Tiểu luận: nghiên cứu
Phật giáo và ảnh
hưởng của nó đến nền
văn hóa - xã hội và
con người Việt Nam
MỤC LỤC
Mục lục…………………………………………………………… Trang 1
Mở đầu …………………………………………….……………….Trang 2
Chương 1: Khái quát về Phật giáo và quá trình phát triển Phật giáo ở Việt
Nam…………………………………………………………………… Trang 6
1. Nguồn gốc ra đời ………………………….…………………….Trang 6
2. Lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo………………….Trang 6
Chương 2: Một số ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa - xã hội và con
người Việt Nam nói chung và Trà Vinh nói riêng…………… …. Trang 8
1. Phật giáo với đời sống văn hóa - xã hội Trang 8
2. Phật giáo với đời sống văn hóa - xã hội Trang 13
3. Ảnh hưởng đối với truyền thống văn hóa……………………….Trang 14
4. Ảnh hưởng đối với văn hóa lễ hội Trang 17
5. Ảnh hưởng đối với phong tục tập quán Trang 21
6. Tính cộng đồng trong sinh hoạt tín ngưỡng Trang 23
Kết luận Trang 29
Tài liệu tham khảo Trang 30
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu và thực sự tư tưởng Phật giáo
đã trở thành một góc trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Từ đó có
thể nói rằng, bên cạnh hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình" thì hình ảnh mái
chùa cũng là biểu tượng thân thương, thấm sâu vào tiềm thức và trở thành
một trong những giá trị văn hóa của con người Việt Nam. Đó là nét chung
nhất cho sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam, mà chủ yếu là
dân tộc Kinh.
xã hội và con người Việt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch
sử cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo đối đời sống xã hội trong giai
đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngoài số lượng kinh, luật, luận của Phật giáo được tích lũy cả hơn
2500 năm và còn có những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài vào
những năm của thế kỷ XX và hiện nay. Những công trình này sẽ được liệt kê
cụ thể trong phần danh mục tài liệu tham khảo, ở đây chỉ xin điểm qua một số
tài liệu đáng lưu ý:
Cuốn "Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người
Việt Nam hiện nay" do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997. Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào
các khái niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư
tưởng của con người Việt Nam. Cuốn "Đạo đức học Phật giáo" do Hòa
thượng Tiến sĩ Thích Minh Châu giới thiệu và Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam ấn hành năm 1995 là những bài tham luận của nhiều tác giả. Nội
dung cuốn sách này, các tác giả đã nêu những cơ sở và nhiều phạm trù đạo
đức Phật giáo, phân tích để cắt nghĩa rõ thêm nội dung của chúng như giới,
hạnh, nguyện, thiện, ác v.v Cuốn "Việt Nam văn minh sử lược khảo" của
Giáo sư Lê Văn Siêu, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu Sài Gòn 1972. Nội
dung cuốn sách khi bàn về lịch sử văn minh Việt Nam, tác giả đã chứng
minh những đặc điểm của Phật giáo để tạo cho tôn giáo này xâm nhập một
cách dễ dàng vào Việt Nam. Cuốn "Có một nền đạo lý Việt Nam" của Giáo
sư Nguyễn Phan Quang, Nxb TP. Hồ Chí Minh 1996. Trong cuốn sách này,
tác giả đã cho người đọc thấy sự hòa nhập của đạo đức Phật giáo trong đạo
lý dân gian Việt Nam. Cuốn "Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam", tập
1 của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2002. Phần khai thác ở nội dung cuốn sách là tác giả đã khái quát
những nét cơ bản về quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của Phật giáo
với dân tộc Việt Nam v.v Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất
6. Ý nghĩa của chuyên đề
Chuyên đề làm sáng tỏ những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống xã hội nước ta và đồng bào dân tộc khmer khu vực đồng bằng sông Cửu
Long Và tỉnh Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay.
