Islam giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị hiện đại ở một số nước Đông Nam Á - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
hoàng thị h-ờng
islam giáo và ảnh h-ởng của nó đến đời sống
chính trị hiện đại ở một số n-ớ đông nam á

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Cảnh

1.2.3. Đặc trưng của Islam giáo 28
1.3. Islam giáo ở Đông Nam Á 31
1.3.1. Lược sử quá trình du nhập phát triển của Islam giáo ở Đông Nam Á 31
1.3.2. Đặc trưng của Islam giáo ở Đông Nam Á 38
CHƯƠNG 2. ẢNH HƯỞNG CỦA ISLAM GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ
HIỆN ĐẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á
44

2.1. Khái quát đời sống chính trị của các nước Đông Nam Á 44
2.2. Islam giáo trong đời sống chính trị hiện đại ở một số nước Đông
Nam Á 54
2.2.1. Indonesia 55
2.2.2. Malaysia 61
2.2.3. Thái Lan 71
2.2.4. Philippin 73
CHƯƠNG 3. ISLAM GIÁO Ở VIỆT NAM
77

3.1. Quá trình du nhập và phát triển của Islam giáo (đạo Hồi) ở Việt Nam 77
3.2. Sự khác nhau giữa hai nhóm tín đồ Islam giáo ở Việt Nam 79
3.3. Islam trong chính sách tôn giáo ở Việt Nam 85
PHẦN KẾT LUẬN
93

TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
PHỤ LỤC
2

thần thoại - thi ca… mà hiện nay trực tiếp hay gián tiếp, với các mức độ khác
nhau vẫn quy định đáng kể đời sống của họ. Tuy nhiên, trong suốt hàng thế
kỷ thống trị tuyệt đối của Islam giáo, các truyền thống tiền Islam giáo hoặc là
đi vào quá khứ không để lại dấu vết gì hoặc là bị cải biến và chỉ còn quy
thành sự đặc thù của văn hoá dân tộc. Dĩ nhiên sự đặc thù này là rất quý giá
đối với mỗi dân tộc của thế giới Islam giáo.
Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên tất cả mọi
phương diện của cuộc sống loài người hiện đại, trong đó phải kể đến quá trình
tiếp biến văn hoá với vô số mâu thuẫn và những vấn đề nảy sinh. Islam giáo,
văn hoá Islam giáo và các dân tộc Islam giáo có một vị trí quan trọng trong thế
giới hiện đại. Quá trình xác lập một trật tự thế giới mới cho thấy, Islam giáo
không những làm phong phú các nền văn hoá mà còn nảy sinh những mâu
thuẫn giữa các dân tộc có tôn giáo, văn hoá khác nhau.
Chúng ta đang sống trong thời đại văn hoá hoà bình, vì vậy để xác lập
được một nền hoà bình vững chắc thì sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,
giữa các tôn giáo, giữa các nền văn hoá khác nhau là điều kiện rất cần thiết.
Chính sự hiểu biết lẫn nhau này đòi hỏi chúng ta phải có tinh thần khoan dung,
phải tìm hiểu văn hoá sinh tồn của nhau, trong đó tôn giáo đóng một vai trò rất
quan trọng. Tiếc thay, do những nguyên nhân nhất định mà Islam giáo chưa
được tìm hiểu nhiều ở nước ta. Vì vậy, việc làm quen với Islam giáo - một
trong những tôn giáo thế giới, một tôn giáo chi phối cuộc sống của hơn 1 tỷ tín
đồ và đang có những tác động mạnh mẽ đến thế giới hiện đại, là một việc làm
rất cần thiết và có ý nghĩa.
Mặt khác, cùng quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng thì tất
yếu kéo theo sự hội nhập của các yếu tố khác trong đời sống xã hội. Do vậy,
đòi hỏi chúng ta phải am hiểu rõ văn hóa các nước trong khu vực, trong đó

mức độ và quy mô được đẩy nhanh, mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong đó có
sinh hoạt tôn giáo. Bên cạnh những mặt tích cực, không thể không có những
tác động tiêu cực, nhất là trên bình diện sinh hoạt tôn giáo. Trong đó có việc
lợi dụng sinh hoạt của một số tôn giáo cho những mục đích chống phá nhà 4

