Sự du nhập, phát triển của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ra đời và tồn tại hàng
vạn năm nay với nhân loại, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảo
nhân dân ở hầu khắp các quốc gia trên hành tinh này. Với con số hàng tỷ
người trên thế giới và gần như 100% dân cư ở nhiều nước cụ thể theo các
tôn giáo khác nhau đã nói rõ nhu cầu đó. Tôn giáo đã có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống xã hội nhiều mặt của con người.
Tuy nhiên, xung quanh hiện tượng tôn giáo đang còn nhiều ý kiến
khác nhau trong giới nghiên cứu (và có thể nói là một trong những hiện
tượng xã hội có nhiều tranh cãi nhất). Chẳng hạn, tôn giáo là một hiện
tượng tích cực hay tiêu cực, có ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống con
người, xã hội và đánh giá nó trên cơ sở khoa học nào. Về mặt hình thái ý
thức xã hội, tôn giáo lâu nay được xem như đối lập với khoa học và nếu
vậy thì cắt nghĩa như thế nào về hiện tượng tôn giáo có chiều hướng gia
tăng hiện nay trong khi có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ
trên phạm vi toàn thế giới cũng như mỗi quốc gia? vấn đề quan hệ hay tác
động, ảnh hưởng qua lại giữa tôn giáo với chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa
học... như thế nào và bản thân tôn giáo trong nội dung các quan niệm của
mình có chứa đựng các yếu tố chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa học không?...
Có thể nói, những vấn đề trên đây là những vấn đề có phạm vi rộng
lớn và có tính thời sự cấp thiết, nhất là vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đối
với xã hội, con người cần được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học trên các lĩnh vực khác nhau.
Nhật Bản là quốc gia có trình độ phát triển cao trên nhiều lĩnh vực.
Trong những nguyên nhân tạo nên thành công chung của quốc gia này phải
1
kể đến sự tác động của một nền văn hóa rất độc đáo mang bản sắc Nhật
Bản (bao gồm văn hóa Phật giáo). Chỉ có nghiên cứu chính nền văn hóa
Nhật Bản trong đó có văn hóa Phật giáo mới giúp ta cắt nghĩa được một
phần thành công của đất nước này trong sự phát triển.

những nhân tố góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đầy tính đa sắc, độc đáo
của Nhật Bản.
Ngoài những tác phẩm đã được kể trên, những công trình khoa học
khác như Nhật Bản tăng cường hiểu biết và hợp tác (1994-1995); Sổ tay
nghệ thuật Nhật Bản (dịch năm 1990) hay nhiều công trình trên tạp chí
Nghiên cứu Nhật Bản đã đưa lại một cách nhìn ngày càng đầy đủ và chân
thực về văn hóa Nhật Bản nói chung, diện mạo Phật giáo Nhật Bản nói riêng.
Mặc dù vậy, việc nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống lịch sử
Phật giáo ở Nhật Bản cũng như những ảnh hưởng của nó đối với đời sống
xã hội vẫn rất cần được tiếp xúc. Lý do cơ bản trong nghiên cứu Phật giáo
ở Nhật Bản vẫn đang tồn tại nhiều bất đồng. Chẳng hạn những nguyên
nhân nào làm cho Phật giáo tồn tại và phát triển ở Nhật Bản hay trong đời
sống tinh thần của người Nhật hiện nay thì Phật giáo có vị thế đến đâu? Tại
sao Thiền là yếu tố trội của Phật giáo ở Nhật Bản?...
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Khái quát một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triển
của Phật giáo ở Nhật Bản cũng như một số ảnh hưởng của nó đến đời sống
văn hóa tinh thần ở Nhật Bản.
3
3.2. Nhiệm vụ:
Luận văn có hai nhiệm vụ chủ yếu:
- Khái quát bối cảnh lịch sử của quá trình du nhập Phật giáo vào
Nhật Bản và một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triển của
Phật giáo ở Nhật Bản.