7. Giới hạn đề tài
Phạm vi của chuyên đề là từ góc độ triết học Mác - Lênin để nghiên
cứu một hệ thống đạo đức của một tôn giáo cụ thể, du nhập và ảnh hưởng đến
một nền đạo đức của một dân tộc cụ thể. Từ đó, tuy nội dung chuyên đề có sử
dụng các tư liệu, luận cứ, luận chứng cho việc chuyển tải ý tưởng hoặc so
sánh để làm nổi bật những vấn đề nghiên cứu, nhưng trọng tâm của đề tài là
tuân thủ theo tên gọi của nó.
8. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của chuyên đề gồm 2 chương, 8 tiết.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
1. Nguồn gốc ra đời
Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà ( hay buddha ). Đạo phật
chính là giáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng. Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế
kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, đạo Phật được lưu hành rộng
rãi ở các quốc gia trong khu vực á - Phi, gần đây được truyền tới các nước Âu
- Mỹ. Trong quá trình truyền bá của minh, đạo Phật đã kết hợp với tín
ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái
và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá
của rất nhiều quốc gia.
Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddharta), con trai của
Trịnh Phạn Vương ( Suđhodana) vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc
Bắc Ấn Độ ( nay thuộc đất Nê Pan ) ông sinh ra vào khoảng năm 623 trước
công nguyên.
trở thành một trong những hệ tư tưởng. Tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại
cho đến mãi ngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tinh thần
của người Việt Nam
Vào lúc này, mặc dù đang phải chống lại các thế lực thực dân phương
bắc, nhân dân Việt Nam vẫn đủ thông minh, tỉnh táo để tiếp nhận Đạo Phật
đến với dân tộc ta bằng tinh thần hoà bình, hữu nghị
Sự tiếp nhận đạo phật trong hoàn cảnh như vậy, không thể bỏ qua vấn
đề nội dung của đạo phật. Điều đó có nghĩa là bản thân đạo phật phải có
những nội dung nào đó mà nhân dân Việt Nam có thể chấp nhận được.ở đây
chính là nội dung của hai nền tín ngưỡng có nét giống nhau, có lẽ do những
nét giống nhau mà có sự hợp nhất tạo nên các chùa pháp vân, pháp vũ, pháp
nôi, pháp điện. Tức là tín ngưỡng phật và tín ngưỡng thần của Việt Nam khi
đó có sự hợp nhất. Hình ảnh phật đã trở thành hình ảnh bụt
Một điều thể hiện đặc biệt phổ quát mà nhiều người đã nhắc đến là phật
giáo vốn dễ hoà hợp với tín ngưỡng dân gian ở những nơi nó được truyền bá
đến . ở bắc Việt Nam đặc điểm đó càng nổi bật. Nếu đặc điểm tôn giáo Việt
Nam là sự thờ cúng tổ tiên (linh hồn người thân đã khuất ) thì phật hay quan
âm cũng được coi là một thứ tổ tiên ( trong tâm thức dân gian việt cổ, phật
hay quan âm không phải là người “ngoại quốc ‘người khác tộc ). Nếu đặc
điểm của tôn giáo Việt Nam là sự thờ thần ( thế lực siêu nhiên ) mà con người
cũng cầu để nhờ sự “phù hộ độ trì” thì phật hay quan âm cũng trở thành một
loại thần, phật điện cũng trở thành một thứ thần điện, tính tâm linh ấn độ
nhường bước cho tính tính Việt Nam ( hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam nặng
về tính tình cảm hơn là giáo lý, giỏi luật, đoàn thể, tôn giáo )
Bụt người Việt Nam không phải thuần tuý là việc phiên âm thuật ngữ
Bonddha. Hình ảnh bụt của người Việt Nam là sự sáng tạo từ hai nguyên liệu
tín ngưỡng phật và tín ngưỡng thần linh đương thời của người Việt Nam. Bụt
có những nét giống và khác phật. Bụt giống phật ở lòng từ bi, bác ái, vị tha