nước ta đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp. Mặt khác, vấn đề Islam giáo
và chính trị ở các nước Đông Nam Á láng giềng đang có những quan ngại
không chỉ với nội bộ Đông Nam Á mà còn thu hút sự chú ý của cả cộng đồng
quốc tế. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo, đoàn kết dân
tộc, góp phần bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì vấn đề quan hệ giữa
tôn giáo, trong đó có Islam giáo với đời sống chính trị ở nước ta hiện nay cần
được quan tâm. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Islam giáo và ảnh hưởng của nó
đến đời sống chính trị hiện đại ở một số nước Đông Nam Á” là việc làm cần
thiết, rất có ý nghĩa không chỉ đối với việc góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
của Islam giáo trong quá trình hội nhập và phát triển của cộng đồng các quốc
gia Đông Nam Á, mà còn đóng góp vào việc tìm hiểu đời sống tinh thần và
những vấn đề thực tiễn của đất nước và con người Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Islam giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới đã và đang thu
hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau như: triết học, sử học, tôn giáo học,… Dưới nhiều góc độ tiếp cần khác
nhau, các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được một bức tranh toàn cảnh
về sự phát triển của Islam giáo cũng như những nét đặc thù của Islam giáo so
với các tôn giáo khác.
Trên thế giới đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về Islam giáo - một tôn
giáo độc thần như:

do TS. Ngô Văn Doanh làm chủ nhiệm đề tài. Đây là một trong những công
trình mới và có quy mô về nền chính trị Islam giáo trong toàn khu vực trên
phương diện lịch sử là chủ yếu. Công trình khoa học này đã nêu rõ được cội
nguồn hay đặc tính chính trị của Islam giáo cũng như vai trò của Islam giáo
đói với lịch sử chính trị nói chung và đời sống chính trị hiện nay ở Đông Nam
Á nói riêng. Bên cạnh đó, công trình cũng làm rõ được những ảnh hưởng tích
cực và những biểu hiện, hoạt động đối lập, thậm chí ly khai với các xu hướng
chính trị, chính sách của chính quyền. 6

“Mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” của tác giả Ngô Hữu Thảo và “Mối quan hệ tôn giáo và chính trị - Những
vấn đề lý luận và mô thức” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo) của Nguyễn Hồng
Dương đã cơ bản làm rõ được mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị. Biểu hiện
của mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và tôn giáo là sự phản ánh khách quan
về thực trạng và bản chất quyền lực của mỗi hiện tượng. Cả tôn giáo và chính trị,
xét từ góc độ quyền lực, cả hai đều có tham vọng thâu tóm nhau, nhưng thực tế
nhiều khi chúng buộc phải chia xẻ cho nhau. Xét về góc độ lịch sử, có thể xuất
hiện tình trạng “thuần túy tôn giáo”, nhưng về lôgic thì không thể. Và trong quan
hệ giữa nhà nước với tôn giáo, khi vị trí của nhà nước cao hơn giáo hội tôn giáo,
thì “tôn giáo phải ủng hộ chính quyền thế tục, nhưng là để cho chính quyền thế
tục không ngừng phục tùng tôn giáo”.
“Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại: Islam giáo” của tác giả
Nguyễn Đức; “Bước đầu tìm hiểu sự hình thành và truyền bá của Islam giáo”
của tác giả Nguyễn Đình Lê (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo)… Trong các
công trình này, các tác giả đã trình bày khá rõ nét về sự hình thành của Islam
giáo trên bán đảo Ảrập, sự truyền bá của nó trên thế giới nói chung và đặc
biệt là ở khu vực Đông Nam Á nói riêng. Các tác giả tập trung khai thác các

Islam giáo trong lịch sử chính trị Inđônêsia và Malaysia” của tác giả Đặng Thị Thu
Hương (Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2006); “Bối cảnh ra đời và xu
hướng phát triển của các đảng chính trị Islam giáo ở Đông Nam Á, trường hợp
Inđônêsia và Malaysia” của tác giả Nguyễn Thanh Hải; “Toàn cảnh chính trị Đông
Nam Á năm 2007” của tác giả Trần Khánh; “Về phong trào ly khai ở miền Nam
Thái Lan những năm gần đây” của Nguyễn Hữu Nghị;… Các tác giả đã phân tích
ảnh hưởng của Islam giáo đối với đời sống chính trị của một số nước trong khu vực
Đông Nam Á như Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Việt Nam. Từ đó đi đến khẳng
định Islam giáo ở các nước Đông Nam Á phát triển một cách độc lập với Islam giáo
tại Trung Đông và nhin chung là ôn hòa và khoan dung hơn.
Trên tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số 5/2010 có bài viết “Một vài suy nghĩ
về tác động của toàn cầu hóa đối với Islam giáo” của tác giả Lương Thị Thu 8

