TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Tiểu luận nghiên cu :
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
& ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI THẾ GIỚI QUAN
NHÂN SINH QUAN CON NGƯỜI VIỆT NAM
GVHD: Ths Nguyễn Thị Hồng Vân
Lớp: TDL & MTT - M11CQCT02-B
Thực hiện: Nhóm 1
1
Hà Nội, 06/05/2012
MỤC LỤC
2
1. Mở đầu
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới,
tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo
được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau
công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnhđó đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên
chúa. Tuỳ từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một
tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ
của con người, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X – XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV – XIX,
học thuyết Mác – Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay. Tuy nhiên,
những học thuyết này không được ở vị trí độc tôn mà song song tồn tại với nó vẫn có
các học thuyết, tôn giáo khác tác động vào các hu vực khác nhau của đời sống xã hội,
đồng thời cũng tác động trở lại các học thuyết chủ đạo. Ngày nay dù đã trải qua các
cuộc cách mạng xã hội và các cuộc cách mạng trong hệ ý thức, tình hình vẫn như vậy.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác – Lênin là
tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc
mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêng Anavatápta ở Himalaya. Sau khi các thiên thần
tắm rửa cho bà ở trong hồ thiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ có đoá hoa sen ở
vòi bước tới và chui vào sườn bà. Ngày hôm sau các nhà thông thái được vời tới để
giải mơ của Hoàng hậu. Các nhà thông thái cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang
có mang và sẽ sinh hạ được một Hoàng tử tuyệt vời, người sau này sẽ trở thành vị
chúa tể của thế giới hoặc người thầy của thế giới. Đến ngày, đến tháng, Hoàng hậu
Mahamaia trở về nhà cha mình để sinh con. Thế nhưng vừa đến khu vườn Lumbini,
cách thủ đô Capilavastu của người Sakia không xa, Hoàng hậu trở dạ và vị Hoàng tử
đã ra đời. Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon đã đứng ngay dậy, đi bảy bước và nói: “ Đây
là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không phải luôn hồi một kiếp nào nữa!”.
4
Đến ngày thứ năm một nghi thức trọng thể được tổ chức và Hoàng tử được đặt tên
là Siđhartha. Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tu hành, đức vua cha đã tìm
mọi cách tạo ra quanh người con trai mình một cuộc sống vương giả. Hoàng tử được
học mọi kiến thức để sau này trở thành một vị vua tài ba anh minh trị vì một đất nước
ấn Độ bao la. Thế rồi, nhà vua và quần thần đã kén cho Hoàng tử một người vợ kiều
diễm. Nhưng cuộc đời vương giả không cán dỗ được Hoàng tử trẻ tuổi. Bốn sự việc
do các thần tạo ra đã làm thay đổi hẳn cuộc đời Hoàng tử Siddhartha. Đó là một lần
khi đang dạo chơi trong vườn, Hoàng tử thấy một ông già gày còm, ốm yếu rồi nhận
ra một điều rằng mọi người rồi ai cũng phải già yếu như thế. ít lâu sau Hoàng tử lại
được chứng kiến người ốm và người chết. Ba hoàn cảnh trên làm cho Hoàng tử băn
khoăn, lo nghĩ về kiếp người và muốn cứu con người khỏi những trầm luôn đau khổ
của kiếp luôn hồi: Sinh, lão, bệnh, tử chính sự việc thứ tư đã đem đến cho Hoàng tử
niềm hi vọng và an ủi. Lần đó, Hoàng tử nhìn thấy một vị hành khất dáng vẻ bần hàn
nhưng lại ung dung tự tại. Vừa nhìn thấy vị hành khất Hoàng tử như bừng tỉnh và
quyết định sẽ ra đi trở thành nhà hành khất như thế.
Được tin, đức vua Suddhôđana tìm mọi cách ngăn cản Hoàng tử. Thế nhưng
Hoàng tử không thể nào xua đi được bốn sự kiện mà mình đã chứng kiến khiến lòng
dạ của Hoàng tử không lúc nào được thanh thản. Ngay cả tin mừng công chúa
Yashôdhara sinh cho chàng một Hoàng nam cũng không làm cho Hoàng tử Sidhartha
Sidhartha. Nó cho gọi ba cô con gái xinh đẹp của mình là các nàng Khát vọng, khoái
lạc và Dục vọng tới múa nhảy mê hoặc nhà tu hành trẻ tuổi. Thế nhưng biện pháp cuối
cùng của quỷ Mara cũng thất bại và lũ quỷ phải dời khỏi gốc cây bồ đề. Rạng sáng
ngày 49, Siddhartha đã tìm ra bí mật của sự đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế giới lại
tràn đầy khổ đau và đã tìm ra được cách để chiến thắng sự đau khổ. Siddhartha đã
hoàn toàn giác ngộ và trở thành Buddha (Đấng giác ngộ). Sau khi giác ngộ Đức phật
còn ngồi tiếp bảy ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ mà
mình đã khám phá. Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạo pháp của mình cho
thế giới không vì có huyền diệu quá khó hiểu quá đối với mọi người. Chính thượng đế
Brahma phải giáng trần để khích lệ Đức phật truyền bá đạo pháp của mình cho thế
gian. Chỉ khi đó Phật mới dời khỏi gốc cây bồ đề đi đến khu vườn Lộc Uyển gần
Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên cho năm người bạn tu khổ hạnh của mình.