- Làm sáng tỏ một số ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến đời sống
văn hóa tinh thần ở Nhật Bản.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đề cập chủ yếu đến phương diện lịch sử của quá trình du
nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản và chỉ phân tích những ảnh

QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO
Ở NHẬT BẢN
1.1. ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI NHẬT BẢN
Nhật Bản là quần đảo gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ có diện tích
vào khoảng 322.000km
2
, tương đương với tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc
hay gần bằng diện tích lãnh thổ Việt Nam (329.000km
2
). Phần lớn các
đảo có diện tích không lớn và chỉ có 4 đảo lớn là: Hokkaido, Honshu,
Shikoku, Kyushu.
Quần đảo Nhật Bản nằm ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương với
chiều dài tổng cộng 4.000km. Phần lớn lãnh thổ Nhật Bản là núi (chiếm 70%
diện tích đất đai) với nhiều ngọn núi cao. Trong số đó dãy Alpơ có nhiều
núi cao trên 3.000m, ngọn Fuji (Phú Sĩ) cao 3.776m. Điểm đặc biệt là, Nhật
Bản có rất nhiều núi lửa hoạt động, hàng năm gây ra nhiều tai họa cho con
người và xã hội. Với điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh với những vách
đá thẳng đứng đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Về mặt hình dạng của lãnh thổ, trông xa có người bảo có hình trăng
lưỡi liềm, lại có người bảo có hình con tằm, nhiều người tin rằng, Nhật Bản
muốn tồn tại phải dựa vào Trung Quốc vì hình dạng Trung Quốc giống lá
dâu. Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán nặng tính tư liệu bởi thực tế lịch sử
đã chứng minh rằng, sức tự cường của người Nhật không xô đẩy họ vào
con đường lệ thuộc, ngược lại, Nhật Bản là nước duy nhất ở Đông Bắc Á
không rơi vào họa thực dân thời kỳ thực dân hóa. Về phương diện văn hóa,
mặc dù Nhật Bản tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa ngoại lai song họ vẫn là
quốc gia có bản sắc dân tộc độc đáo.
6
Về phương diện nhân chủng học, người Nhật Bản hiện nay là kết quả

nền văn minh vay mượn của Trung Hoa để sau này trỗi lên như
cột xương sống của Nhật Bản thời phong kiến [26, tr. 16].
Về phương diện tín ngưỡng, người Nhật cổ đại sùng kính các vị
thần tự nhiên. Từ sùng bái tự nhiên dẫn đến sùng bái tổ tiên. Theo truyền
thuyết, số lượng thần tự nhiên của người Nhật có đến tám mươi vạn vị.
Ngoài ra, nhiều hiền tướng, hào kiệt cũng được suy tôn, thiêng hóa và trở
thành các vị thần. Trong số các vị thần, Vũ Thiên Hoàng được tôn kính
nhất, Tenno (Thiên Hoàng) vì vậy là đại diện cho dòng dõi tôn quý, trở
thành lãnh tụ cả về tôn giáo và chính trị.
Những thần linh được người Nhật tôn kính thường được gọi là Kami.
Tín ngưỡng thờ Kami hay Shinto (Thần đạo) trở thành tín ngưỡng bản địa có
lịch sử tồn tại xuyên suốt lịch sử Nhật Bản, chi phối mạnh mẽ các hình thức
tín ngưỡng khác. Vì lẽ ấy, về sau, khi Phật giáo được du nhập, ta thấy lúc
đầu là sự phản ứng, sau nữa là sự kết hợp và tùy tương quan lực lượng cụ
thể, có thể có lúc Phật giáo có ưu thế song nhìn chung, Shinto vẫn đóng vai
trò trụ cột. Nguyên nhân của tình hình này chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
Về phương diện tổ chức xã hội ta thấy, mặc dù hai cuốn sách Kojiki
(Cổ sự ký) và Nihongi (Nhật Bản thư ký) mang nhiều tính truyền thuyết và
thần thoại nhưng là những tài liệu quan trọng để nghiên cứu xã hội Nhật
Bản cổ đại. Theo các cuốn sách trên (sách được viết từ thế kỷ thứ VIII)
Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận ảnh hưởng của các tư tưởng ngoại lai
(Khổng giáo, Phật giáo) song những ảnh hưởng đó cũng không làm lu mờ
tính dân tộc và tín ngưỡng truyền thống. Qua các truyền thuyết và những
câu chuyện dân gian, có thể hình dung xã hội Nhật Bản tồn tại trên những
nguyên tắc của một nền quân chủ. Học thuyết Shinto (con đường của thần
8
thánh) không mạnh và làm say lòng người như một tôn giáo thực thụ nhưng
cũng thể hiện rõ ý thức dân tộc của người Nhật. Trong tín ngưỡng Shinto,
những ước nguyện về một cuộc sống tốt đẹp được pha quyện với lòng yêu
nước bởi người Nhật nghĩ rằng, đất nước của họ là của thần thánh. Ai được

ý muốn của họ kể cả việc bành trướng lãnh thổ. Họ xây dựng các vây cánh
và có thể lôi kéo các thủ lĩnh địa phương đi theo mình. Chính sách của họ
là tập hợp những người thợ giỏi, cho họ quyền lợi thỏa đáng để lôi kéo họ.
Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Phật giáo được du nhập. Lúc đầu
nó được đưa vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên,
Trung Hoa vốn là những người buôn bán hoặc như các tù binh. Sau đó, nhờ
sự nâng đỡ của chính quyền, Phật giáo chính thức được thừa nhận và phát
triển khá nhanh.
1.2. QUÁ TRÌNH DU NHẬP PHẬT GIÁO Ở NHẬT BẢN
1.2.1. Một số quan điểm khác nhau về sự du nhập của Phật giáo
vào Nhật Bản
Cho đến hiện nay cuộc tranh luận về những động cơ dẫn đến sự du
nhập, bám rễ của Phật giáo vào Nhật Bản vẫn chưa đi đến những thống
nhất cần thiết. Có thể thấy có hai loại quan điểm chính: Loại thứ nhất cho
rằng, sự du nhập Phật giáo vào Nhật Bản là do những động cơ từ phía
Trung Hoa hay đó chỉ là sự bành trướng về tư tưởng, văn hóa của Trung
Hoa; loại thứ hai cho rằng, đó là sự tiếp nhận diễn ra trên cơ sở nhu cầu nội
tại của người Nhật Bản hay người Nhật đã chủ động tiếp nhận Phật giáo.
Theo ý kiến của chúng tôi, trong sự phát triển của văn hóa Nhật Bản nói
riêng và của bất kỳ nền văn hóa nào nói chung không bao giờ là một quá
trình thuần nhất, bởi các dân tộc liên tục có những cuộc tiếp xúc văn hóa dù
10
tự giác hay tự phát. Trường hợp Nhật Bản trước khi tiếp xúc với Triều
Tiên, Trung Hoa có những đặc biệt bởi đó là xứ sở của các hòn đảo sống
gần như biệt lập so với thế giới bên ngoài, nhất là khi kỹ nghệ hàng hải
chưa phát triển. Chính sự cô độc trong những mối giao cảm văn hóa mà so
với Triều Tiên, Trung Hoa, trình độ văn minh của Nhật Bản lúc đó thấp
hơn. Về mặt xã hội, đó là sự tồn tại của chế độ thị tộc còn khá phổ biến, và
về kinh tế là trình độ của lực lượng sản xuất còn rất thấp kém. Những thấp
kém trong lĩnh vực kinh tế được biểu hiện cả trong lĩnh vực tư tưởng. Ở

con đường dân gian. Những ảnh hưởng của Phật giáo lớn dần, gây chấn
động đến cả tầng lớp thống trị. Những chấn động đó đã tạo nên hai xu
hướng tư tưởng chủ yếu trong thị tộc Yamato đến mức gây nên những xung
đột giữa nhóm ủng hộ Phật giáo và phản đối Phật giáo. Sự thắng lợi của
nhóm ủng hộ Phật giáo diễn ra khoảng năm 587 đã mở đường cho sự tiếp
nhận nhanh hơn các tư tưởng của Trung Hoa nói chung và tín ngưỡng Phật
giáo nói riêng. Nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều phái đoàn người
Nhật được cử sang đại lục học hỏi tri thức và ở trong nước Phật giáo được
hỗ trợ, trở thành tôn giáo có vị thế còn lớn hơn cả Shinto.
