Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 1 Lớp K33A - GDCD
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HIỀN NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH
THẦN Ở BẮC NINH HIỆN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lịch sử triết học Người hướng dẫn khoa học
TS. VI THÁI LANG
Hà Nội, 2011
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 2 Lớp K33A - GDCD
LỜI CẢM ƠN
1.2.1. Khái niệm nhân sinh quan 10
1.2.2. Nội dung của nhân sinh quan Phật giáo 12
Chương 2: Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến sự phát triển
đời sống tinh thần ở Bắc Ninh hiện nay 23
2.1. Sự du nhập của Phật giáo vào Bắc Ninh 23
2.1.1. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 23
2.1.2. Sự du nhập của Phật giáo vào Bắc Ninh 24
2.2. Tình hình kinh tế- xã hội ở Bắc Ninh hiện nay 27
2.3. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến sự phát triển đời sống tinh
thần ở Bắc Ninh hiện nay 30
2.3.1 Ảnh hưởng về mặt đạo đức, lối sống 30
2.3.2. Ảnh hưởng về mặt văn hóa- giáo dục 37
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực và
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo ở Bắc
Ninh hiện nay 50
3.1 Những định hướng chung về tôn giáo 50
3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những
ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo ở Bắc Ninh hiện nay
57
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 4 Lớp K33A - GDCD
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 6 Lớp K33A - GDCD
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và đã du nhập
vào Việt Nam từ rất sớm. Trải qua nhiều thời kỳ biến động có lúc thịnh lúc
suy khác nhau, Phật giáo đã tự khẳng định được mình như một thành tố không
thể tách rời của nền văn hóa dân tộc. Phật giáo đã trở thành một trong những
tôn giáo lớn, có sức sống lâu dài tồn tại mãi cho đến ngày nay, đồng thời Phật
giáo có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống của nhân dân Việt Nam nói
chung và nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
Người Việt Nam nói chung và người Bắc Ninh nói riêng tiếp nhận Phật
giáo trước hết ở tinh thần từ – bi – hỷ - xả của tôn giáo này. Họ thấy ở Phật
giáo có những lời khuyên dạy nhân từ, thấy ông Bụt hiền lành không bao giờ
làm hại ai, hoặc Phật bà Quan Âm với bình cam lồ trên tay luôn cứu giúp con
người trong cơn khốn khó. Những con người bình dân không có thời gian và
cũng không đủ trình độ để bàn đến vấn đề giáo lý cao siêu nhưng với tinh
thần từ- bi- hỉ- xả khuyên con người tránh điều ác, làm điều thiện dễ đi sâu
vào tâm thức của con người.
Nhân sinh quan Phật giáo lấy con người làm trung tâm, đặt con người ở
vị trí chủ thể của xã hội và chính con người phải chịu những nghiệp báo do
chính mình tạo ra.
Xung đột, vấp ngã và đau khổ là những bài học trong cuộc đời để
chúng ta trưởng thành và trở nên nhân hậu hơn trước con người và cuộc sống.
Những kinh nghiệm sống mà chúng ta đã đi qua, đang trải nghiệm và sẽ gặp ở
trong đời không phải là thưởng phạt của một đấng toàn năng nào cả. Chúng là
do chúng ta tạo ra, do chúng ta phản ứng trước các tình huống thực tế của
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nhân sinh quan Phật giáo
và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần ở Bắc Ninh hiện nay” làm đề
tài khóa luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phật giáo là một đề tài rộng lớn và quan trọng nên đã có rất nhiều nhà
nghiên cứu đi sâu tìm hiểu. Nhiều công trình nghiên cứu Phật giáo đã đi sâu
vào các khía cạnh khác nhau: Nguồn gốc ra đời và phát triển của đạo Phật;
những vấn đề cơ bản về giáo lý của Phật giáo; thế giới quan của Phật giáo;
nhân sinh quan của đạo Phật…
Qua tìm hiểu, tôi thấy một số công trình tiêu biểu sau:
1. Bùi Biên Hòa (1998), “Phật giáo và thế gian”, Nxb Hà Nội.
2. “Đạo Phật và một số vấn đề của lý luận tư tưởng Việt Nam” (1986),
Viện Triết học, Hà Nội.
3. Thích Minh Châu (1993), “Năm giới, một nếp sống lành mạnh, an
lạc, hạnh phúc”, Nxb giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thiền viện Vạn Hạnh.