Hường đã phân tích rất cụ thể những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu
hóa đối với Islam giáo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Islam giáo có thể trở thành
một động lực mạnh mẽ giúp duy trì sự đoàn kết giữa các sắc tộc tại Trung Đông,
tạo nên một thứ sức mạnh chính trị mà những cộng đồng văn hóa khác trên thế
giới không thể không tính đến. Tuy nhiên, đứng ở phương diện khác, toàn cầu
hóa không chỉ đem lại cho Islam giáo những cơ hội mà cả những thách thức,
những trở ngại đối với lý tưởng ngôi nhà chung Islam giáo và có thể tạo nên
những kích động “thánh chiến” bạo lực từ phía những kẻ cực đoan.
Xét về tổng quan, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Islam giáo
dưới các góc độ khác nhau, nhưng việc nghiên cứu có hệ thống về Islam giáo
ở Đông Nam Á nói chung và ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị ở một
số nước trong khu vực từ góc độ chính trị - xã hội trên lập trường Mácxít vẫn
đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

số nước trong khu vực Đông Nam Á, luận văn đã tìm hiểu một cách tương đối
có hệ thống về ảnh hưởng của Islam giáo đến đời sống chính trị hiện đại một
số nước Đông Nam Á.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên
cứu, giảng dạy, học tập các vấn đề có liên quan đến sự ảnh hưởng của Islam
giáo trong đời sống chính trị khu vực Đông Nam Á, cũng như cho những ai
muốn tìm hiểu về Islam giáo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương và 8 tiết.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Ảnh hưởng của Islam giáo đến đời sống chính trị hiện đại
ở một số nước Đông Nam Á
- Chương 3: Islam giáo ở Việt Nam 10

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm “tôn giáo”
Thuật ngữ “tôn giáo” vốn không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài
vào từ cuối thế kỷ XIX. “Tôn giáo” (bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng
Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa
là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc từ
phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi
khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái
niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn

“Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới
không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”. (27; tr. 14)
Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen:
“Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực
lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” (28; tr. 437)
Như vậy, tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình,
mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại
một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới
bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ
lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng
tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác
nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Nhìn đại thể, quan điểm của chủ nghĩa Mác về tôn giáo vẫn được nhiều
nhà nghiên cứu sử dụng. Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội phản ánh một
cách hư ảo những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của con
người vào đầu óc của nó. Đó là sự phản ánh thế giới vật chất và ý thức của
con người một cách đặc biệt, đó là sản phẩm của lịch sử, một hiện tượng
thuộc thượng tầng kiến trúc. Tôn giáo là một hình thái ý thức tư tưởng, đồng
thời là một thực tại xã hội. Và trong phạm vi của luận văn, chúng tôi sẽ khai
thác khái niệm tôn giáo ở khía cạnh thần học với những tín lý, tín điều về vũ
trụ quan và nhân sinh quan.
1.1.2. Khái niệm chính trị
Chính trị, theo ngữ học gồm 2 chữ: chính và trị. Chính có nghĩa là ngay
thẳng. Trị là cai trị. Chính trị là cai trị một cách ngay thẳng. Nhưng chính, ngay
thẳng ở đây theo nghĩa bóng còn có nghĩa là cái gì đạo đức, tốt đẹp, nhân đạo,
liên quan đến Chân, Thiện, Mỹ. Chân là sự thật, lòng yêu sự thật, tính tôn trọng
sự thật. Thiện là tốt, là lòng thương người, giúp đỡ người, là lương tâm, lương
tri. Mỹ là cái đẹp, cái được con người từ xưa tới nay kính trọng. 13

