ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM VĂN HÙNG ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
TINH THẦN Ở HUYỆN AN DƯƠNG - HẢI PHÒNG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.2. Một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của Phật giáo trong đời sống tinh thần ở huyện An
Dương hiện nay
82
Kết luận
97
Tài liệu tham khảo
100
Phụ lục
103 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là một trong những nơi Phật giáo du nhập và phát triển khá
sớm. Qúa trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Hải Phòng gắn liền với
những bước thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Hải Phòng
đã để lại những dấu ấn đậm nét trong lối sống của người dân đất biển từ xưa
đến nay.
Cũng như thành phố Hải Phòng, huện An Dương là nơi hội tụ hầu hết
các tôn giáo lớn trong đó có Phật giáo. Trong một vài năm gần đây, Phật giáo
phát triển mạnh ở An Dương được thể hiện trên nhiều phương diện như: số
lượng người đi lễ chùa chiền ngày càng đông, lễ hội Phật giáo, sinh hoạt Phật
giáo ngày càng phong phú và có vai trò lớn trong đời sống xã hội. Số người đi
tu được đào tạo qua các trường Phật học ngày càng nhiều, các cơ sở thờ tự,
chùa chiền được thường xuyên được tu bổ và xây mới…
Phật giáo có chức năng xã hội cần thiết cho một bộ phận nhân dân
trong huyện An Dương nói riêng cũng như nhiều địa phương khác mà những
cáo kết quả nghiên cứu tôn giáo- Hà Nội năm 2005). Lê Trung Vũ trong báo
cáo về đợt điều tra tôn giáo "Sinh hoạt Phật giáo và các tín ngưỡng tôn giáo ở
Hải Phòng" cho rằng nhiều người dân đã tự nguyện đến với Phật giáo, lấy các
nguyên tắc từ bi, luân hồi quả báo của Phật để tu luyện mình và giúp đỡ
người.
Các công trình thống kê, khảo sát về tình hình tôn giáo của các ban,
ngành thành phố Hải Phòng và huyện An Dương với các tiêu chí khác nhau.
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Phạm Thế Hùng và Nguyễn Huy
4
Hảo: "Tình hình Phật giáo Hải Phòng" (Báo cáo của Ban tôn giáo thành phố
Hải Phòng năm 2007). Hai tác giả đã có những nhận định và đánh giá ban đầu
về thực trạng sinh hoạt Phật giáo cũng như một số ảnh hưởng của Phật giáo
trong đời sống xã hội ở Hải Phòng.
Ngoài các công trình chủ yếu ở trên, còn một số luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau về tôn giáo, tín ngưỡng ở các
địa phương ở Hải Phòng đều là những công trình khoa học có liên quan đến
luận văn này với tư cách là những tài liệu tham khảo bổ ích.
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến một số khía cạnh ảnh
hưởng Phật giáo trong đời sống xã hội ở Hải Phòng. Tuy vậy, chưa một công
trình nào nghiên cứu chi tiết sự ảnh hưởng của một tôn giáo cụ thể như Phật
giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở một huyện trực thuộc thành phố trong
đó có huyện An Dương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo, trong đó
nhấn mạnh tác động của đạo đức Phật giáo và các sinh hoạt Phật giáo đến đời
sống văn hoá tinh thần của người dân huyện An Dương. Từ đó, đề xuất một
số giải pháp cụ thể làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác tôn giáo ở
huyện.
Luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo bao gồm những
mặt tích cực có giá trị và phù hợp với công cuộc xây dựng đời sống mới, tiến
bộ ở huyện An Dương nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung, đồng thời
chỉ ra những mặt cần khắc phục. Trên cở sơ đó, luận văn nêu lên một số giải
6
pháp làm cơ sở khoa học, thực tiễn cho việc hoạch định và thực hiện công tác
tôn giáo tại địa phương. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công
trình nghiên cứu Phật giáo ở Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam.
Chương 2: Phật giáo và một số lĩnh vực đời sống văn hoá tinh thần ở
huyện An Dương hiện nay.
Chương 3: Sinh hoạt tôn giáo của các Phật tử ở An Dương: vấn đề và
giải pháp.