Như vậy, có thể nói rằng, sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản
không thuần túy chỉ là sự bành trướng văn hóa của người Trung Hoa và
nếu giả định đó là sự bành trướng văn hóa mà thiếu sự nhiệt tình tiếp nhận
từ phía Nhật Bản thì khả năng bén rễ, tồn tại, phát triển của nó sẽ khó khăn
hơn nhiều. Điều này là có cơ sở bởi, một mặt, khi văn minh nhà Đường có
dấu hiệu suy vi thì người Nhật cũng bắt đầu suy nghĩ lại. Đó là sự tái khẳng
định ngày càng mạnh mẽ tinh thần độc lập về văn hóa được biểu hiện qua
thái độ không còn chăm chú học hỏi hay thái độ quá sùng bái đối với mọi
12
yếu tố của văn minh Trung Hoa. Mặt khác, qua lịch sử nước Nhật ta thấy,
dân tộc đó có sự khôn ngoan đặc biệt trong tiếp nhận văn hóa ngoại lai. Họ
tiếp nhận rất nhiều yếu tố ngoại lai song vẫn luôn tìm cách giữ gìn, phát
triển các nhân tố bản địa. Bằng chứng là, khi Phật giáo du nhập, có cuộc
đấu tranh giữa Thần - Phật. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra trong các
thời kỳ và cuối cùng Phật giáo bị bản địa hóa mặc dù có thời kỳ Phật giáo
trở thành trụ cột và chi phối mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2.2. Một số đặc điểm chính của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu
du nhập
Theo quy luật của sự tiếp biến văn hóa, khi muốn bắt rễ vào một
khu vực nào đó, các hiện tượng văn hóa ngoại lai phải biến đổi cho phù
hợp với những yêu cầu của bản địa. Quá trình du nhập của Phật giáo vào

truyền vào và chính phủ truyền vào.
Qua nghiên cứu thời điểm và con đường du nhập Phật giáo vào
Nhật Bản có thể thấy rằng, Phật giáo được du nhập muộn hơn một số nước
trong khu vực, hơn nữa Phật giáo trên con đường truyền bá đã từng bị khúc
xạ qua nhiều nước trung gian vì vậy nó không còn nguyên vẹn như Phật
giáo chính gốc. Điều căn bản hơn là ở chỗ Phật giáo ở Nhật Bản bị chi phối
mạnh bởi các yếu tố tín ngưỡng bản địa vốn đã có truyền thống ở Nhật Bản
đó là tục thờ Kami (biểu tượng thần linh của Shinto). Điều này cũng cho
thấy trong lịch sử tồn tại của Phật giáo ở Nhật Bản luôn có sự giằng co
thậm chí là xung đột trong đời sống tín ngưỡng của cá nhân và trên bình
diện xã hội giữa một bên là Phật và bên kia là Thần. Nếu so sánh với Phật
giáo ở Việt Nam ta thấy Phật giáo được du nhập vào Việt Nam sớm hơn
vào Nhật Bản khoảng 6 thế kỷ. Ở Việt Nam ngoài con đường du nhập Phật
14
giáo trực tiếp từ phía các cao tăng Ấn Độ còn có các cao tăng của Trung
Hoa. Tuy nhiên các cao tăng của Trung Hoa khi truyền Phật giáo vào Việt
Nam thì tính chất Phật giáo Ấn Độ cũng rõ rệt hơn. Mặt khác, Phật giáo
vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường dân gian nên sự xung đột giữa nó
và tín ngưỡng bản địa ít quyết liệt. Có thể nói, nó được du nhập một cách
tương đối hòa bình.
Thứ hai: Phật giáo du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh người
Nhật đã có một truyền thống tín ngưỡng khá vững chắc: tín ngưỡng về
Thần (Kami). Kami là đối tượng của sự thờ cúng trong Shinto đã tồn tại từ
thời cổ đại. "Đây là những thực thể mờ ảo, tồn tại không hình dạng, thiếu
hẳn tính người và giống với sự biểu hiện quyền lực lạnh lùng. Tất cả được
coi như là cao hơn ở bên trên con người bằng kiến thức và quyền lực, giữa
những quyền lực đời sống và nằm ngoài sự kiểm soát của con người" [2, tr.