đối với những người bị áp bức bóc lột. Nhưng bụt khác Phật ở chỗ bất kỳ
người nghèo nào gặp tai nạn, gặp áp bức bất công mà cần tới bụt, bụt lập tức
nhiên sẽ đến . Tuy nhiên, không phải phật giáo đi được vào quần chúng,có
một sự gắn bó sâu sa nhất định, mà không một sự thẩm định, chọn lựa nào có
lựa chọn để chối bỏ hoặc đồng hoá nữa. Đối với phật giáo sự lựa chọn này
bao hàm cả ý nghĩa phê phán. Ngày nay, chúng ta có thể chỉ ra được nhiều
khuyết điểm của nho, phật, lão ở góc độ chính trị hay tư tưởng triết học. Dân
gian xưa không có điều kiện hay trình độ để làm việc ấy, song khi họ chấp
nhận, chối bỏ hoặc biến hóa những giáo lý để thích nghi với trình độ tư duy,
với các sinh hoạt của họ tức là họ đã lộ cái ý đồng hay không đồng. Có thể
nói rằng văn hoá Việt Nam hoá phật hơn là hoá phật hoá. Phật giáo đến Việt
Nam dù là phật giáo nguyên thuỷ hay đa dạng sau này bởi tiểu thừa hay đạo
thừa thì vẫn nhất phải nhập với tín ngưỡng bản địa. Để biến man nương thành
phật mẫu, ỷ lan thành quan âm mà không cần phải tạo ra xung quanh nhân vật
ấy những gì huyền bí thần kỳ cho lắm.
Phật giáo còn là một sự kiện văn hoá, phật giáo từ ấn độ được truyền
vào Việt Nam vốn không phải một sự kiện đơn độc mà kéo theo nó là cái ảnh
hưởng của tổng thể văn hoá ấn độ đối với Việt Nam cổ. Mặc dù chúng ta còn
ít nghiên cứu và hiểu biết về văn hoá việt- ấn nhưng chắc chắn ảnh hưởng của
văn hoá ấn độ lên Việt Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực : Nông nghiệp, ydược,
âm nhạc vũ đạo ngôn ngữ.
Điều quan trọng là văn hoá Việt Nam cổ tiếp thu một liều lượng quan
trọng văn hoá ấn độ qua ngả đường phật giáo, vào suốt thời bắc thuộc và
chống bắc thuộc, khi ảnh hưởng văn minh trung hoa tràn lan đất nước Việt
Nam và mang khuynh hướng đồng hoà rõ rệt.
Về khách quan, ảnh hưởng của văn hoá ấn độ là một đối trọng của văn
hoá trung hoa trên đất việt. Nó có tác dụng trung hoà ảnh hưởng quá mạnh
mẽ của văn hoá trung hoa; Nó góp sức cùng nền văn hoá Việt Nam cổ ngăn
chặn sự đồng hoá của văn minh trung hoa, nó hội nhập và làm giàu làm nên
cái khác của văn hoá việt với văn hoá trung hoa.
Ví dụ: Như ở thăng long thời lý: Hoàng thành Long Phượng mở bốn
cửa nếu cửa phía bắc thờ thành trần vũ – trần võ là một vị thần linh trung hoa
hoạt ở Đình có thể sinh hoạt thậm chí trở thành lực lượng quan trọng trong
sinh hoạt chùa làng.
Mặt khác, điều kiện xã hội con người xưa kia cũng mở rộng cho Phật
giáo dễ dàng du nhập so với Trung Quốc. Phật giáo khi du nhập Trung Quốc
đã bị phản ứng mãnh liệt của tâm lý dân tộc, truyền thống văn hoá, đặc biệt là
ý thức hệ Nho giáo. Trong khi đó Phật giáo vào Việt Nam tương đối thuận
lợi, phát triển nhanh chóng, hầu như không bị phản ứng sâu sắc trừ một số ít
Nho sỹ thời Trần, Hồ. Xã hội Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo từ ấn Độ hay
Trung Quốc sang chưa có sự phân chia gay gắt và đối kháng kịch liệt, mối
quan hệ của Tông tộc gia đình chưa chịu ảnh hưởng của lý thuyết Tam cương
nặng nề. Điều này khiến Phật giáo khi thâm nhập không bị phản đối. Song lý
do chính có lẽ là do Phật gia khi vào đây chưa gây một đảo lộn, một biến
cách, không phủ nhận những giá trị tinh thần, phong tục tập quán của từng
người, từng gia đình, của xã hội. Vì vậy người Việt bình dân đã khá dễ dàng
hấp thụ cái triết lý nhân sinh quan của Đạo Phật, không biết có quá không
nhưng một nhà Phật học của Việt Nam đã nói có phần đúng rằng ở thời Bắc
thuộc Đạo Phật đã thấm vào lòng người dân Việt như nước thấm vào lòng
đất.