Phật giáo không công nhận có thượng đế, không thừa nhận sự cách biệt
giữa các đẳng cấp trong xã hội và không tán thành đấu tranh giành quyền lực,
8
quyền lợi bằng vũ lực. Phật giáo chủ trương lấy tâm làm gốc "Nhất thiết duy
tâm tạo". Nó nhận xét mọi việc và sự vật bằng nhân duyên, vô thường. Tiếp
thu có chọn lọc thuyết "luân hồi nhân quả" của đạo Bàlamôn, Phật giáo chủ
trương đề cao từ, bi, hỉ, xả, vô ngã vị tha, mở rộng cõi Niết bàn cho mọi
người lương thiện chứ không chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc. Các tầng
lớp xã hội bị áp bức bóc lột, nghèo đói nhận thấy Phật giáo đứng về phía
mình, an ủi, bảo vệ mình, gần gũi mình hơn đạo Bàlamôn và các đạo khác.
Là tôn giáo có nguồn gốc Á Đông, Phật giáo có nhiều điểm khác biệt
với các tôn giáo độc thần như Ki Tô giáo, Islam giáo "Trong khi Ấn Độ
giáo và nhiều tôn giáo khác cho rằng vũ trụ có tạo vật chủ, thì ngược lại, Phật
giáo chủ trương vô thần" [24, tr. 232]. Theo Phật giáo, vũ trụ tự nó, không do
ai sinh ra, không ai có thể tiêu diệt, không một thế lực nào có thể dùng ý
muốn của mình mà chi phối được sự vận hành của nó; vũ trụ là không sinh,
không diệt, vô thuỷ vô chung. Con người sống trong vũ trụ ấy nhưng ở con
người tồn tại ba cảnh giới là Dục giới, Sắc giới, Vô sẵc giới. Phật giáo cho
rằng thế giới luôn tồn tại “vạn pháp” hay “hằng hà sa số các pháp”. “Pháp”
(tiếng Phạn- Dharma) trong triết học Phật giáo có ý nghĩa quan trọng đến
mức, hệ thống Phật giáo với ý nghĩa đã biết, có thể gọi là thuyết dharma. Đây
chính là đặc trưng riêng biệt của triết học Phật giáo, khiến nó khác những
khuynh hướng khác của triết học Ấn Độ.
Người ta thường nói về Pháp theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong tác
phẩm “Đạo Phật ngày nay”, tác giả Nikkyo Niwano định nghĩa Pháp như sau:
“Trước hết như đã được biểu thị bằng các từ thực tướng của tất cả các sự vật,
Pháp nghĩa là tất cả các sự vật hiện tượng trong vũ trụ và tất cả các sự kiện
xảy ra trên thế giới. Thứ hai, Pháp nghĩa là một chân lý duy nhất thâm nhập
vào tất cả các sự vật. Thứ ba, Pháp nghĩa là quy luật như một luật tắc được
10
giới của mọi sự vật trong không gian và thời gian tương đối. Điều kỳ diệu của
cuộc đời là cái tuyệt đối không bao giờ tách lìa cái tương đối.
Vạn pháp trong vũ trụ không có tự tính (không có bản tính riêng của
mình) mà chỉ là sự hoà nhập của nhân duyên. "Nhân là nguyên do chính ,
những nhân tố phụ gọi là duyên" [1, tr. 470]. Các sự vật chuyển động, biến
đổi đều do nhân duyên chi phối. Nhân là mầm tạo quả, duyên là phương tiện,
điều kiện - vạn pháp do nhân duyên mà thành. Nhân duyên hoà hợp thì sự vật
sinh, nhân duyên tan rã thì sự vật diệt. Tuỳ theo nhân duyên kết hợp mà hình
thành nên các sự vật, hiện tượng khác nhau. Một sự vật hiện tượng không
phải do một nhân duyên mà do nhiều nhân duyên. Do đó, các sự vật hiện
tượng quan hệ mật thiết với nhau, tác động chi phối lẫn nhau.
Trong quan niệm của Phật giáo, thế giới đầy những nhân duyên. Mỗi sự
vật từ khi sinh ra đến khi diệt đều tạo ra những nhân, duyên mới bổ sung vào
thế giới. Trong quá trình vận động, nhân duyên liên tục kết hợp, liên tục tan rã
nên các sự vật, hiện tượng cũng liên tục sinh, liên tục diệt.