183]. Kami có nhiều loại nhưng tựu trung có 4 đặc điểm chung:
- Kami không có hình dạng riêng nhưng có thể được mời gọi đến
với những hình thức mời thích hợp.

những dị biệt sau đây là căn bản:
- Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị đô hộ
còn ở Nhật Bản thì nội chiến lại liên tục.
- Ở Việt Nam, Phật giáo vào sớm hơn nhưng phải 1000 năm sau kể
từ thời Đinh - Lê nó mới được phát huy tác dụng, còn ở Nhật Bản tuy được
du nhập muộn hơn nhưng nó lại có quá trình phát triển liên tục.
- Các tôn giáo ngoại nhập muốn bắt rễ vào một khu vực nào đó
không thể không dựa vào tôn giáo truyền thống nhưng vì trong giai đoạn
16
đó, Shinto đã là một tôn giáo phổ biến của người dân lại có nhiều dị biệt
với Phật giáo nên sự du nhập diễn ra khó khăn hơn.
Chính những dị biệt đó làm cho sự du nhập của Phật giáo vào
Nhật Bản có phần khó khăn và sự đụng độ của nó với Shinto thêm phần
quyết liệt.
Thứ ba: Trong bối cảnh về văn hóa, tín ngưỡng của Nhật Bản, Phật
giáo muốn bắt rễ phải tự biến đổi mà nhiều biến đổi đã trở nên khác lạ so
với Phật giáo chính gốc.
Trước hết, muốn bắt rễ, Phật giáo không thể du nhập bằng hệ thống
lý luận trừu tượng mà phải là dưới hình thức nào đó của ma thuật, về những
lời hứa sẽ bảo vệ toàn bộ xứ sở, về sự sẵn sàng cứu giúp của các Bồ tát. Do
đó một điều tự nhiên là trong hai thế kỷ tôn giáo mới này được hiểu một
cách đơn thuần như "một phương tiện có hiệu quả giúp tạo ra những ân huệ
trần tục mà chúng sinh luôn luôn tìm kiếm, mong đợi từ những vị thần
trong Shinto". Cũng vì tính chất đó mà triều đình nhanh chóng chấp nhận
Phật giáo vì nó mang lại mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi và khuyến
khích cho sự giàu có của đất nước. Để đi vào lòng người thuộc mọi đối
tượng, Phật giáo ở Nhật Bản luôn chủ trương hai khuynh hướng: Khuynh
hướng thứ nhất, đối với dân chúng chiếm số đông, nó thường xuyên cung
cấp những dịch vụ thiết thân như chữa bệnh hay là tìm ra đôi lứa hợp
nhau... hoặc chăm sóc người chết, vỗ về người sống bằng các nghi lễ cầu

đó, Phật giáo du nhập nhanh chóng được Hoàng gia và người dân chấp nhận.
Sự kiện vĩ đại này đã tạo ra cơ sở cho sự thống nhất về đức tin và từ sự
thống nhất về đức tin đã tạo điều kiện cho sự thống nhất về quốc gia. Vì lẽ
ấy, các Tenno của Nhật Bản không chỉ là lãnh tụ về chính trị mà còn là
18
lãnh tụ về tôn giáo. Nơi ở của Tenno cũng là nơi ở của thần linh và chỉ sau
năm 1945 khi nước Nhật bại trận thì Tenno mới trở lại tư cách như con
người.