Dòng Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài trong xã hội Việt Nam
là Thiền Tông. Thiền Tông có một số đặc điểm mà dân gian dễ chấp nhận.
+ Phật giáo Thiền Tông ít bàn về lý luận mà chuyển sang tông phong
phong cách tu hành. Thiền Tông chủ trương “ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt
truyền trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành phật, tức tâm thị Phật”. Như vậy chủ
chương của Thiền tông là lôi kéo thế giới Tây Phương cực lạc về trần thế, đặt
nó trong lòng con người, tâm thị Phật.
+ Thiền tông chủ trương lao động theo thanh qui của Bách Trượng
( 720-814) : “ Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” ( một ngày không làm,
một ngày không ăn) và lấy việc phục vụ xã hội làm điều kiện tu hành. Điều
này khiến cho các tăng nhân không phải là một tầng lớn ăn bám xã hội.
Thiền tông lại chấp nhận sự bần khổ coi sự chịu đựng bần khổ cũng là
Trần nâng đỡ bảo trợ Cũng chính vì nó Phật gia được chính quyền quá ưu
ái mà sinh hoạt nhà chùa trở nên xa hoa, sa đoạ, trái ngược với đời sống Đức
Phật chối bỏ sinh hoạt cung đình, trái ngược với giới luât Bách Trượng tự lao
động mà sinh sống giản dị để dự bị giờ phút “ đến ngộ thành Phật”. “Suy”
theo nghĩa cơ bản mất sự ủng hộ của chính quyền. Nhưng suy ở thượng tầng
thì lại toả ra dân chúng ở làng quê ở các cơ sở hạ tầng, nếu đừng quá khắt khe
và cứng độ trong nguyên lý thì có thể khái quát rằng Phật giáo Lý Trần là
Phật giáo quý tộc, còn Phật giáo Lê - Nguyên về sau là Phật giáo dân gian. Từ
chỗ trở thành dân tộc từ trước, sau thế kỷ X, Phật giáo Việt Nam đã trở thành
dân gian, nhân gian - hay là đã được dân gian hoá sau thế kỷ XV.
Đạo phật có thể mất đi, như mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh
tuý của văn hoá Phật giáo đã được dân tộc hoá và dân gian hoá thì mãi mãi
trường tồn.
2. Phật giáo với đời sống văn hóa xã hội Việt Nam ngày nay.
Ngày nay, mặc dù có rất nhiều tôn giáo xuất hiện ở Việt Nam như
Thiên chúa giáo, Đạo Cao Đài, Hoà Hảo, Cơ đốc giáo, ngoài ba tôn giáo
chính từ xưa. Nhưng Phật giáo vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong
đời sống văn hóa xã hội và tinh thần người Việt Nam. Nhìn vào đời sống văn
hóa xã hội và tinh thần người Việt Nam trong thời gian qua, ta thấy qua nhiều
biểu hiện Phật giáo đang được phục hồi và phát triển. ở nhiều vùng đất nước
số người theo Phật giáo ngày càng đông, số gia đình Phật tử xuất hiện ngày
càng nhiều, lễ hội Phật giáo và sinh hoạt Phật giáo ngày một có vị trí cao
trong đời sống tinh thần xã hội, số sư sãi được đào tạo từ các trường Phật học
ngày càng nhiều, số kinh sách xuất bản hàng năm cũng tăng.