6
Sự kiện này được ghi chép lại như một sự kiện quan trọng nhất của Đạo phật và được
gọi là Phật quay bánh xe Đạo pháp ( chuyển Pháp Luân ). Giáo pháp mới của Đạ phật
đã gây ấn tượng mạnh đối với năm nhà tu, họ nhanh chóng trở thành những môn đồ
đầu tiên của Đức Phật. Vài ngày sau số môn đồ của Phật đã tăng lên 60 người, theo
thời gian số môn đồ Đạo Phật ngày càng tăng và các tổ chức tăng gia đã ra đời.
Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn đồ trở về
chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên. Trên đường Phật đã chuẩn bị mọi thứ
cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khi ngàu viên tịch. Và, tại một nơi thuộc
ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật đã ra đi. Câu nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các
tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ qua đi. Vậy các người càng không nên
ngừng gắng sức!”.
2.2. Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo.
Tư tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh điển rất lớn,
được tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
o Tạng Luận: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho cả năm bộ
phái Phật giáo như: “ Tứ phần luật” của thượng toạ bộ, Maha tăng kỷ luật của
“Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” … Sau này còn thêm các Bộ
trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có
mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào. Nó muôn hình vạn
trạng nhưng lại tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân quả.
Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành,
trụ, hoại, diệt ( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong). Quá trình đó phổ
biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và
hiện tượng.
8
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật, đã xây
dựng nên thuyết “ nhân duyên”, trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là
Nhân, Quả và Duyên.
o Nhân: là những cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó.
o Quả: là những cái gì tập lại từ Nhân.
o Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên không phải là
một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự
biến chuyển của vạn Pháp.
Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp
thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên
hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô thường của
nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lai. Phật giáo đã trình bày thuyết
“ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của
mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả.
o Vô minh: là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ.
o Hành: là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cái
nghiệp, cái nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và
là nhân cho Thức).
o Thc: là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành
và làm nhân cho Danh sắc.
o Danh sắc: là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta. Do
gian giữa vạn vật. Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái
lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp. Một hạt cát nhỏ được tạo thành
trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ. Cả vũ trụ hoà hợp tạo nên nó. Cũng như
nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la. Trong một có tất cả trong tất cả có một. Do Nhân
- Duyên mà vạn vật sinh hay diệt. Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt.
Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra. Nên
vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực
thể, vô bản ngã, chỉ là hư ảo. Chỉ có sự biến đổi vô thường của vạn vật, vạn sự theo
nhân duyên là thường còn không thay đổi.
Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng
biến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, có
diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó chính là cái
chân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “
chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.
Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành. Đó là
sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.
o Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ, hoá,
phong ) tức là cái cảm giác được.
Trong “Sắc’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn
thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc”
như vật chất chuyển hoá thành năng lượng chẳng hạn.
o Cái tôi tâm lý( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà
không có hình chất gọi là “ Danh”.
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con người là:
11
Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh
hội thân hay tâm.
Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.
Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.
Thc: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.
kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau.
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại
cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt,
thiện hay ác.
o Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho
rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể
xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con
người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của
những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con
người.
Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân duyên”
làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường
diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà
cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế.
Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải
thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:
o Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ,
chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa
13
nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ. …. Những nỗi khổ ấy từ đâu?
chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
o Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo
ra nỗi khổ cho chúng sinh?Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si
( si mê, cuồng mê, mê muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con
người xâu xé là do con người không nắm được nhân duyên. Vốn như là một
định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh không biết rằng mọi cái là ảo ảnh,
sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì không hiểu
được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.
o Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn
nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất
+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa.
+ Bất dâm: Không dâm dục.
+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻ khác, không nói
dối.
o “Lục độ” gồm:
+ Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ
không để cầu lợi hoặc ban ơn.
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
15
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được
mình.
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để cho cái
xấu che lấp.
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”,
“Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ. Phật
giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất
gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo.
Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật.
Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không
phải cải tạo thế giới hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần,
phủ nhận đấng sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng ( vô thường,
lý thuyết Duyên khởi ). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ
quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra.