Đề cập đến một vài đặc điểm của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu du
nhập như trên, chúng tôi muốn so sánh với quá trình du nhập của Phật giáo
vào Việt Nam. Điều dễ nhận thấy là, cũng xuất phát từ Phật giáo, song khi
vào Nhật Bản, vào Việt Nam... thì đã có những khác biệt. Nếu như ở Nhật
Bản, Phật giáo được tiếp nhận để phục vụ cho lợi ích thực dụng của người
dân, phục vụ cho sự thống nhất quốc gia và được chấp nhận từ phía thế lực
cầm quyền thì ở Việt Nam Phật giáo chủ yếu được tiếp nhận bằng con
đường dân gian. Vì lẽ ấy, tính nhập thế của Phật giáo ở Nhật Bản rõ hơn
tính nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam. Người Nhật Bản tiếp nhận Phật
giáo không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần mà còn tìm được sự thỏa
mãn những nhu cầu thực tế như chữa bệnh, học hành hay chí ít cũng là tìm
được sự phù hợp cho hạnh phúc đôi lứa...
Phật giáo ở Nhật Bản được tiếp nhận trên nền tảng Shinto - một tín
ngưỡng không chỉ có tính thực dụng cho người dân mà còn có tính thực
dụng cho giới cầm quyền nên có sự hỗn dung Thần - Phật, trong đó yếu tố
trội là Thần.
Người Việt Nam chấp nhận Phật giáo trên nền tảng tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên (tất nhiên có cả thờ thần tự nhiên), do đó tính quyền lực ở
phương diện chính trị có phần ít đậm đặc. Vì vậy người Nhật cũng trọng
chữ "trung" nhưng là trung với thủ lĩnh còn Việt Nam cũng trọng chữ
"trung" nhưng là trung với vua, với tổ quốc. Từ suy nghĩ như vậy, chúng
tôi đồng tình với tác giả bài Nghĩ về cấu trúc văn hóa Nhật Bản, đã viết:

nguyên phiên âm trong luận văn) mà nổi tiếng nhất là Trung quán luận.
20
Trung quán luận là bộ sách luận về tương quan giữa các bề ngăn và thực
tướng vạn vật mà kết luận được rút ra là mọi hiện tượng (vạn pháp) là hư,
huyền và không tồn tại biệt lập. Ngược lại, chúng tồn tại trong mối "tương
quan", "tương duyên" với nhau.
Vì tập tục thờ thần cũ, nên Phật giáo thời kỳ này đặc biệt coi trọng
việc cầu mong công đức với hình thức lễ Phật nhưng cầu thần. Tư tưởng Jodo
(Tịnh độ) của Phật giáo được người Nhật chấp nhận thay đổi cho tư tưởng
huyệt mộ. Đối với người Nhật Bản, Jodo tức là sự thăng hoa của thế giới
huyệt mộ, do đó người ta cầu minh phúc bằng cách xây chùa Phật thay cho
xây mộ.
Năm 645 sau khi chiếu thư đầu tiên về phát triển Phật giáo được
ban bố, Phật giáo nhanh chóng phát triển. Đến cuối thế kỷ VII cả nước đã
có trên 540 ngôi chùa.
- Tông Hosso (Pháp Tướng tông)
Phái này truyền vào Nhật Bản do công của Dosho (Đạo Chiêu)
khoảng năm 650. Theo cuốn Lịch sử Phật giáo thế giới thì dưới trướng của
Dosho có đến 3.000 đệ tử, 70 hiền sĩ. Ngoài việc đạo, sự nghiệp của Dosho
còn được ghi nhận như là người tích cực tham gia công ích xã hội, giúp dân
đào giếng, đặt thuyền, bắc cầu...
Giáo lý chủ yếu của Hosso tông dựa trên bộ luận gọi là "Thành
dung thức luận" của Bồ Tát Thế Thân. Hosso tông chủ trương duy chỉ có
các "Thức", các tư tưởng trong tâm là thật. Nó chứa tất cả vào trong nó.
Vạn vật mà ta nhận thấy đều là sự phát luận của nó, cho nên đều là mộng
ảo. Tóm lại vạn vật do thức biểu hiện mà thành. Do đó khi tâm thức tịnh
tĩnh, vắng lặng thì đồng nghĩa với chân lý.
1.3.2. Phật giáo thời kỳ Nara (Nại Lương) (710 - 794)
21
Sau những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa Shinto và Phật giáo, được

và hư vô đó (vạn vật đều giả dối như bọt nước trên dòng sông, đều trống
rỗng như xác con ve) thì sẽ dứt bỏ được phiền não và đạt đến sự tịch tĩnh.
- Tông Kusha
Cho đến nay, các nguồn tài liệu không cho phép đưa ra một kết luận
về thời điểm Kusha tông được du nhập vào Nhật Bản.
Giáo lý của Kusha tông (kho tàng của phép siêu hình) dựa trên một
bộ luận nổi tiếng của nhà sư Vanshubac dhu là bộ "Abidharma-kasa-sastra".
Giáo lý chủ yếu của Kusha tông chủ trương "Pháp thể hữu vô
không sinh diệt" (Pháp có mặc dù những sự vật cá thể là ảo ảnh).
- Tông Kegon
Kegon tông được truyền vào Nhật Bản vào năm 736 đời Thánh Vũ
Thiên Hoàng do vị tăng người Trung Quốc là Đạo Duệ mang vào và tăng
Roben (Lương Biện), Shinjo (Thẩm Tường) hoằng pháp lấy chùa Todaiji
(Đông Đại) trụ trì.
Giáo lý của Kegon tông dựa trên căn bản của bộ hình Hoa Nghiêm.
Kegon tông cho rằng, tư tưởng của Đức Phật và lời lành của ông rọi chiếu
vạn vật. Vạn vật ở thế đều liên hệ và tiếp ứng cho nhau, đồng soi sáng cho
nhau. Phật và chúng sinh đồng một tính - tính Phật và cõi Châu như Phật
quyết đưa về cõi Giác tất cả chúng sinh. Bao giờ còn một mạng phải vớt thì
lòng Phật chưa yên. Những bậc sáng suốt phải thấu rằng, cõi đời chẳng
thật, song cái thật và không thật cùng bản tính như nhau, cho nên đắc được
23
cảnh tự nhiên ắt sẽ đắc đạo. Vì vậy ở Nhật, Kegon tông có địa vị là tôn giáo
của đế vương.
- Tông Ritsu
Ritsu tông là tông phái do nhà sư đời Đường là Gián Châu mang
vào Nhật Bản. Ông là người huyện Giang Dương đất Dương Châu. Năm 55
tuổi có ý nguyện đi Nhật và sau 6 lần trải 11 năm mới toại nguyện.
Đến đất Nhật, Gián Châu được tất thảy mọi người trong thành
ngoài nội đặc biệt sùng ngưỡng và nghênh tiếp, được Thánh Vũ Thiên

ngày nay) với mục đích chấn chỉnh kỷ cương, thống nhất dân tâm, đổi mới
phong khí.
Ngoài những lý do trên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, sở dĩ
Tenno phải thiên di kinh đô tới Heian còn vì để tránh những áp lực của các
dòng họ giàu có, cũng như áp lực ngày càng gia tăng của giới tăng lữ phật
giáo. Vì lẽ ấy, trước đây khi thiên di kinh đô, các chùa viện Phật giáo cũng
dời đi theo nhưng nay theo chỉ của Tenno, toàn bộ chùa viện vẫn ở chỗ cũ.
Duy chỉ có vài chùa viện được xây dựng nhằm tạo bộ mặt cho kinh đô mới.
Trong tình hình đó, Phật giáo xuất hiện thêm hai tông phái với hai gương
mặt đại diện. Đó là tông Tendai (Thiên Thai) với sư tổ Saicho (Tối Trừng)
và Shingon (Chân ngôn tông) với sư tổ Kukai (Không Hải).
- Tông Tendai
Là tông phái được thành lập ở Trung Hoa bởi Trì Khải Đại sư tại
núi tông Tendai vào thế kỷ thứ VI. Tông phái này tồn tại ở Nhật Bản gắn
với tên tuổi Saicho. Ông là người đã từng tu ở chùa Heian, Todaiji nhưng
vì bất mãn với hiện trạng Phật giáo chỉ chạy theo hư danh mà phát tâm kim
25

Trích đoạn ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở NHẬT BẢN PHẬT GIÁO VỚI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO VỚI ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI PHONG TỤC, LỄ HỘ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status