4. Trần Khánh Dư, “Phật giáo và đặc điểm vai trò của phật giáo ở Việt
Nam trong đời sống văn hóa - tinh thần của người Việt Nam”, Nghiên cứu
Tôn giáo.
5. TS. Lê Hữu Tuấn (2000),“Những đạo lý căn bản của phật giáo ” Tạp
chí nghiên cứu Phật học.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng đề tài “Nhân sinh
quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần ở Bắc Ninh hiện
nay” thì có rất ít. Nên tôi chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình và xem xét, nghiên cứu dưới góc độ triết học về nhân sinh quan Phật
giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống tinh thần ở Bắc Ninh hiện nay. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 9 Lớp K33A - GDCD
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-Phương pháp liệt kê.
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thưc tiễn của đề tài : “Nhân
sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần ở Bắc Ninh
hiện nay”- Đó là những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo tới đời sống
tinh thần và những biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực ở Bắc Ninh hiện nay.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên trong viêc tìm
hiểu và nghiên cứu các vấn đề về nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của
nó ở Bắc Ninh hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm có 3 chương, 7 tiết.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 11 Lớp K33A - GDCD
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo
1.1.1. Sự ra đời của Phật giáo
Đạo Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI. TCN ở Ấn Độ trên vùng đất thuộc
Nê Pan ngày nay. Đây là thời kỳ phát triển cực thịnh của đạo Bà La Môn cả
về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị- xã hội. Dân cư trong xã hội Ấn Độ cổ đại
lúc này chia làm 4 đẳng cấp là Bà La Môn (Brahmanas), Sát đế lị (Kasatryas),
Vệ xá (vaisyas) và Thủ đà la (Soudras). Bà la môn là đẳng cấp có địa vị cao
nhất, bao gồm những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp. Sát đế lị là
đẳng cấp của vua quan và tầng lớp võ sĩ. Vệ xá là đẳng cấp của những người
bình dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, thợ thủ công…
Thủ đà la là đẳng cấp thấp nhất, chiếm đa số, là con cháu của những bộ lạc
bại trận, những người bị phá tài sản không có tư liệu sản xuất.
và bỏ lối tu khổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ.
Sau 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ đề (bodhi) tại làng Uruvela, chìm
đắm trong tư duy sâu thẳm, Ngài tuyên bố đã đến được với chân lý, hiểu được
bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt. Ngài tự
xưng là Phật (Buddaha-có nghĩa là giác ngộ). Người đời gọi ngài là Thích Ca
Mâu Ni (bậc thánh của dòng họ Thích Ca).
Từ đó Phật truyền bá đức tin, thành lập các đoàn truyền giáo. Đạo Phật
ra đời trên thực tế là sự phủ nhận chế độ đẳng cấp của đạo Bà La Môn. Giáo
lý đạo Phật sâu sắc, hấp dẫn, đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự giải thoát; lễ
nghi đạo Phật đơn giản, không tốn kém như đạo Bà la môn nên nhanh chóng
thu hút được đông đảo tín đồ. Năm 483 TCN, lúc 80 tuổi Phật tịch.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 13 Lớp K33A - GDCD
Trong quá trình phát triển, đạo Phật đã hình thành nhiều bộ phái khác
nhau. Có hai bộ phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa.
Trong thời kỳ Thích Ca Mâu Ni còn sống, những tư tưởng triết lý của
Phật giáo chỉ được truyền miệng. Sau khi ông nhập diệt, ở cuộc kết tập lần
thứ nhất tại Thất Diệp Động, các môn đệ đã quyết định ghi chép lại toàn bộ tư
tưởng triết lý Phật giáo trong sách “Tam tạng kinh”. Tam tạng kinh gồm ba
bộ là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Học thuyết Phật giáo có hai nội dung
chính là thế giới quan và nhân sinh quan.
Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân
tích nhân- quả. Theo Phật giáo, nhân – quả là một chuỗi liên tục không gián
đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả nấy. Mối quan hệ nhân -
quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của
nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác.
Về giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không
thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một
đấng Brahman nào sáng tạo ra vũ trụ. Cùng với sự phủ định Brahman, Phật
giáo cũng phủ định phạm trù Átman. Phật giáo nêu lên quan điểm “Vô ngã”
hệ này liên quan đến quan hệ khác, tức là nhân duyên. Một sự việc xuất hiện
là do nhân duyên hội tụ. Sự vật tiêu vong là do nhân duyên li tán. Như vậy,
gọi là duyên sinh, duyên diệt.