2.3 Tình hình phát triển của phật giáo trên thế giới
Trước đây Phật giáo được coi là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, nhưng
trong những năm gần đây do sự suy yếu của một số quốc gia, số tín đồ Phật giáo đã
tụt xuống đứng sau Đạo Cơ Đốc, Đạo Ixlam và Đạo ấn Độ, chiếm vị trí thứ tư. Căn cứ
thống kê của “ Bách khoa toàn thư Cơ Đốc giáo thế giới” xuất bản ở Oxford năm
Việt Nam.
Nhưng Phật giáo có nguồn gốc ở xã hội Ấn Độ cổ đại vốn mang trong mình những
đặc điểm của tư tưởng và tôn giáo, của con người và xã hội của quá khứ và hiện đại
Ấn Độ lúc bấy giờ. Có những điều không phù hợp với con người và xã hội Việt Nam
đương thời. Vì vậy việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của đạo Phật đối
với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu
17
nghiên cứu đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo của Phật giáo
giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm được một phương cách để hướng
đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn. Theo đạo để làm điều thiện tránh cái ác,
hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái,
lên đồng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe niềm tin của quần chúng nhân dân.
3.1. Ảnh hưởng của triết học phật giáo tới thế giới quan của người Việt Nam
1.1.1 Thế giới quan là gì ?
Thế giới quan là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểu
tượng về toàn bộ thế giới, bao gồm:
o Về những sự vật, hiện tượng
o Về quy luật chung của thế giới
o Về chỉ dẫn phương hướng hoạt động của người, một nhóm người trong xã hội
nói chung đối với thực tại (nhằm phát triển sao cho tốt hơn).
Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới
bao gồm cả thế giới bên ngòai, cả con người và cả mối quan hệ của người – thế giới
(tức là mối quan hệ của người đối với thế giới). Nó quy định thái độ của con người đối
với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người.
3.1.2 Nguồn gốc của thế giới quan
Thế giới quan của mỗi cá nhân dựa trên cơ sở kiến thức khoa học của nhân loại ở
một giai đoạn lịch sử nhất định. Kiến thức khoa học đó bao gồm cả các quan điểm
triết học, xã hội học, chính trị, đạo đức, kinh tế học và khoa học nói chung.
Với bất kỳ ai nó chịu ảnh hưởng bởi:
o Những kiến thức tiếp nhận được
đại muốn tồn tại và phát triển thì phải lợi dụng, chế ngự và cải tạo thiên nhiên xung
quanh mình, phải tổ chức cải tạo xã hội của mình, phải duy trì và phát triển giống nòi.
Tính chất đó đã làm cho hoạt động thực tiễn của họ ngay từ đầu trở đã có tính toàn
diện. Vì vậy thế giới quan với đặc trưng là hình ảnh của sự vận động đó của họ cũng
ngay từ đầu đã mang tính chất toàn diện.
Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, mặc dù nền sản xuất thấp kém, khoa học tự
nhiên chưa xuất hiện, công nghiệp không có trên đất Việt Nam mặc dù những nhận
thức về tự nhiên và xã hội ở Việt Nam phần nhiều còn ngây thơ, chất phác, còn dừng
lại ở mức độ tư duy kinh nghiệm nhưng những tác phẩm thành văn và hiện vật ghi
chép lại đã cho thấy ở họ có một bức tranh tổng quát và hoàn thiện về thế giới.
Do hoàn cảnh lịch sử, các học thuyết Nho, Phật,, Lão từ bên ngoài truyền vào nước
ta. Các học thuyết đó không những không phá vỡ sự hoàn chỉnh vốn có của thế giới
quan người Việt Nam mà còn dung hoà phát triển trên cơ sở đó. Xét về mặt chất thì
Nho, Phật, Lão có quan niệm khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về thế giới, xã hội
và con người. Nhưng xét về mặt kết cấu của một thế giới quan thì Nho, Phật, Lão lại
là các bộ phận cần thiết hợp thành. Giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, có sự phân
công trách nhiệm, đồng thời cũng có sự nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau làm
thành một thế giới quan toàn diện, cần thiết cho con người phong kiến.
Thời kỳ Lý - Trần, các vua và triều đình cùng một lúc coi trọng cả ba đạo, cùng
một lúc sử dụng cả nhà nho, nhà sư và đạo sĩ. Họ đã tổ chức ra các kỳ thi tam giáo và
dựa vào thái độ của họ, người đương thời đã đề xuất ra các lý thuyết "Tam giáo đồng
nguyên", "Tam giáo đồng quy", "Tam giáo nhất nguyên" Lý thuyết "Tam giáo đồng
nguyên" còn được nêu lên mạnh mẽ ở thế kỷ XVIII. Đó không phải là điều ngẫu
nhiên, mà có cơ sở trong nội dung mỗi đạo cũng như vị trí mỗi đạo trong thế giới quan
người Việt Nam.