Hơn lúc nào hết trong mấy chục năm lại đây người Phật tử Việt Nam
rất chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình. Họ hay lên chùa
trong các ngày sóc, cọng, họ trân trọng thành kính trong khi thi hành lễ, họ
siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện. Việc ăn chay hàng
tháng trở thành thói quen không thể thiếu của người theo Đạo phật. Mặt khác
nhà chùa sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ như cầu siêu, giản oan, Tất
phần kiến tạo một đất nước giàu mạnh trong tinh thần đoàn kết dưới sự soi
sáng của giáo lý phật giáo. Đoàn kết ở đây không có nghĩa là kích động chiến
tranh hận thù mà chính là kêu gọi hòa bình nhân ái. Giá trị to lớn của giáo lý
phật giáo là hướng dẫn con người sống sao cho tốt, hành động sao cho thiết
thực và có ý nghĩa đối với tự thân, với gia đình và xã hội. Theo tinh thần của
Đạo Phật, đoàn kết còn mang một ý nghĩa cao đẹp và rộng mở hơn đó là xa
lìa lối sống vị kỷ hẹp hòi.
Trên tinh thần đoàn kết, Đạo Phật xây dựng cho dân tộc Việt nam một
truyền thống rất đẹp đó là tính chan hòa yêu thương, mở rộng cõi lòng. Nói
khác hơn là truyền thống tương thân tương ái. Một truyền thống thật gần gũi
và gắn liền với con người Việt nam, dân tộc Việt nam, một dân tộc xưa nay
vốn hiền hòa, thân thiện và dễ mến. Đặc tính yêu thương, mở rộng cõi lòng
được thể hiện rõ nhất qua những việc làm nhân nghĩa, giúp đỡ lẫn nhau trong
lúc khó khăn hoạn nạn. Nêu cao tinh thần tương thân tương ái với phương
châm “Nhường cơm xẻ áo”, “ Lá lành đùm lá rách”, “Một miếng khi đói bằng
một gói khi no”. Những việc làm ấy phần nào phản ánh được phẩm chất cao
đẹp của con người Việt nam. Thật đúng như lời của cố Hòa Thượng Thích
Đức Nhuận đã nói: “Hãy tỏ ra mình có đức hạnh, can đảm và hết lòng. Cố
gắng thương yêu mọi loài. Con người chỉ xứng danh với danh nghĩa của nó
chừng nào làm chủ được ý nghĩ, lời nói và hành động của mình về cả nội giới
và ngoại giới. Chinh phục được ngoại là một công trình to lớn, nhưng điều
đáng ca ngợi hơn hết vẫn là sự điều ngự được chính mình. Do đó, về phương
diện luân lý, Đạo Phật đặt trọng tâm vào sự thiện ác vào tội phúc báo ứng
phân minh và vào luật nhân quả, vì biết rằng: làm lành được sung sướng. Làm
ác chịu khổ sở. Nhân nào quả nấy. Hành động của chúng ta hiện nay ra sao
thì kết trong ngày mai cũng lại y như thế. một hành động tốt hoặc xấu của cá
nhân sẽ có ảnh hưởng đến toàn thể không ít … Người có đạo đức luân lý là
một con người hoàn toàn sung sướng nhất trên đời, khác nào như bông hoa nở
đẹp, làm thơm cho cuộc thế”.
Qua những lời phát biểu trên, chúng ta không còn mơ hồ gì đối với giáo
hôm nay mà còn lưu lại tiếng tốt cho mai sau. Quan niệm và ý thức về hành
động “Tích đức” luôn được người Việt nam coi trọng và lưu truyền cho nhau
qua câu nói thật nhẹ nhàng mà sâu lắng “Ăn ở có đức mặc sức mà ăn”. Quan
niệm ấy được xem như một lẽ sống tự nhiên không thể thiếu trong mỗi gia
đình người Việt nam.