Chính vì vạn vật trong vũ trụ đều là duyên sinh, duyên diệt, đều biến
hóa vô thường cho nên tất cả mọi hiện tượng đều là hư huyễn, tạm bợ, không
phải là vĩnh hằng. Phật giáo gọi đó là “duyên sinh tính không”.
Do đó, khi Phật giáo giảng lý “duyên sinh tính không” là chú trọng mặt
phân tích bản chất mà nói, để cảnh tỉnh chúng ta đang sống trong cảnh giới hư
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 15 Lớp K33A - GDCD
vọng, đừng có bị danh lợi vật dục làm cho mê hoặc, biến thành vật hy sinh
của danh lợi vật dục.
* Giáo điều căn bản của Phật giáo
Đứng về nguyên tắc mà nói, Phật giáo không có giáo điều, nếu nói có
giáo điều thì đó là giới luật. Thế nhưng, giới luật của Phật giáo không phải
xuất phát từ mệnh lệnh, từ ý chí của Thần Thánh như ở các tôn giáo khác. Vì
vậy, cũng không có bao hàm tính chất thần bí như ở các tôn giáo khác. Giới
luật của Phật giáo dựa vào yêu cầu của luân lý, và có tính chất đơn thuần lý
tính.
Giới luật căn bản của Phật giáo là 5 giới, 10 điều thiện và 10 giới của
người xuất gia, giới luật của Tỷ Khiêu, Tỷ Khiêu Ni, ngoài ra còn có giới luật
Bồ Tát của Đại thừa. Nhưng tất cả đều lấy 5 giới 10 thiện mà nâng lên hay là
phân biệt chi tiết thêm mà thôi. Vì vậy, nếu giữ gìn được hoàn thiện 5 giới 10
thiện thì chấp hành các giới luật khác cũng không khó khăn gì lắm.
Nói tóm lại, yêu cầu của Phật giáo về mặt giới luật là tránh mọi điều ác,
làm mọi điều lành. Phàm tất cả những việc gì có hại đối với thân tâm, gia
đình, xã hội, quốc gia, nhân loại, cho đến tất cả mọi loại hữu tình, đều nằm
trong phạm vi cấm đoán của 5 giới 10 thiện và chúng ta gắng hết sức tránh
không làm. Nếu không có hại mà có lợi thì ra sức làm. Làm ác là phạm giới,
không làm điều thiện cũng là phạm giới.
một cách trừu tượng, định hướng hành động vào những nhu cầu và lợi ích cá
nhân. Có thứ nhân sinh quan yếm thế, lánh đời, có thứ nhân sinh quan tích
cực, nhập thế song vẫn mang nhiều mầu sắc con người chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử chỉ rõ
hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và qua đó
mà cải tạo, tự nâng cao mình lên, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ của xã
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 17 Lớp K33A - GDCD
hội. Vì vây, sứ mệnh của mỗi con người là thúc đẩy quá trình phát triển xã
hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo lao động đem
lại một xã hội tốt đẹp, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời qua
đó mà hoàn thiện những năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình. Đó là
nhân sinh quan cách mạng mang tính khoa học của giai cấp vô sản và của con
người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa, phải cố gắng về nhiều mặt trong đó
giáo dục giữ một vị trí quan trọng. Ngoài những giờ học chính khóa, nhà
trường còn phải phối hợp với gia đình và xã hội trau dồi nhân sinh quan cách
mạng cho học sinh một hệ thống tư tưởng, tình cảm hướng tới chân – thể – mĩ
cùng cộng đồng xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, giàu tính
nhân văn, mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội.
1.2.2. Nội dung của nhân sinh quan phật giáo
Học thuyết về nhân sinh quan của đạo Phật gắn bó chặt chẽ và là hệ
quả trực tiếp của những quan niệm về thế giới quan và sự tiếp thu tư tưởng
luân hồi, nghiệp báo của Upanisad. Điều đó được thể hiện ở chỗ, Phật giáo
quan niệm: Cũng như các sự vật, con người mất đi ở chỗ này nhưng lại sinh
thành ở chỗ khác. Quá trình thác sinh luân hồi đều do “nghiệp” chi phối theo
quy luật nhân duyên. Mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng chủ đạo có tính
xuyên suốt toàn bộ học thuyết nhân sinh là tư tưởng “giải thoát” chúng sinh
khỏi kiếp trầm luân đau khổ. Điều đó được thể hiện ở lời Phật Thích Ca đã
từng nói: Này, các đệ tử, ta nói cho mà biết, nước ngoài biển khơi chỉ có một
vị mặn , đạo ta cũng chỉ có một vị là giải thoát.
Mặc dù cuộc sống có khổ đau nhưng không nên buồn, rầu, oán hận hay
thiếu kiên nhẫn vì nó. Con người cần hiểu rõ vấn đề đau khổ. Phát sinh thế
nào, làm sao xua đuổi nó và tùy theo đấy mà hành động với kiên nhẫn, thông
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 19 Lớp K33A - GDCD
minh và nghị lực để vui vẻ, thanh thoát, hồn nhiên, sung sướng, vui hưởng
hạnh phúc.
Những người bình thường chỉ thấy lớp ngoài của sự vật. Bậc thánh
nhận ra chân tướng của sự vật. Các ngài nhận thấy rằng không thể có hạnh
phúc thật sự, hoàn toàn bền vững trong một thời gian vô thường. Không thể
có một hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu trong một thế gian luôn luôn thay đổi.
Hạnh phúc vật chất chỉ là sự thỏa mãn một vài dục vọng. Nhưng khi ta vừa
đạt được thì nó vội lìa ta. Dục vọng không khi nào được thỏa mãn trọn vẹn,
không khi nào ta cho là đúng.
Mọi người đều trải qua giai đoạn sinh (Jati), già (Jarà), và bệnh
(Vỳadhi) và cuối cùng là chết (marana). Không ai tránh được bốn nguyên
nhân ấy của sự đau khổ.
Điều mong ước không toại nguyện khiến chúng ta đau khổ. Chúng ta
không muốn sống chung với người ta không ưa thích mà cũng không muốn xa
lìa những người thân yêu. Những điều tha thiết mong mỏi không phải lúc nào
cũng như ý muốn. Trái lại những hoàn cảnh nghịch lòng lắm lúc xảy đến đột
ngột làm chúng ta vô cùng đau khổ. Đôi khi một vài trường hợp khó khăn
không thể chịu đựng nổi và đau khổ đến mức có người suy nhược và kém
hiểu biết nghĩ đến cái chết, tưởng chừng như có thể giải quyết được mọi vấn
đề.
Hạnh phúc thật sự nằm bên trong chúng ta và không thể định nghĩa
bằng những danh từ như tài sản, quyền thế, danh vọng hay chiếm đoạt. Nếu
của cải vật chất được chiếm đoạt bằng bạo lực hay bằng bất cứ một phương
tiện bất công nào khác, hoặc giả của cải vật chất ấy hướng theo một chiều lầm
lạc hay chúng ta đem lòng luyến ái thì đó là nguồn đau khổ và phiền não của
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 21 Lớp K33A - GDCD
từ người có trí tuệ, cũng như những ngọn lửa bùng cháy từ bụi lau, bụi cỏ làm
cháy cả nhà cửa, lầu gác và cung điện. Cũng vậy, ngọn lửa ngu si bùng lên
làm nỗi sợ hãi, thất vọng, vấp ngã và tai nạn có mặt” [16-Tr.47]
2. Hành (Samskara) là ý muốn thúc đẩy hành động.
3. Thức (Vijnana) là nhận thức, ý chí phân biệt cái tâm trong sáng cân
bằng với cái tâm ô nhiễm mất cân bằng.
4. Danh – sắc (Nàmarupa) là sự thống nhất, kết hợp cái vật chất (sắc)
và cái tinh thần (danh). Đối với các loại hữu hình thì các dạng phối hợp của
danh và sắc sẽ sinh ra 6 cơ quan cảm giác (lục căn) là: mắt (nhẵn căn), tai (nhĩ
căn), mũi (ty căn), lưỡi (thiệt căn), thân thể (thân căn) và ý thức (ý căn).
5. Lục thập (sadayatana) là qua trình thâm nhập của thế giới xung
quanh của lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vào các giác quan.
6. Xúc (Sparsa) là sự tiếp xúc, phối hợp giữa lục căn với lục trần hay
giữa các giác quan với thế giới bên ngoài.
7. Thụ (Vedana) là sự cảm thụ, sự nhận thức trước sự tác động của thế
giới bên ngoài.
8. Ái (Trsna) là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm
thụ thế giới bên ngoài.
9. Thủ (Upadana) là giữ lấy và chiếm đoạt cái mà mình ham muốn yêu
thích.
