chính Nam- Bắc được bốn phương Nam- Bắc- Đông- Tây). Rồi từ Tứ tượng
phân đôi tiếp thành Bát Quái có tám quẻ (Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn);
mỗi quẻ được biểu thị bằng ba vạch liền (lẻ, dương) và hoặc đứt (chẵn, âm). Bát quái
Tiên thiên biểu tượng cho 8 hiện tượng tự nhiên: Trời- Đầm- Lửa- Sấm- Gió- NướcNúi- Đất. Bát quái Hậu thiên biểu tượng cho cha mẹ và 6 con trong gia đình.
Bát Quái
La bàn Bát quái có năm vòng tròn: giữa là Thái cực, vòng hai là lưỡng nghi, vòng ba là tứ
tượng, vòng bốn là bát quái, vòng năm 64 quái. Theo Kinh dịch thì vũ trụ biến dịch từ Vô
cực đến Thái cực. Lưỡng nghi: nghi dương ký hiệu là vạch liền (-), nghi âm ký hiệu là
vạch đứt (- -). Ta lấy dương chồng lên dương và lấy âm chồng lên dương sẽ được hai
hình tượng Thái Dương biểu tượng cho lửa và Thiếu Dương biểu tượng cho kim khí; Ta
lại lấy âm chồng lên âm và dương chồng lên âm sẽ được hai hình tượng Thái Âm biểu
tượng cho nước và Thiếu Âm biểu tượng cho gỗ. Chúng ta lấy dương lần lượt chồng lên
Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm và sau đó lấy âm lần lượt chồng lên Thái
Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương ta sẽ được hình tượng của Bát quái: Kiền là
Trời, Ly là lửa, Cấn là núi, Tốn là gió, Khôn là đất, Khảm là nước, Đoài là đầm, Chấn là
sấm.
Trong tám quẻ đơn chỉ Chấn, Đoài là thuận. Mỗi quẻ có ba vạch gọi là ba hào. Hào trên
là hào hạ tượng trưng cho đất- âm; hào giữa là hào trung tượng trưng cho người; hào dưới
là hào thượng tượng trưng cho trời- dương.
15
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Lấy mỗi quẻ trong tám quẻ ấy lần lượt chồng lên cả tám quẻ sẽ tạo ra 64 quẻ kép. Mỗi
quẻ kép có 6 hào, ba hào trên là ngoại quẻ, ba hào dưới là nội quẻ. Chẳng hạn các quẻ
trùng quái: Trùng Kiền (2 kiền), Trùng Khôn (2 khôn), Truân (Khảm dưới, chấn trên),
Mông (Khảm dưới, cấn trên), Nhu (Cấn dưới, khảm trên), Tụy (Khảm dưới, càn trên),
phương thức giao tiếp…
16
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Văn hóa có tính nhân sinh: Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện
tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con
người. Sự tác động con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần. Do
mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực
hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con người lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là
hình thức giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
Văn hóa còn có tính lịch sử: Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá
trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một
chiều sâu; buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố các
giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng hệ thống văn hóa.
Tính lịch sử còn được thể hiện bằng truyền thống văn hóa, đó là những giá trị tương đối
ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được
đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục tập
quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…
3. Khái quát văn hóa Việt Nam
Văn hóa Việt Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước, có thể chia thành 6
giai đoạn: văn hóa tiền sử; văn hóa Văn Lang- Âu Lạc; văn hóa thời chống Bắc thuộc;
văn hóa đại Việt; văn hóa địa Nam và văn hóa hiện đại. Sáu giai đoạn này tạo thành ba
lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa
giao lưu với phương Tây. Trong đó:
Thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp văn hóa giao lưu với phương Tây thì có
các tri thức khoa học.
Thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu
vực thì để lại dấu ấn sâu đậm về vũ trụ quan và nhân sinh quan do Tam giao ( Nho giáoPhật giáo- Đạo giáo) mang lại.
hướng cặp đôi ở khắp nơi: từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói
quen hiện đại:
Đa số các quốc gia trên thế giới, biểu tượng vật tổ của các dân tộc thường là một
loài động vật cụ thể (sư tử, chim ưng, đại bang…) trong khi đó vật tổ của người
Việt Nam lại là một cặp đôi trừu tượng Tiên- Rồng. Kể cả những dân tộc thiểu
số cũng có khái niệm truyền thuyết mang tính cặp đôi: người Mường (chim Âycái Ứa); người Thái (nàng Kè- Tạo Cặp)… đây là những dấu vết của tư duy âm
dương thời xa xưa.
Ở Việt Nam, mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tắc âm dương hài hòa:
ông Đồng- bà Cốt, đồng Cô- đồng Cậu,… Khi sinh âm dương (xin keo) thì hai
đồng tiền phải một ngửa một sấp; ngói âm dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp;
khi ghép gỗ thì phải một tấm gờ lồi ra khớp với tấm kia có rãnh lõm vào… Lối tư
duy âm dương khiến người Việt khi nói đất, núi liền nghĩ ngay đến nước, nói đến
18
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
cha là nghĩ ngay đến mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nuo1c trong
nguồn chảy ra”.
Đối với người Viện Nam tổ quốc là một khối âm dương đất nước: “ đất- nước”, “
núi- nước”, “ non- nước”, “ nước- lửa”… là những cặp khái niệm thường trực.
Ngay cả ở Tây nguyên phần lớn tên gọi các địa danh đều bắt đầu bằng chư ( núi)
và krông hay dak ( sông hay nước), ví dụ: Chư Sê, Kroong Pa, Dak B’la…
(dương) được đặt ở phía bắc (âm), ngược lại các vật bằng gốm đất (âm) lại được đặt ở
19
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
phía nam (dương). Cách sắp xếp âm dương bù trừ này rõ ràng là để tạo ra sự quân bình.
Ngay cả hộ pháp ở chùa cũng có ông Thiện và ông Ác do triết lí âm dương này.
Chính triết lí quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt một khả năng thích nghi cao
với mọi hoàn cảnh (lối sống linh hoạt), không chán nản dù khó khăn, tinh thần lạc quan:
thời trẻ khổ thì tin rằng về già sẽ sướng, suốt đời khổ thì tin rằng đời con mình sẽ sướng
(không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời…).
3. Triết lí về cấu trúc thời gian của vũ trụ
Nghề nông rất cần biết về thời tiết, khí hậu, vòng quay bốn mùa, cho nên trên thế giới
này, mọi nền lịch pháp đều là sản phẩm của các vùng văn hóa nông nghiệp. Có ba loại
lịch cơ bản: lịch thuần dương, lịch thuần âm, và lịch âm dương.
Lịch của Á Đông mà ta thường gọi là lịch “ lịch âm” thực chất là một thứ lịch âm dương.
Là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp, nó đã kết hợp được cả chu kì mặt trăng lẫn mặt trời.
4. Triết lí âm dương qua tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật thanh sắc, quan
niệm về ăn của con người Việt Nam
4.1.
Tín ngưỡng
Duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Đối với văn
hóa nông nghiệp, để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt. Để phát triển sự sống,
cần cho con người sinh sôi. Hai hình thức sản xuất lúa gạo (để duy trì sự sống) và sản
xuất con người (để kế tục dòng giống) này có bản chất giống nhau, đó là sự kết hợp của
hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha).
Theo triết lí âm dương, âm ứng với số chẵn, dương ứng với số lẻ, vì vậy mọi thứ liên
quan đến người chết (âm) đều ứng với số chẵn: Lạy trước linh cữu thì phải lạy hai hoặc
bốn lạy, ở nhà mồ các dân tộc miền núi số bậc than phải là số chẵn. Khác với người sống
(dương) mọi thứ phải theo số lẻ: lạy người sống phải là 1 hoặc 3 lạy, cầu thang lối lên
nhà phải có số lẻ.