Dưới ảnh hưởng của phật giáo, truyền thống ấy dần dần đã trở thành một
nếp sống tự nhiên của dân tộc Việt nam. Như lời Giáo sư Nguyễn Khắc
Thuần đã nói : “Tích đức cho thế hệ sau là để lại gia sản thiêng liêng và vô
giá nhất. Từ nhận thức với những mức độ khác nhau và từ phép ứng dụng
thiết thực thuyết nhân quả vào cuộc sống, đạo đức làm người được tôn vinh,
vượt lên trên tất cả những giá trị vật chất khác”
4. Phật giáo với lễ hội:
Vấn đề lễ hội trong Phật giáo ta thường thấy bản thân Phật giáo không
có hội mà chỉ có lễ. Thế nhưng có hai lý do, một là thời Lý – Trần mọi sinh
hoạt văn hóa được diễn ra ở ngôi chùa, cho nên lễ hội diễn ra ở chùa được
duy trì kéo dài mãi cho đến ngày nay. Hai là ở Phật giáo ngôi chùa đã hỗn
dung tín ngưỡng thờ Thần, thờ Mẫu vào trong đó nên lễ hội diễn ra ở ngôi
chùa. Cả hai khía cạnh hội chùa mang tính chất là hội làng. Trong khuôn khổ
bài viết này bản thân chỉ nêu một vài lể hội để làm nổi bật sự ảnh hưởng của
Phật giáo đối với đời sống văn hóa xã hội ở nước ta.
4.1. Lễ hội Quan Thế Âm:
Tín Ngưỡng Quan Âm ở nước ta đã có từ thời Lý với câu chuyện vua
Lý Thánh Tông nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen, giơ tay đón
mình lên và ngày nay chùa Một Cột ở Hà nội có liên quan đến tích ấy.
Tín ngưỡng Quan Thế Âm ở chùa Hương bắt nguồn từ chuyện Nam
Hải Quan Âm của một nhà sư Trung Quốc thời Nguyên du nhập vào nước ta
và đã được Việt hóa vào thế kỷ thứ XV.
Ngày nay, lễ hội Quan Thế Âm được tổ chức vào ngày 19 tháng 2; 19
tháng 6; và 19 tháng 9 mỗi năm để kỷ niệm ngày hiển linh của Bồ tát. Sau đó,
năm 1962 lễ hội được tổ chức tại động Quan Âm, sau ngày hoàn toàn thống
Phần hội: Diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá - thể thao mang đậm
bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ,
nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng các hoạt
động văn hóa như triển lãm thư pháp và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh
về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay
Với nhiều hoạt động văn hóa - thể thao mang đậm tính dân tộc, lễ hội Quán
Thế Âm tuy mang màu sắc tôn giáo nhưng lại đi sâu vào tự tình dân tộc, góp
phần phục hồi và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Lễ hội Quán Thế Âm là một lời cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho mưa
hòa gió thuận; là dịp để mọi người, mọi giới chan hòa trong không khí hội hè,
soi mình vào bản sắc văn hóa dân tộc để ngày một sống đẹp hơn
4.2. Lễ cầu an:
Theo dòng thời gian, Phật giáo cùng tồn tại trên cuộc đời này, và trong
suốt thời gian đó những giáo lý, những kinh điển của Phật giáo đã thấm sâu
vào máu tủy của mỗi người khiến mọi người đều ý thức được rằng mình là
chủ nhân ông của nghiệp mà mình đã tạo, không ai có thể thay thế hay gánh
chịu giúp mình được. Đức Phật dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, ngọn
đuốc ta đã sắm sẵn rồi, các ngươi hãy thắp lên và đi theo lý tưởng của mình”.