cộng sản, hiệu lực quản lí của nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động
trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (54)
Như vậy, đời sống chính trị trong luận văn được quan niệm là tình trạng,
những hoạt động diễn ra trong xã hội mà trước hết trên lĩnh vực chính trị không
tách rời các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hoá Trong các nước Đông Nam Á
hiện đại, đời sống chính trị rất đa dạng. Làm nên sự đa dạng đó là truyền thống
văn hoá, sinh hoạt tôn giáo, hoạt động kinh tế và đặc biệt không thể không đề
cập đến sự khác biệt, đa dạng về thể chế chính trị.
1.1.3. Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
Tôn giáo và chính trị đều thuộc về kiến trúc thượng tầng của nhà nước.
Giữa chúng có mối quan hệ với nhau. Tuỳ vào thời kỳ lịch sử, tuỳ vào thể chế
nhà nước mà mối quan hệ giữa chúng có sự khác nhau. “Nhà nước, xã hội sản
sinh ra tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều gắn với thể chế nhà nước, phản ánh hình
mẫu nhà nước”; “Ảnh hưởng qua lại giữa học thuyết chính trị - tư tưởng của
nhà nước với thần học tôn giáo được thể hiện qua thể chế nhà nước” (16; tr.7)
Biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và tôn giáo là sự
phản ánh khách quan về thực trạng và bản chất quyền lực của mỗi hiện tượng.
Trên thế giới và ở Việt Nam, từ lịch sử đến đương đại, mối quan hệ giữa tôn
giáo với chính trị luôn được các lực lượng chính trị quan tâm, nhất là lực
lượng cầm quyền. Ở Việt Nam hiện nay, việc nhận thức về mối quan hệ giữa
chính trị với tôn giáo được đặt ra nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật đối
với tôn giáo, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững xã hội.
Từ phương diện lý luận, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin
cho rằng, mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị là mối quan hệ của hai hiện
tượng thuộc về thượng tầng kiến trúc, được quy định trước hết và căn bản là
do cơ sở hạ tầng, sau nữa là do quy luật riêng của mỗi hiện tượng. Mặt khác,

nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước tư sản vẫn thừa nhận và đảm bảo vai trò của
giáo hội, xem quan hệ của công dân với tôn giáo là công việc riêng của họ.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, chủ trương tự do tín ngưỡng và
hướng tới việc xóa bỏ dần quan hệ chi phối của tôn giáo đối với chính trị. 15

Trong đó quy định, nhà nước không nên làm các công việc của tôn giáo và
tôn giáo không nên gắn với chính trị.
Tóm lại, chúng ta có thể nhìn nhận và phân tách một cách cụ thể những
biểu hiện của mối quan hệ tôn giáo và chính trị, cụ thể có ba loại biểu hiện:
Chính giáo hợp nhất có hai đặc trưng cơ bản đó là thần học tôn giáo là
chuẩn tắc tối cao của hình thái ý thức nhà nước, kẻ thống trị bị thần thánh hóa
trở thành hóa thân hoặc đại diện của thần thánh; nhân viên chức sắc tôn giáo
trực tiếp tham gia quản lý hoặc khống chế bộ máy nhà nước.
Chính giáo phân ly ngược lại với chính giáo hợp nhất, ở đó giáo hội
tách khỏi nhà nước và hoạt động thuần túy tôn giáo không can thiệp vào hoạt
động của nhà nước. Đồng thời, nhà nước quản lý giáo hội bằng pháp luật.
Chính thể hòa hợp tồn tại dưới nhiều dạng mô thức: i) thần học tôn
giáo có vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng trị nước và là nguồn gốc của pháp
luật, mô thức này đang hiện diện ở hàng loạt các nước lấy tôn giáo trong đó
có Islam giáo là quốc giáo; ii) nhà nước đã khai thác, ứng dụng những tư
tưởng thần học phù hợp để xây dựng đất nước, các tín đồ, giáo hội cùng đồng
thuận với nhà nước. (14; tr.7-13)
Như vậy, nhìn từ lịch sử đương đại, dưới các nền chính trị khác nhau,
mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo diễn ra theo các chiều:
Chiều tôn giáo tác động đến chính trị: tôn giáo đối đầu hoặc chống đối
công khai với chính trị, thần quyền tôn giáo bắt thế quyền chính trị phải phục
tùng theo. Tôn giáo tham gia vào đời sống chính trị, kể cả vào bộ máy nhà

luật lệ không chính thức (như văn hóa, giá trị, nguyên tắc đạo đức…)
Một số nhà nghiên cứu khác coi thể chế không chỉ bao gồm những quy
định, luật lệ, mà còn bao gồm cả những tổ chức nữa. Ngân hàng Thế giới
(2002) định nghĩa thể chế là “những quy định và tổ chức, bao gồm cả chính
thức lẫn không chính thức, điều phối hoạt động của con người.” Với khái
niệm này, thể chế không chỉ bao hàm “luật chơi” mà còn cả “người chơi”.
Cùng với khái niệm này là mô tả thể chế, bao gồm: tài sản xã hội (niềm tin,
giá trị được thừa nhận, tôn giáo, mạng lưới quan hệ, quy chuẩn); luật lệ (bao 17

gồm các quy định, truyền thống, nguyên tắc, pháp luật, và hiến pháp) và các
tổ chức (các cơ quan của chính phủ, các công ty, các tổ chức xã hội dân sự,
cảnh sát, tòa án…)
Ở Việt Nam, cách tiếp cận khái niệm “thể chế” là cách thứ nhất. Trong
Chương trình Tổng thể Cải cách Hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010,
cải cách thể chế và cải cách tổ chức bộ máy hành chính được hiểu là hai nội
dung độc lập.
Từ khái niệm thể chế và chính trị, chúng tôi đưa ra khái niệm thể chế
chính trị là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà
nước do tình hình chính trị trong nước chi phối. Thể chế chính trị được quy
định trước hết bởi bản chất giai cấp và hình thức nhà nước, tính chất của pháp
luật và quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tương quan lực
lượng của các giai cấp, mức độ và hình thức đấu tranh giai cấp cũng như
truyền thống lịch sử của đất nước và hoàn cảnh quốc tế v.v… là những yếu tố
ảnh hưởng đến thể chế chính trị. Điểm cốt yếu nhất quyết định đến thể chế
chính trị là bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước, chính trị
hiện hành (ví dụ: chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ
nghĩa). Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể chế chính trị là dân chủ, được

như nếu một hội đồng theo một dạng nào đó được bầu lên bởi người dân, và
hội đồng này sau đó sẽ bầu ra người đứng đầu nhà nước. Trong các nền cộng
hòa này nhiệm kì thông thường của tổng thống kéo dài trong khoảng bốn đến
sáu năm. Trong một số nước, hiến pháp giới hạn số nhiệm kì một người có
thể được bầu lên vị trí tổng thống.
Hiện nay, thể chế chính trị của các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) từ
sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay gắn liền với quá trình đấu tranh giành
và giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Sự lựa chọn
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa là một trong
những yếu tố quyết định tính chất và đặc điểm của hình thức chính thể. Trong
số 8 nước đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, có 4 nước theo hình
thức chính thể quân chủ lập hiến (Brunây, Campuchia, Malaixia, Thái Lan); 19

Xingapo có hình thức chính thể cộng hòa đại nghị theo mô hình của nước
Anh. Riêng Mianma, theo Hiến pháp năm 1947 là chính thể cộng hòa dân chủ
đại nghị, nhưng từ sau các cuộc đảo chính quân sự (năm 1962-1974 và năm
1988), thể chế chính trị của Mianma đến nay vẫn đang là chế độ quân sự.
Nước Lào từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành được độc lập
đã đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa với hình thức chính thể cộng
hòa dân chủ nhân dân.
Ở các nước Đông Nam Á phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa,
phải trải qua nhiều biến động, nhiều xung đột gay gắt, giai cấp tư sản và địa
chủ tại các nước này mới dần dần giữ được vị trí thống trị của mình. Nền dân
chủ tư sản ở các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng và mô phỏng dân chủ tư
sản phương Tây, mức độ nhiều ít khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể của mỗi nước. Nhưng do đặc điểm lịch sử và điều kiện kinh tế -
xã hội của những nước này không có sự tương đồng như các nước phương

quyền. Ví dụ: Đảng Nhân dân hành động (PAP) là đảng duy nhất cầm quyền
ở Xingapo liên tục từ năm 1959 đến nay; ở Malaixia, Đảng Dân tộc Mã Lai
thống nhất (UMNO) cầm quyền suốt 40 năm qua,v.v Đây là điều kiện bảo
đảm ổn định về chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở những
nước này trong những năm vừa qua, nhất là Xingapo.
1.2. Tổng quan về Islam giáo
1.2.1. Lịch sử Islam giáo đến đầu thế kỷ XX
Islam giáo trong tiếng Ảrập có nghĩa là sự phục tùng, sự vâng lời, hay
thuận theo. Cũng như mọi tôn giáo thế giới khác (đạo Phật, đạo Kitô), Islam giáo
ra đời “gắn liền với những chuyển biến xã hội vĩ đại” (22; tr. 5-7) và “có khả
năng truyền bá rộng rãi, không chỉ bó hẹp trong một cộng đồng dân tộc, một bộ
tộc hay một khu vực” (22; tr. 5-7). Vì thế, mặc dù là tôn giáo ra đời muộn hơn so
với đạo Phật, đạo Kitô, song đến nay Islam giáo đã là một tôn giáo có số lượng
tín đồ và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, không kém gì hai tôn giáo kể trên.
Cũng giống như các tôn giáo độc thần, Islam giáo chỉ tin thờ một
Thượng đế duy nhất là Thánh Allah. Tín đồ Islam giáo (thường được gọi là
“Musul-mans” hoặc Muslim - quy phục Thánh) tin rằng ngoài Allah không 21