Nho giáo, một học thuyết được giai cấp thống trị đề cao và thần thánh hoá, nhưng
nó chỉ là học thuyết chính trị và đạo đức của giai cấp phong kiến. Trong nhiều phương
diện hoạt động của con người, nó chỉ chú ý tới phương diện xã hội, trong nhiều mối
20
quan hệ xã hội, nó chỉ chú ý đến quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. Bước vào
21
người ở đâu thì lề Phật ở đấy" ( "Lừ trung tạp thuyết" của Bùi Huy Bích). Sự không
hiểu được đó vì thái độ thành kiến và thói quen nhắm mắt trước hiện thực của nhà
nho.
Phật giáo, ngoài vấn đề thế giới quan của giai cấp phong kiến, còn là vấn đề của
người dân bình thường, được quần chúng tự nguyện tin theo. Ngoài tính giai cấp ra,
Phật giáo còn có tính quần chúng. Chính vì vậy, khi cuộc cách mạng xã hội nổ ra thì
Nho và Lão - Trang không còn cơ sở tồn tại, nhưng Phật giáo vẫn còn sống dai dẳng.
3.2. Ảnh hưởng của triết học phật giáo tới nhân sinh quan của người Việt Nam
3.2.1. Nhân sinh quan là gì ?
Đã là người không ai không băn khoăn tự hỏi mình do đâu mà có? Sự hiện diện
của mình trên cõi đời này như thế nào? Hoàn cảnh của mình sống như thế nào? v. v
Thật là bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu câu hỏi làm người ta băn khoăn, thắc mắc, ăn
không yên, ngủ không yên.
Để giải quyết các vấn đề trên, các triết học và tôn giáo đều có đưa ra những lời
giải đáp hay biện minh về "vấn đề sống" ấy, gọi là nhân sinh quan.
Là một tôn giáo, có một triết học rất cao, đạo Phật tất nhiên cũng có dành một phần
lớn để nói về nhân sinh quan.
Nhân sinh quan ấy như thế nào? Đó là một vấn đề mà mỗi Phật tử chúng ta không thể
không biết đến được. Sự hiểu biết này có thể giúp chúng ta nhận chân được những ưu
điểm và khuyết điểm của con người và giúp chúng ta sắp đặt cuộc đời và sống một
cuộc sống có ý nghĩa và lợi lạc cho mình và cho xã hội.
3.2.2. Nhân sinh quan do đâu mà có ?
Trước tiên, vấn đề làm chúng ta thắc mắc nhiều nhất là: Con người do đâu mà có?
Để giải đáp vấn đề này, đạo Phật có thuyết "mười hai nhân duyên".
Trong mười hai nhân duyên ấy, vô minh là căn bản. Vô minh là gì? Tức là đối với
sự lý, không rõ biết được đúng như thật. Do đó mà sanh ra mê lầm, thật cho là giả, giả
cho là thật, điên đảo hư vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình, người; rồi theo
cảnh thuận nghịch mà theo cảnh phiền não, nên cũng gọi là "hoặc". Từ mê hoặc mà
22
hữu, để làm nhơn cho quả "Khổ" sau là sanh và lão tử ở vị lai.
Như thế, từ nhơn quá khứ, sang quả hiện tại, làm lại nhơn cho quả tương lai, ba
đời cứ nối tiếp xoay vần mãi mãi không dứt, như một bánh xe lăn tròn, lên xuống,
xuống lên không ngừng nghỉ.
Cứ đó mà suy ra thì biết rằng, người chẳng những sống một đời trong hiện tại
này, mà trước kia, về quá khứ đã trải qua không biết bao nhiêu đời sống rồi. Và sau
này, trong vị lai, cũng sẽ còn vô lượng đời sống nữa. Người hiện sống đây để rồi chết,
mà cái chết lại là cái nhơn làm thành đời sống vị lai.
Như thế, sống, chết nối tiếp theo nhau không bao giờ dứt, như những làn sóng,
cái này tan đi để hiệp lại cái khác, không bao giờ hết, nếu còn gió. Con người, nếu gió
vô minh còn thổi thì dòng sanh mạng còn lưu chuyển, lăn trôi, chìm nổi mãi.
3.2.3. Quá trình ảnh hưởng triết học phật giáo tới nhân sinh quan của
người Việt Nam
Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính:
• Thời kỳ từ đầu công nguyên
• Thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều dại Đinh, Lê, Lý, Trần
đến triều nguyễn;
• Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954.
Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta thế
kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và
Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi (do
ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam
Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”; Thời nhà Đường xuất hiện dòng thiền
thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng lập), Với
tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm. Điểm nổi
bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ-Thiền sư.
24
Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều
Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng
thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua; Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển