LUẬN văn sự du nhập, phát triển của phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở nhật bản - Pdf 33

z

LUẬN VĂN:

Sự du nhập, phát triển của Phật giáo và
ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa
tinh thần ở Nhật Bản


mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ra đời và tồn tại hàng vạn năm nay
với nhân loại, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảo nhân dân ở hầu khắp các
quốc gia trên hành tinh này. Với con số hàng tỷ người trên thế giới và gần như 100%
dân cư ở nhiều nước cụ thể theo các tôn giáo khác nhau đã nói rõ nhu cầu đó. Tôn giáo
đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống xã hội nhiều mặt của con người.
Tuy nhiên, xung quanh hiện tượng tôn giáo đang còn nhiều ý kiến khác nhau
trong giới nghiên cứu (và có thể nói là một trong những hiện tượng xã hội có nhiều
tranh cãi nhất). Chẳng hạn, tôn giáo là một hiện tượng tích cực hay tiêu cực, có ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống con người, xã hội và đánh giá nó trên cơ sở khoa học
nào. Về mặt hình thái ý thức xã hội, tôn giáo lâu nay được xem như đối lập với khoa
học và nếu vậy thì cắt nghĩa như thế nào về hiện tượng tôn giáo có chiều hướng gia tăng
hiện nay trong khi có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ trên phạm vi toàn
thế giới cũng như mỗi quốc gia? vấn đề quan hệ hay tác động, ảnh hưởng qua lại giữa
tôn giáo với chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa học... như thế nào và bản thân tôn giáo
trong nội dung các quan niệm của mình có chứa đựng các yếu tố chính trị, văn hóa, đạo
đức, khoa học không?...
Có thể nói, những vấn đề trên đây là những vấn đề có phạm vi rộng lớn và có
tính thời sự cấp thiết, nhất là vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội, con người
cần được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên các lĩnh vực khác nhau.
Nhật Bản là quốc gia có trình độ phát triển cao trên nhiều lĩnh vực. Trong

Nhật Bản cũng đã được đề cập. Có thể thấy, Phật giáo được xem là một trong những
nhân tố góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đầy tính đa sắc, độc đáo của Nhật Bản.
Ngoài những tác phẩm đã được kể trên, những công trình khoa học khác như Nhật
Bản tăng cường hiểu biết và hợp tác (1994-1995); Sổ tay nghệ thuật Nhật Bản (dịch
năm 1990) hay nhiều công trình trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản đã đưa lại một cách


nhìn ngày càng đầy đủ và chân thực về văn hóa Nhật Bản nói chung, diện mạo Phật giáo
Nhật Bản nói riêng.
Mặc dù vậy, việc nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống lịch sử Phật giáo ở
Nhật Bản cũng như những ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội vẫn rất cần được
tiếp xúc. Lý do cơ bản trong nghiên cứu Phật giáo ở Nhật Bản vẫn đang tồn tại nhiều
bất đồng. Chẳng hạn những nguyên nhân nào làm cho Phật giáo tồn tại và phát triển ở
Nhật Bản hay trong đời sống tinh thần của người Nhật hiện nay thì Phật giáo có vị thế
đến đâu? Tại sao Thiền là yếu tố trội của Phật giáo ở Nhật Bản?...
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Khái quát một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triển của Phật
giáo ở Nhật Bản cũng như một số ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở
Nhật Bản.
3.2. Nhiệm vụ:
Luận văn có hai nhiệm vụ chủ yếu:
- Khái quát bối cảnh lịch sử của quá trình du nhập Phật giáo vào Nhật Bản và
một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản.
- Làm sáng tỏ một số ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh
thần ở Nhật Bản.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đề cập chủ yếu đến phương diện lịch sử của quá trình du nhập và phát
triển của Phật giáo ở Nhật Bản và chỉ phân tích những ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo
đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản trên các phương diện như: Văn hóa nghệ

Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo
ở Nhật Bản

1.1. đất nước và con người Nhật Bản
Nhật Bản là quần đảo gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ có diện tích vào khoảng
322.000km2, tương đương với tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc hay gần bằng diện tích
lãnh

thổ

Việt

Nam

(329.000km2).

Phần

lớn

các

đảo có diện tích không lớn và chỉ có 4 đảo lớn là: Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu.
Quần đảo Nhật Bản nằm ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương với chiều dài
tổng cộng 4.000km. Phần lớn lãnh thổ Nhật Bản là núi (chiếm 70% diện tích đất đai) với
nhiều ngọn núi cao. Trong số đó dãy Alpơ có nhiều núi cao trên 3.000m, ngọn Fuji (Phú
Sĩ) cao 3.776m. Điểm đặc biệt là, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa hoạt động, hàng năm
gây ra nhiều tai họa cho con người và xã hội. Với điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh
với những vách đá thẳng đứng đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên nhiên tuyệt
đẹp.

khá mạnh trong dân tộc này, vì những sức mạnh này luôn chiếm ưu thế trong
suốt lịch sử của Nhật Bản và vẫn còn rất sống động trong nước Nhật hiện
đại. Có lẽ hình ảnh người chiến sĩ quý tộc, người đàn ông kỵ mã, lúc bấy giờ
đã có một vị trí quan trọng trong xã hội Nhật, bởi vì các hình ảnh mờ ảo này
của Nhật Bản thời sơ khai đã vượt qua được trận lũ của nền văn minh vay
mượn của Trung Hoa để sau này trỗi lên như cột xương sống của Nhật Bản
thời phong kiến [26, tr. 16].
Về phương diện tín ngưỡng, người Nhật cổ đại sùng kính các vị thần tự nhiên.
Từ sùng bái tự nhiên dẫn đến sùng bái tổ tiên. Theo truyền thuyết, số lượng thần tự
nhiên của người Nhật có đến tám mươi vạn vị. Ngoài ra, nhiều hiền tướng, hào kiệt
cũng được suy tôn, thiêng hóa và trở thành các vị thần. Trong số các vị thần, Vũ Thiên
Hoàng được tôn kính nhất, Tenno (Thiên Hoàng) vì vậy là đại diện cho dòng dõi tôn
quý, trở thành lãnh tụ cả về tôn giáo và chính trị.


Những thần linh được người Nhật tôn kính thường được gọi là Kami. Tín ngưỡng
thờ Kami hay Shinto (Thần đạo) trở thành tín ngưỡng bản địa có lịch sử tồn tại xuyên suốt
lịch sử Nhật Bản, chi phối mạnh mẽ các hình thức tín ngưỡng khác. Vì lẽ ấy, về sau, khi
Phật giáo được du nhập, ta thấy lúc đầu là sự phản ứng, sau nữa là sự kết hợp và tùy
tương quan lực lượng cụ thể, có thể có lúc Phật giáo có ưu thế song nhìn chung, Shinto
vẫn đóng vai trò trụ cột. Nguyên nhân của tình hình này chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
Về phương diện tổ chức xã hội ta thấy, mặc dù hai cuốn sách Kojiki (Cổ sự ký)
và Nihongi (Nhật Bản thư ký) mang nhiều tính truyền thuyết và thần thoại nhưng là
những tài liệu quan trọng để nghiên cứu xã hội Nhật Bản cổ đại. Theo các cuốn sách
trên (sách được viết từ thế kỷ thứ VIII) Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận ảnh hưởng của
các tư tưởng ngoại lai (Khổng giáo, Phật giáo) song những ảnh hưởng đó cũng không
làm lu mờ tính dân tộc và tín ngưỡng truyền thống. Qua các truyền thuyết và những câu
chuyện dân gian, có thể hình dung xã hội Nhật Bản tồn tại trên những nguyên tắc của
một nền quân chủ. Học thuyết Shinto (con đường của thần thánh) không mạnh và làm
say lòng người như một tôn giáo thực thụ nhưng cũng thể hiện rõ ý thức dân tộc của

triều đình. Họ có thể buộc triều đình có hành động theo ý muốn của họ kể cả việc bành
trướng lãnh thổ. Họ xây dựng các vây cánh và có thể lôi kéo các thủ lĩnh địa phương đi
theo mình. Chính sách của họ là tập hợp những người thợ giỏi, cho họ quyền lợi thỏa
đáng để lôi kéo họ.
Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Phật giáo được du nhập. Lúc đầu nó được đưa
vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên, Trung Hoa vốn là những
người buôn bán hoặc như các tù binh. Sau đó, nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, Phật
giáo chính thức được thừa nhận và phát triển khá nhanh.
1.2. Quá trình du nhập phật giáo ở nhật bản
1.2.1. Một số quan điểm khác nhau về sự du nhập của Phật giáo vào Nhật
Bản
Cho đến hiện nay cuộc tranh luận về những động cơ dẫn đến sự du nhập, bám
rễ của Phật giáo vào Nhật Bản vẫn chưa đi đến những thống nhất cần thiết. Có thể thấy
có hai loại quan điểm chính: Loại thứ nhất cho rằng, sự du nhập Phật giáo vào Nhật Bản


là do những động cơ từ phía Trung Hoa hay đó chỉ là sự bành trướng về tư tưởng, văn
hóa của Trung Hoa; loại thứ hai cho rằng, đó là sự tiếp nhận diễn ra trên cơ sở nhu cầu
nội tại của người Nhật Bản hay người Nhật đã chủ động tiếp nhận Phật giáo. Theo ý
kiến của chúng tôi, trong sự phát triển của văn hóa Nhật Bản nói riêng và của bất kỳ nền
văn hóa nào nói chung không bao giờ là một quá trình thuần nhất, bởi các dân tộc liên
tục có những cuộc tiếp xúc văn hóa dù tự giác hay tự phát. Trường hợp Nhật Bản trước
khi tiếp xúc với Triều Tiên, Trung Hoa có những đặc biệt bởi đó là xứ sở của các hòn
đảo sống gần như biệt lập so với thế giới bên ngoài, nhất là khi kỹ nghệ hàng hải chưa
phát triển. Chính sự cô độc trong những mối giao cảm văn hóa mà so với Triều Tiên,
Trung Hoa, trình độ văn minh của Nhật Bản lúc đó thấp hơn. Về mặt xã hội, đó là sự
tồn tại của chế độ thị tộc còn khá phổ biến, và về kinh tế là trình độ của lực lượng sản
xuất còn rất thấp kém. Những thấp kém trong lĩnh vực kinh tế được biểu hiện cả trong
lĩnh vực tư tưởng. ở Nhật Bản chưa hình thành các tư tưởng có tính hệ thống trong nghệ
thuật, tôn giáo, triết học... Khi những quan hệ đầu tiên của Nhật Bản hình thành với lân

tiếp nhận nhanh hơn các tư tưởng của Trung Hoa nói chung và tín ngưỡng Phật giáo nói
riêng. Nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều phái đoàn người Nhật được cử sang đại
lục học hỏi tri thức và ở trong nước Phật giáo được hỗ trợ, trở thành tôn giáo có vị thế
còn lớn hơn cả Shinto.
Như vậy, có thể nói rằng, sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản không thuần
túy chỉ là sự bành trướng văn hóa của người Trung Hoa và nếu giả định đó là sự bành
trướng văn hóa mà thiếu sự nhiệt tình tiếp nhận từ phía Nhật Bản thì khả năng bén rễ,
tồn tại, phát triển của nó sẽ khó khăn hơn nhiều. Điều này là có cơ sở bởi, một mặt, khi
văn minh nhà Đường có dấu hiệu suy vi thì người Nhật cũng bắt đầu suy nghĩ lại. Đó là
sự tái khẳng định ngày càng mạnh mẽ tinh thần độc lập về văn hóa được biểu hiện qua
thái độ không còn chăm chú học hỏi hay thái độ quá sùng bái đối với mọi yếu tố của
văn minh Trung Hoa. Mặt khác, qua lịch sử nước Nhật ta thấy, dân tộc đó có sự khôn
ngoan đặc biệt trong tiếp nhận văn hóa ngoại lai. Họ tiếp nhận rất nhiều yếu tố ngoại lai
song vẫn luôn tìm cách giữ gìn, phát triển các nhân tố bản địa. Bằng chứng là, khi Phật
giáo du nhập, có cuộc đấu tranh giữa Thần - Phật. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra


trong các thời kỳ và cuối cùng Phật giáo bị bản địa hóa mặc dù có thời kỳ Phật giáo trở
thành trụ cột và chi phối mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2.2. Một số đặc điểm chính của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu du nhập
Theo quy luật của sự tiếp biến văn hóa, khi muốn bắt rễ vào một khu vực nào
đó, các hiện tượng văn hóa ngoại lai phải biến đổi cho phù hợp với những yêu cầu của
bản địa. Quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật
chung đó. Nó đã có nhiều biến đổi đến mức làm cho một số yếu tố của Phật giáo ở Nhật
Bản đã có những khác biệt khá căn bản với Phật giáo, ấn Độ hay với Phật giáo Trung
Hoa. Những biến đổi đó lúc đầu được tạo nên bởi nền tảng kinh tế - xã hội cũng như
những yêu cầu của cư dân Nhật Bản, của văn hóa Nhật Bản nhưng đến lượt nó, nhiều
khi lại trở thành những định hướng cho sự phát triển của văn hóa Nhật Bản về sau. Vì lẽ
ấy, mặc dù tồn tại trong những điều kiện của một xã hội hiện đại nhưng văn hóa Nhật
Bản vẫn giữ được những yếu tố như nhân ái, mềm mại của đạo Phật, cứng nhắc đến tàn

những lẽ trên nên ở buổi đầu du nhập, Shinto và Phật giáo luôn chứng tỏ những sự xung
khắc và sự xung khắc đó kéo dài cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng,
mặc dù xung khắc nhưng Phật giáo đã góp phần bổ sung, bù đắp cho những lỗ hổng về
nhận thức mà Shinto không thể có, do đó xuất hiện xu hướng hỗn dung, vay mượn lẫn
nhau giữa Thần và Phật là một thực tế trong đời sống tín ngưỡng của người Nhật Bản.
Bách khoa toàn thư Nhật Bản khẳng định: "Đạo Phật đã cung cấp cho người Nhật toàn
bộ khái niệm về đạo đức... Đạo Phật đã đưa đến cho văn hóa Nhật Bản những từ về lòng
thương xót, anh minh, lòng từ bi, lòng nhân ái..." [2, tr. 191]. So sánh vấn đề này với
bối cảnh Phật giáo du nhập vào Việt Nam, ta thấy cả hai cuộc du nhập đó có những
tương đồng nhưng cũng có nhiều dị biệt. Sự tương đồng thể hiện ở chỗ, Phật giáo là một
tôn giáo ngoại lai nên tất yếu phải có những phản ứng từ phía bản địa. Thêm nữa cả
Việt Nam và Nhật Bản đều là những quốc gia nông nghiệp và tín ngưỡng bản địa đều có
những khiếm khuyết cần phải được bổ sung. Ngoài những tương đồng trên những dị
biệt sau đây là căn bản:
- Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị đô hộ còn ở Nhật
Bản thì nội chiến lại liên tục.


- ở Việt Nam, Phật giáo vào sớm hơn nhưng phải 1000 năm sau kể từ thời Đinh
- Lê nó mới được phát huy tác dụng, còn ở Nhật Bản tuy được du nhập muộn hơn
nhưng nó lại có quá trình phát triển liên tục.
- Các tôn giáo ngoại nhập muốn bắt rễ vào một khu vực nào đó không thể
không dựa vào tôn giáo truyền thống nhưng vì trong giai đoạn đó, Shinto đã là một tôn
giáo phổ biến của người dân lại có nhiều dị biệt với Phật giáo nên sự du nhập diễn ra
khó khăn hơn.
Chính những dị biệt đó làm cho sự du nhập của Phật giáo vào
Nhật Bản có phần khó khăn và sự đụng độ của nó với Shinto thêm phần quyết liệt.
Thứ ba: Trong bối cảnh về văn hóa, tín ngưỡng của Nhật Bản, Phật giáo muốn
bắt rễ phải tự biến đổi mà nhiều biến đổi đã trở nên khác lạ so với Phật giáo chính gốc.
Trước hết, muốn bắt rễ, Phật giáo không thể du nhập bằng hệ thống lý luận trừu


gần

gũi

với

tính

chất

của

Phật

giáo



Việt Nam.
Thứ tư: Phật giáo vào Nhật Bản trong điều kiện xã hội đang ở giai đoạn xã hội
thị tộc, mỗi thị tộc chỉ thờ thần của thị tộc mình. Bởi vậy đối với thờ cúng của Shinto
hết sức đa dạng. Có những thần ngự trong các đối tượng tự nhiên như cây cối, núi non,
mặt trời, nhưng cũng có những vị thần phụ trách một số nghề thủ công chuyên ban phát
năng lực cho những ngư dân hay những thợ săn... có những vị thần còn sống như những
chuyên gia về tôn giáo hay những người bằng sự rèn luyện khổ hạnh đã đạt đến khả
năng hòa nhập và hóa thân thành các Kami. Có những vị thần bảo hộ cho cá nhân, gia
đình, dòng tộc nhưng cũng có những Kami có khả năng sáng tạo ra các hòn đảo hay bảo
hộ cho Hoàng gia. Lại nữa. có những Kami khi được thờ cúng có khả năng thay đổi tính
chất, từ thần phá phách trở thành thần có ích sẵn sàng giúp đỡ nhân loại...

Quá trình nhập ngoại của người Nhật bao giờ cũng trải qua hai giai
đoạn: sau một thời kỳ làm thợ (bắt chước) là thời kỳ làm thầy (cải tiến). Sự
phát triển rực rỡ của Shinto Nhật Bản là một minh chứng. Bởi vậy, càng tiếp thu
những yếu tố ngoại sinh, thì bản sắc văn hóa Nhật càng óng chuốt và nổi thêm
sâu sắc [43, tr. 506-507].
Hy vọng rằng, người Việt Nam trong quá khứ cũng đã từng làm được như người
Nhật Bản thì ngày nay cũng có thể làm được điều kỳ diệu đó sao cho vẫn tồn tại một vóc
dáng văn hóa Việt Nam trong dòng thác của toàn cầu hóa.
1.3. Quá trình phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản
Kể từ khi du nhập đến nay, Phật giáo ở Nhật Bản đã có lịch sử tồn tại khoảng
1500 năm. Trong khoảng thời gian đó, Phật giáo trải qua nhiều biến cố, gắn chặt với sự
phát triển của xã hội Nhật Bản. Theo cách phân kỳ phổ thông, có thể chia sự phát triển
đó thành 7 thời kỳ chính.
1.3.1. Phật giáo thời kỳ Asuka (300 - 710)


Phật giáo bắt đầu được truyền vào Nhật Bản dưới thời Kế Thể Thiên Hoàng (507 531) nhưng mãi đến thời Thái Tử Shotoku (thế kỷ VI) mới được truyền bá công khai nên
có thể xét Phật giáo sơ kỳ bắt đầu từ thời kỳ này. Nhiều học giả thống nhất năm Phật giáo
truyền vào Nhật Bản là 538 [58, tr. 3].
Khoảng hai đến ba tông phái được truyền vào Nhật thời kỳ này:
- Tông Sanron (Tam luận tông)
Đây là tông phái do vị sa môn nước Triều Tiên tên là Huệ Quan du nhập vào
Nhật Bản năm 33 đời Suiko Tenno (Suy Cổ Thiên Hoàng). Huệ Quan trụ trì ở chùa
Nguyên Hương. Dưới trướng của Huệ Quan có nhiều đệ tử tài giỏi như Phúc Long, Trí
Tạng, Đạo Tử...
Giáo lý chủ yếu của Tông Sanron nằm trong ba bộ luận của Bồ tát Long Thọ
(những âm Hán - Việt chưa tra cứu chính xác xin được giữ nguyên phiên âm trong luận
văn) mà nổi tiếng nhất là Trung quán luận. Trung quán luận là bộ sách luận về tương
quan giữa các bề ngăn và thực tướng vạn vật mà kết luận được rút ra là mọi hiện tượng
(vạn pháp) là hư, huyền và không tồn tại biệt lập. Ngược lại, chúng tồn tại trong mối

- Tông Sanron
Trong thời kỳ Nara, Tông Sanron - một tông phái đã tồn tại từ trước - có phần suy
yếu, nhất là vào cuối thời Nara. Sự suy yếu này có lẽ, một là do những luận lý trừu
tượng, khó hiểu của nó và hai là, do tâm lý người Nhật ưa thực dụng và ba là, do lý luận
của nó khá khác biệt với tín ngưỡng bản địa vốn rất coi trọng những điều thực tế.
- Tông Hosso
Trong thời Nara, Hosso tông là tông phái thịnh trị nhất. Nó góp phần không chỉ
tạo ra đông đảo những học giả hiền tài mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ về giáo nghĩa đối
với Phật giáo ở Nhật Bản.
- Tông Jojitsu


Là tông phái được du nhập vào Nhật Bản từ Triều Tiên tồn tại dưới thời Nara.
Tên của tông phái là lấy theo tên bộ kinh "Thành thực luận". ở Nhật Bản tông này
không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào tông Sanron và số lượng tín đồ quá ít ỏi.
Jojitsu tông được du nhập khoảng đầu thế kỷ thứ VII bởi nhà sư Triều Tiên là:
Kiếc Tạng (Ekwan) và Khuyếc Lặc (Kwanro Ku).
Giáo nghĩa của Jojitsu tông cho rằng, bản ngã và vạn pháp là hư vô. Đời sống
của con người là những chuỗi liên tiếp các hiện tượng luân chuyển nhanh chóng đầy
tính giả tạm. Nếu con người nhận ra tính giả tạm và hư vô đó (vạn vật đều giả dối như
bọt nước trên dòng sông, đều trống rỗng như xác con ve) thì sẽ dứt bỏ được phiền não
và đạt đến sự tịch tĩnh.
- Tông Kusha
Cho đến nay, các nguồn tài liệu không cho phép đưa ra một kết luận về thời
điểm Kusha tông được du nhập vào Nhật Bản.
Giáo lý của Kusha tông (kho tàng của phép siêu hình) dựa trên một bộ luận nổi
tiếng của nhà sư Vanshubac dhu là bộ "Abidharma-kasa-sastra".
Giáo lý chủ yếu của Kusha tông chủ trương "Pháp thể hữu vô không sinh diệt"
(Pháp có mặc dù những sự vật cá thể là ảo ảnh).
- Tông Kegon

Quốc và Triều Tiên cũng thời kỳ. Sự tồn tại của nó mang lại cho người Nhật nhiều lợi
ích nhất là lợi ích tinh thần. Tuy nhiên, cũng để lại những hậu quả xấu (sẽ bàn ở phần
kết)
1.3.2. Phật giáo thời kỳ Heian (Bình An) (794 - 1185)
Vào cuối thời kỳ Nara, Nhật Bản diễn ra tình trạng rối loạn về xã hội, đồi bại về
chính trị do sự tranh giành quyền lực trong tầng lớp cầm quyền.
Trong nội bộ Phật giáo, thói hư tật xấu ở tăng ni cũng tràn lan. Lý do cơ bản là,
sau thời kỳ phát triển mạnh nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều tăng ni đã biến chất


trở thành những kẻ mượn cửa chùa để làm việc phàm phu, ăn chơi, hưởng lạc. Nhiều kẻ
có dã tâm ngoài đời, vì chuộng sự nhàn tản và sung sướng nên cũng khoác áo sa môn.
Trước tình hình đó vào năm thứ 13 niên hiệu Diên Lịch (794 theo Công lịch)
Hoàn Vũ Thiên Hoàng đã quyết định dời đô tới Heian (Kyoto ngày nay) với mục đích
chấn chỉnh kỷ cương, thống nhất dân tâm, đổi mới phong khí.
Ngoài những lý do trên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, sở dĩ Tenno phải
thiên di kinh đô tới Heian còn vì để tránh những áp lực của các dòng họ giàu có, cũng
như áp lực ngày càng gia tăng của giới tăng lữ phật giáo. Vì lẽ ấy, trước đây khi thiên di
kinh đô, các chùa viện Phật giáo cũng dời đi theo nhưng nay theo chỉ của Tenno, toàn
bộ chùa viện vẫn ở chỗ cũ. Duy chỉ có vài chùa viện được xây dựng nhằm tạo bộ mặt
cho kinh đô mới. Trong tình hình đó, Phật giáo xuất hiện thêm hai tông phái với hai
gương mặt đại diện. Đó là tông Tendai (Thiên Thai) với sư tổ Saicho (Tối Trừng) và
Shingon (Chân ngôn tông) với sư tổ Kukai (Không Hải).
- Tông Tendai
Là tông phái được thành lập ở Trung Hoa bởi Trì Khải Đại sư tại núi tông
Tendai vào thế kỷ thứ VI. Tông phái này tồn tại ở Nhật Bản gắn với tên tuổi Saicho.
Ông là người đã từng tu ở chùa Heian, Todaiji nhưng vì bất mãn với hiện trạng Phật
giáo chỉ chạy theo hư danh mà phát tâm kim cương thề nguyền không thoái không hoại,
lên núi Hiyei (Tỳ Duệ), vào rừng ở ẩn để tịnh tâm, dứt tuyệt thị dục.
Thời đó, ở Nhật dù có kinh điển Thiên Thai do Gián Châu mang đến nhưng

Kukai sinh vào năm thứ 5 niên hiệu Bảo Qui (năm 774 theo công lịch). Lúc nhỏ
theo học đạo Khổng nhưng không thỏa mãn. Sau đó phát tâm nguyện Bồ Đề, qui y Tam
bảo.
Sau khi học đạo ở Trung Hoa trở về vào năm thứ 13 niên hiệu Hoàng Nhân
(năm 822 theo công lịch) lập Viện Shingon ở chùa Todaiji. Ông đã từng giảng kinh
Nhật kinh sớ, làm lễ cầu khấn cho thánh thể Tenno yên ổn và quốc gia đại thịnh. Vào
năm 823 được ban cho chùa Todaiji làm đạo trưởng của Shingon tông. Trong cuộc đời
của mình, Kukai đã viết nhiều sách. Nổi tiếng là sách Tam giáo chỉ quy bàn về lẽ hay dở
của tam đạo: Nho, Phật, Lão. Sách Thập tục tâm luận bàn về sở đắc của Shingon tông.


Nhìn chung Shingon tông của Kukai đưa vào Nhật Bản là dựa trên căn bản của
Shingon tông được sáng lập ở Trung Quốc vào năm 719 bởi Kim Cang Trí
(Vajraboddhi) một nhà sư ấn Độ. Kinh nghĩa chủ yếu của Shingon tông là Đại nhật
kinh, Kim cang đỉnh kinh...
Giáo nghĩa chủ yếu của tông Shingon thừa nhận có những bí mật, huyền diệu
trong vũ trụ. Thông qua châm ngôn (những lời nói linh diệu - thần chú, những hành vi
huyền diệu - bất ấn, những nghi lễ linh thương - bùa chú...) để tác động đến những
huyền diệu.
Thời Heian, Shingon tông phát triển mạnh và được chia thành hai bộ: giác
tướng và sự tướng. Giác tướng thuộc về giáo lý, sự tướng là cách làm (hành pháp). Mặc
dù tông Tendai cùng tồn tại nhưng (như đã nói rõ ở trên) Shingon tông có ưu thế hơn và
Tendai tông cũng mang nặng các yếu tố Mật tông (Thai Mật).
Trong thời kỳ này, bên cạnh đông đảo tín đồ sùng bái Phật giáo, trong cung
đình đã hình thành một thứ Phật giáo mà sử sách gọi là Phật giáo quý tộc. Lý do là ở
chỗ, Phật giáo có quan hệ mật thiết với Hoàng thất (có đến 15 Tenno trong tổng số 19
Tenno cắt tóc đi tu). Nhờ những quan hệ đặc biệt ấy, Phật giáo được nâng đỡ, phát triển
mạnh cả về tín đồ và chùa viện. Người Hoàng thất coi đi tu là cao quý. Tăng lữ xuất gia
có giá trị và được đãi ngộ như tầng lớp quý tộc.
Động cơ xuất gia của giới quý tộc lúc đầu cũng chỉ là vì tín ngưỡng nhưng sau

1.3.3. Nhật Bản thời kỳ Kamakura (Khiếm Thương) (1185 - 1333)
Mở đầu thời kỳ Kamakura là sự dời đô từ Heian tới Kamakura của Tenno vào
năm 1185. Trong thời kỳ này, Phật giáo có hai khuynh hướng mới. Một là, quay trở lại
các tông phái của thời Nara; hai là sự xuất hiện các tông phái mới trong Zen.
Nguyên nhân của sự xuất hiện hai khuynh hướng trên ở chỗ, thứ nhất, do ảnh
hưởng của chiến loạn; thứ hai, do sự sa đọa của tăng lữ; thứ ba, do quan hệ Nhật Trung bắt đầu được thiết lập. Những tác động trên đã làm cho tín ngưỡng Phật giáo
quay trở lại, hướng con người vào sự cầu khấn, bùa chú. Mặt khác, do lẽ đời loạn lạc,
tâm trạng con người bất an lại được cổ vũ bởi quan hệ Nhật - Tống nên mảnh đất của
Zen xuất hiện.


Trích đoạn Phật giáo với văn học nghệ thuật Phật giáo với đạo đức Phật giáo với phong tục, lễ hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status