còn vị thần nào khác. Allah là đấng toàn năng đã tạo dựng vũ trụ và muôn
loài, tất cả những gì trên thế giới này đều thuộc về Allah. Tín đồ Islam giáo
tin rằng đấng Allah sẽ đưa lên thiên đàng những ai vâng phục người và trừng
phạt những kẻ không vâng phục.
Islam giáo tiếp thu nhiều quan niệm của các tôn giáo khác, nhất là Do
Thái giáo và Kitô giáo. Islam giáo tiếp thu của đạo Do Thái nhiều quan niệm
như: truyền thuyết về sáng tạo thế giới, thiên đường, địa ngục, cuộc phán xét
cuối cùng,… và một số nghi lễ như: trước khi cầu nguyện phải rửa mặt và tay,
khi cầu nguyện phải thủ phục trán sát đất,… Thánh Allah của Islam giáo còn

việc hình thành của ba nhà nước Islam giáo lớn thì đạo Islam giáo cũng được
truyền bá rộng rãi ở châu Phi, châu Á và Đông Nam châu Âu. Cuối thế kỷ XIII,
những thương nhân Islam giáo đã đem đạo Islam tới Đông Nam Á và đến thế kỷ
XVII, đạo Islam đã chiếm ưu thế ở khu vực Đông Nam Á hải đảo.
Bước vào thế kỷ XIX, các cường quốc phương Tây bước vào giai đoạn
phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản. Các quốc gia Islam giáo bằng cách
này hay cách khác, hầu hết bị biến thành thuộc địa, thành thị trường tiêu thụ,
nơi cung ứng nguyên vật liệu. Dưới sự thống trị của chủ nghĩa tư bản và phong
kiến bản địa, mâu thuẫn trong lòng xã hội Islam giáo trở nên gay gắt. Các cuộc
đấu tranh của nhân dân nổ ra khắp nơi và ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới
nhiều hình thức khác nhau. Có nơi là phong trào khởi nghĩa của cả dân tộc, có
nơi với hình thức đấu tranh của các giáo phái dưới ngọn cờ của Islam giáo.
Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là sự suy tàn của đế chế Islam giáo
Ottoman, do đó thời kỳ này bắt đầu xuất hiện xu hướng một bộ phận giáo sỹ và
các nhà thần học Islam giáo đã đoạn tuyệt với tổ chức tôn giáo của nhà nước và
tham gia vào các tổ chức chính trị - tôn giáo phi chính phủ. Đầu tiên là tổ chức
“Những người anh em Muslim” do Hasan Panne thành lập năm 1928. Tôn chỉ
của tổ chức này là duy trì truyền thống của Islam giáo trên cơ sở kinh Côran,
quay về với những giá trị Islam giáo trung cổ để có được “Islam giáo chân
chính”. Tổ chức thứ hai được thành lập là “Jama’al-I-Islamia” do Al-ala
Mawdudi thành lập tại Ấn Độ năm 1941. Mục đích của tổ chức này là tạo dựng
một nước Islam giáo dựa trên nền tảng của kinh Qur'an. 23

1.2.2. Islam giáo trong bối cảnh hiện nay
Islam giáo hầu như có mặt khắp nơi trên thế giới và có sức ảnh hưởng
rất lớn. Theo thống kê của Liên hiệp quốc, số lượng tín đồ Islam giáo từ giữa
thế kỷ XX đến nay phát triển rất nhanh. Năm 1950 số lượng tín đồ là 418

Trích đoạn Islam giỏo trong bối cảnh hiện nay Đặc trưng của Islam giỏo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status