Trong cuộc sống hiện tại, mọi người đều hay gọi là cầu an mỗi khi gia đình
có người đau ốm, bệnh tật, hay những chuyện bất như ý thì đều đến xin cầu
an. Họ cho rằng cầu an là cầu cho người bệnh được khỏe mạnh, được an ổn,
sống lâu v.v…nên họ luôn đặt hy vọng vào những vị sư đến cầu an. Điều mà
người viết muốn nhấn mạnh ở đây là mỗi người xuất gia, nhiệm vụ cao cả của
mình là “ Thừa như lai sứ, hành như lai sự” vì vậy khi được Phật tử mời đi
cầu an thì phải làm sao chỉ cho họ thấy được mục đích của sự cầu an, chúng
ta cũng không thể từ chối những khi được thỉnh mời như vậy. Đức Phật dạy: “
Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” và như vậy, từ những dịp cầu an
đó, ta tiếp xúc với họ, gần gũi, khuyên răn, chỉ rõ cho họ biếi rằng cầu an này
chỉ là sự trợ duyên mà thôi, không phải là hoàn toàn dựa vào sự cầu an đó mà
được an ổn, an hay không an là do chính nơi hành động, việc làm, cách sống
Phật “nhất tâm bất loạn” như là điều kiện tiên quyết để vãng sanh tịnh độ, để
hương linh nương theo đó niệm Phật mà vãng sanh. Các kinh thường tụng
trong dịp cầu siêu như: Kinh A Di Đà, Kinh Địa Tạng, Kinh Vu Lan. Chư
tăng ni tụng kinh nhằm nhắc nhở cho con cháu của người quá vãng trau dồi
tâm tánh cho thuần thục và noi theo gương hiếu hạnh của Ngài Mục Kiền
Liên. Nói chung các bài kinh trên không chỉ có tác dụng tốt cho người quá cố
mà hơn hết là nhằm giáo dục cho thân quyến của người chết về các phương
pháp tu tập và làm nhiều điều phước thiện.
Song theo đạo Phật không ai có thể siêu độ cho ai, không ai có thể giải
thoát cho ai cả, chỉ có mình tạo nghiệp lành hay dữ mà đến khi mạng chung
chiêu cảm quả báo thiện ác, chứ không phải lúc sanh tiền tạo bao nghiệp ác
rồi đợi sau khi chết người thân cầu siêu để được vãng sanh thì không thể
được. Chính vì lẽ đó, nên người phật tử phải ý thức sâu sắc rằng, một khi đã
tạo nghiệp ác, dù có van xin, chúng ta cũng phải là người gặt hái kết quả đau
khổ của nó. Không ai có thể đánh đổ quy luật muôn đời này. Sau đây là một
đoạn kinh cho thấy rõ điều đó: “ nếu ai làm mười nghiệp ác, rồi một quần
chúng đông đảo đến cầu khẩn van xin, thành kính mong rằng người ấy sẽ
được sanh thiện thú. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, làm mười nghiệp ác phải
rơi vào đọa xứ. Sự thể như có một người quăng tảng đá vào hồ nước, rồi
nhiều người đến cầu khẩn, van xin cho tảng đá ấy được nổi lên, sự cầu khẩn
như vậy là vô ích. Vì tảng đá, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không
thể trôi vào bờ như lời cầu khẩn. Cũng vậy, tạo mười nghiệp ác thì phải rơi
vào đọa xứ”. Ở đây, lời của Phật nhằm xác quyết rằng hành vi ác và bất thiện
là nguyên nhân gây ra các hậu quả khổ đau, mà người đã tạo ra nó phải gánh
chịu trong đời của mình, dù hiện tại hay về sau.
Như vậy, sự cầu siêu chỉ mang tính cách biểu tượng, thể hiện tấm lòng
thương kính và biết ơn đối với người quá cố, và ở phương diện khác nhằm
nhắc cho người quá cố biết về quy luật sanh tử mà không quyến luyến thế
gian, dễ dàng ra đi hay tái sanh.
Tóm lại, để được siêu thoát, mỗi người phải tự trang bị cho mình các
suốt cả tháng (thường là tháng bảy âm lịch) hoặc ba tháng (tháng giêng, tháng
bảy và tháng mười) hay cả năm, đôi khi có một số người đi phát nguyện ăn
trường trai giống như những người xuất gia.