Cũng theo luật âm dương, việc phân biệt tang cha với tang mẹ: khi con trai chống gậy để
tang thì cha gậy tre, mẹ gậy vông (vì thân tre tròn- dương, cành vông đẽo thành hình
vuông- âm). Đưa tang và để tang còn có tục cha đưa mẹ đón, và tục mặc áo tang cha thì
trở bằng sống lưng ra, tang mẹ thì trở bằng sống lưng vô, điều này thể hiện triết lí âm
dương qua cặp nghĩa hướng ngoại (dương- cha), hướng nội (âm- mẹ).
4.2.3. Nghệ thuật thanh sắc
Giống như ngôn từ, tính biểu trưng của nghệ thuật thanh sắc Việt Nam thể hiện trước hết
ở nguyên lí đối xứng hài hòa, nghệ thuật múa tuân thủ chặc chẽ luật âm dương với các
đội hình phổ biến: hình tròn và hình vuông; với nguyên lí xây dựng trên cơ sở những
tương quan cặp đôi giữa các bộ phận của cơ thể, các phần của động tác.
4.2.4. Quan niệm về ăn
Tục ăn trầu tìm ẩn triết lí về sự tổng hợp của nhiều chất khác nhau: cây cau vươn cao là
biểu tượng của trời (dương), vôi chất đá là biểu tượng của đất (âm), dây trầu mọc từ đất
quấn lấy thân cây, biểu tượng cho sự trung gian hòa hợp. Đó là sự tổng hợp của biện
chứng âm- dương, tam tài.
Biểu hiện quan trọng hơn cả của tính biện chứng trong việc ăn là ở chỗ người Việt Nam
đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chứng âm dương. Bao gồm ba mặt liên quan mật
thiết với nhau: sự hài hòa âm dương của thức ăn, sự quân bình âm dương trong cơ thể, sự
cân bằng âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên.
21
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim
Tiểu luận Triết học
Để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm dương, người Việt phân biệt thức ăn
Mộc
Hỏa
2
Thổ
Mộc
3
Hỏa
Kim
4
Thủy
Thổ
5
Kim
Hỏa
Kim
Thổ
Mộc
Thủy
Nước
Bắc
Cay
Tròn
9
10
Màu biểu
Vật biểu
Mặn
Ngoằn
ngoèo
Đen
rùa
Đất
Trung
ương
Khoảng
giữa các
mùa
Ngọt
vuông
Đỏ
Chim
Xanh
Rồng
Trong vũ trụ có âm dương con người cũng vậy: theo quan hệ trên dưới, từ ngực trở lên là
phần dương, từ bụng trở xuống là âm; trán là dương, cằm là âm; mu bàn tay, mu bàn chân
là dương, lòng bàn tay lòng bàn chân là âm. Theo quan hệ trước sau: bụng là âm, lưng là
dương… Cứ như vậy có thể phân biệt âm dương tới từng bộ phận cơ thể.
Với cơ chế Ngũ hành trong cơ thể người cho phép chúng ta nhìn thấy, một mặt các quan
hệ hàng ngang các yếu tố cùng loại qua luật tương sinh- tương khắc, mặt khác là quan hệ
hàng dọc giữa các yếu tố khác loại nằm trong cùng cột, ứng với cùng một hành. Những
mối liên hệ hệ thống ấy chính là cơ sở của cách chuẩn đoán và chữa bệnh Đông y.
Stt
1
2
3
1
2
3
4
Lĩnh vực
Số Hà Đồ
Hành được
sinh
Hành bị
khắc
Ngũ tạng
Ngũ phủ
Ngũ quan
Ngũ chất
Thủy
1
Tai
Xương tủy
Tâm
Tiểu tràng
Lưỡi
Huyết
mạch
Can
Đởm
Mắt
Gân
Phế
Đại tràng
Mũi
Da, lông
tì
Vị
Miệng
Thịt
Ngũ hành trong cơ thể người
Vai trò của số 5 đối với nền văn hóa nông nghiệp Nam- Á lớn đếm mức người Việt Nam
ta có tục kính nể con số 5, kiêng con số 5 và kiêng luôn cả các cặp số cấu thành nên nó:
Mồng năm, mười bốn, hai ba: đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn!
23
8. Web Tạp chí Triết học.
25
Học viên thực hiện: Thạch Tố Kim