10. Hữu (Bhava) là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.
11. Sinh (Jati) là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.
12. Lão tử (Jaramarana) là già và chết vì có sự sinh thành.
Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng luẩn
quẩn của nỗi khổ đau nhân loại. Con người khổ bởi chính dục vọng của mình.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 22 Lớp K33A - GDCD
Phật giáo không chỉ nêu cuộc đời là bể khổ, tìm hiểu nguyên nhân vì
phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một nền tảng vững chắc cho
hạnh phúc. Nếu không đạt đến căn bản giải thoát thì dù có mắt cũng không
biết nhìn, có tai không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống.
Phải nhận thức rằng diệt khổ là một thực tế có thể đạt được. Sự an lạc,
hạnh phúc mà chúng ta đạt được do thực hiện những phương pháp nhà Phật là
đều có thể kiểm chứng được. Bất cứ một nhân nào gieo xuống đều có thể đưa
đến kết quả, không có một sự nỗ lực nào của chúng ta gọi là vô ích. Nếu
chúng ta kiểm điểm được để nhân thấy kết quả và tính cách hữu hiệu của sự
nỗ lực hành đạo hằng ngày của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức tin về Diệt
đế.
Diệt đế còn khẳng định muốn diệt trừ Dukkha phải diệt cội gốc của
chính Dukkha thì con người sẽ đạt đến Niết bàn (Nirvana). Niết bàn là cái
tuyệt đối không bị giới hạn là sự diệt tắt của ham muốn, vọng tưởng, hận thù,
sự hủy diệt của ý niệm về ngã. Phật giáo hơn các tôn giáo khác ở chỗ, Phật
giáo không những chỉ ra cuộc đời con người là khổ mà còn chỉ ra con người
có thể tìm được hạnh phúc, đến được cõi niết bàn ngay trong cuộc sống trần
gian của mình chứ không ở thiên đường hay một nơi xa xôi nào đó. Vậy con
người đạt tới cõi Niết bàn bằng cách nào? Đó chính là nội dung của thánh đế
cuối cùng – Đạo đế.
* Đạo đế (magga-con đường) là chân lý về con đường chấm dứt
Dukkha.
Đây là con đường trung đạo vì nó tránh khỏi hai thái cực: chạy theo
khoái lạc tầm thường và khổ hạnh ép xác. Con đường thứ nhất thấp kém tầm
thường, không lợi ích, là con đường của những người tầm thường. Con đường
thứ hai là khổ nhọc, không đáng có và không lợi ích.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Vi Thái Lang
SVTH: Nguyễn Thị Hiền 24 Lớp K33A - GDCD
Con đường dẫn đến dứt khổ theo đạo Phật là trung đạo “có khả năng
sinh tri kiến dẫn đến yên tĩnh, chứng ngộ bên trong, chính giác, niết bàn”.
Trung đạo này thường gọi là Bát chính đạo.
Chính ngữ
Là lời nói chân chính được xuất phát từ chính kiến và chính tư duy.
Nếu không có căn cứ từ hai điểm xuất phát trên thì gội là tà ngữ. Nói vội
vàng, không cân nhắc đúng sai hay những lời hứa xuông cũng là một thói dối
trá.
Chính nghiệp
Nghiệp trong thuật ngữ của nhà Phật là hành vi có tác ý cho nên cũng
có tà nghiệp và chính nghiệp. Chính nghiệp là một hành động hay một hành
vi có nhận thức và tư duy chân chính mà cội nguồn được xuất phát từ chính
kiến và chính tư duy. Chính nghiệp trong Phật giáo không phải là nghề nghiệp
chân chính mà nghiệp là khái quát một quy luật chung nhất về nguyên nhân
và kết quả, nhằm chỉ một mục đích, một cứu cách tích cực, cứu cách đó là trí
tuệ, là giải thoát, một mục tiêu mà mọi người tu hướng tới. Do vậy chính
nghiệp cũng là đời sống trong sạch, gương mẫu, chính trực của người tu Phật.
Chính mệnh
Đó là các hoạt động chân chính để nuôi sống sinh mệnh của chúng ta
một cách chân chính. Các hoạt động nuôi sống thân mạng cũng chia làm hai:
chính và tà. Chính mạng là thưc hành một nghề sinh sống thích đáng, không
gây sự chê trách của cộng đồng xã hội.
Chính tinh tiến
Là sự nỗ lực siêng năng chuyên cần của chính mình. Và cũng là năng
lực khảo sát và kiềm chế một cách “chính kiến”, “chính tư duy” các hoạt động
của bản thân, khẩu, ý nơi mình.