Về mặt ăn uống, ăn chay rất phù hợp với phong cách ăn uống Á Đông,
chú trọng ăn ngũ cốc nhiều hơn thực phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho
cơ thể được nhẹ nhàng, trí óc được minh mẫn sáng suốt. Gần đây các bác sĩ
Soteylo, và bác sĩ Varia Kiplami cho biết trong các thứ thịt có nhiều chất độc,
rất nguy hiểm cho sức khoẻ con người. Và các nhà khoa học đều cho rằng ăn
chay rất hợp vệ sinh và không kém phần bổ dưỡng. Trên tinh thần đó, nên
nguời việt nam dù không phải là Phật Tử cũng thích ăn chay, và tập tục này
đã ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam từ xưa đến nay.
Ăn chay và thờ phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam. Việc
thờ phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị. Người phật tử, người mộ
đạo thờ phật đã đành, nhiều người không phải là phật tử cũng dùng tượng
phật hay tranh ảnh có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh
nhà thêm đẹp và trang nghiêm. Theo quan niệm của nhóm người này, phật
giáo là một thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại.
5.1. Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và lễ
chùa.
Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc
vọng, tức là ngày mặt trời mặt trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh, tổ
tiên có thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự
cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngày trong
sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bố tát và ngày
sám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bỏ ác làm
lành và sửa đổi thân tâm. Quan niệm ngày sóc vọng là những ngày trưởng
tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa.
Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn,
nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn
kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng
Long từ khoảng thếkỷ XII, nhưng nó đã chi phối khá sâu sắc đời sống nông
thôn Khmer. Điều này được thể hiện qua việc phân bố các ngôi chùa trên địa
bàn của đồng bào Khmer cư trú, (trên toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long
có khoảng hơn 400 ngôi chùa), xung quanh mỗi chùa bình quân khoảng l.600
người cư trú. Chùa Khmer thường tọa lạc trên một khu đất rộng, xung quanh
chùa thường được trồng các loại cây to như dầu, sao, thốt nốt tạo thành một
khu rừng nhỏ trông rất cổ kính và tĩnh lặng, toàn cảnh chùa là một không gian
tâm linh khoáng đạt và trầm mặc. Khác với nhiều tôn giáo khác, Phật giáo
Khmer không chỉ đảm nhận chức năng tôn giáo mà còn đảm nhận các chức
năng văn hóa, xã hội, đạo đức với từng cá nhân và cả cộng đồng. Chính vì
thế ngôi chùa của người Khmer được xây dựng không chỉ đáp ứng nhu cầu
của hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng mà bên cạnh đó còn có nhu cầu của giáo
dục và các sinh hoạt văn hóa xã hội của cư dân. Như vậy, việc tham gia vào
sinh hoạt, lễ nghi tôn giáo một cách thường xuyên và những hoạt động mang
tính tôn giáo đã giúp các cá nhân có cơ hội hòa hợp, gần gũi cùng nhau, hiểu
biết lẫn nhau hơn. Đây là cơ sở làm cho cộng đồng ngày càng phát triển. Một
nét đẹp về văn hoá của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long là tất cả
nam công dân đều biết chữ. Theo tập quán truyền thống, người con trai khi
lớn lên phải vào chùa đi tu, đi tu là hình thức vừa học chữ vừa học đạo, tu để
trở thành người có nhân cách, có văn hoá và là một hình thức để báo hiếu cha
mẹ đã có công dưỡng dục, sinh thành. Theo quan niệm của người Khmer, nhà
có con trai mà không đi tu là gia đình mang tiếng xấu, khi người con trai đã
vào chùa tu rồi thì trở thành thành viên trong tam bảo là phật, pháp, tăng mà
mọi người thường gọi là “lục”, hàng ngày cha mẹ, chị em phải dâng cơm cho
“lục” gặp con cha mẹ cũng phải sùng kính thi lễ, quỳ lạy như gặp “lục cả”.
Trong sách dạy làm người của người Khmer có câu “ri neak minh ban buốt
tu, chia tôn không sao sơ mai” (người không được tu hành trong chùa là
người nhiều tội lỗi trong cuộc sống), câu nói này thể hiện tầm quan trọng của
cuộc sống tu hành đối với người con trai Khmer. Vì thế, nhà trường được coi
là trường học giáo dục về tri thức và đạo lý mà các bậc sư sãi, cao tăng là