Vạn pháp trong vũ trụ là vô ngã. Vô ngã tức là không có cái ta, không
có cái gì vĩnh hằng vì vạn pháp do nhân duyên hoà hợp và trong trạng thái vô
thường, bất định. Mọi sự vật, hiện tượng đều liên hệ với nhau. Kinh Pháp Hoa
viết: “Các sự vật hiện hữu trong quan hệ lẫn nhau tuỳ thuộc lẫn nhau”.
Nguyên lý này được thể hiện là khi cái này có thì cái kia cũng có; khi cái này
hiện thì cái kia cũng hiện; khi cái này không có thì cái kia cũng không có; khi
cái này ngừng thì cái kia cũng ngừng. Phật giáo đưa ra thuyết sắc - không để
lý giải việc nhận thức thế giới. Sắc dùng để chỉ sự vật ở trạng thái có hình
tướng trong không gian mà con người nhận biết được, còn gọi là có. Không
dùng để chỉ sự vật hiện tượng ở trạng thái không có hình tướng mà con người
không nhận biết được. Theo thuyết sắc - không, thế giới luôn chuyển động,
biến đổi nên không phải chỉ khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tướng (sắc)
11
tự về thể chất và tinh thần được mọi người nhìn nhận là sự đau khổ đều nằm
trong dukkha hiểu theo nghĩa sự đau khổ thông thường .
Cuộc đời, chính bản thân nó là sự vận động. Cuộc đời và sự vận động
không bao giờ là sự tách rời. Dù cuộc đời chứa đựng sự đau khổ, nhưng con
người không được ủ ê, không được bực mình và sốt ruột. Một trong những tệ
xấu đầu tiên trong cuộc đời, theo tư tưởng Phật giáo là sự chán ghét hay căm
thù. Chán ghét (pratigha) được giải thích như là sự ác tâm đối với sinh linh
trước đau khổ và là cái có liên quan tới sự đau khổ: Chức năng của nó là tạo
ra cơ sở cho một trạng thái bất hạnh, một hành vi xấu xa. Vì thế, sốt ruột với
sự đau khổ là một sai lầm. Dù sốt ruột, bực bội cũng không làm nó biến mất
được. Trái lại, điều đó chỉ làm tăng mối sầu não của chúng ta, chỉ làm cho
một hoàn cảnh vốn đã nặng nề càng trầm trọng và càng cay đắng. Điều cần
phải làm là tránh không để mình rơi vào sự sốt ruột, bực bội, và trái lại phải
hiểu được sự đau khổ, hiểu được nó từ đâu đến, làm thế nào để có thể từ bỏ
nó đi và làm việc này một cách kiên nhẫn, thông minh, quyết tâm đầy nghị
lực.
Thứ hai, Tập đế (nguồn gốc Dukkha).
Quan niệm về nguồn gốc của dukkha thường thấy ở nhiều chỗ trong
các văn bản gốc, như sau:
Chính “dục vọng” (ham muốn mạnh mẽ) sản sinh ra sự tồn tại lại và sự
sinh thành lại, gắn với một lòng tham say mê và không ngừng tìm thấy một sự
hưởng thụ mới khi ở đây, khi ở kia, tức là dục vọng về các lạc thú giác quan;
dục vọng về tồn tại và sinh thành; dục vọng về sự không tồn tại (tự huỷ diệt).
Chính dục vọng, ham muốn, lòng tham và lòng ham của thể hiện bằng nhiều
cách, đẻ ra tất cả mọi hình thức đau khổ và tính liên tục của các thực thể.
Nhưng không nên coi đó là nguyên nhân đầu tiên vì theo Phật giáo, mọi cái
13
đều là tương đối và phụ thuộc lẫn nhau. Ngay cả dục vọng (tanha) được coi là
nguyên nhân, là nguồn gốc dukkha, thì sự xuất hiện của nó cũng phụ thuộc
chú tâm đúng, 8. tập trung đúng.
Để có một người hoàn thiện theo quan niệm của Phật giáo phải có hai
phẩm chất, người đó phải phát huy theo lối kết hợp và ngang nhau là đồng
cảm và trí năng. Ở đây, đồng cảm bao gồm yêu thương, từ thiện, hảo tâm,
khoan hoà, tất cả những phẩm chất cao cả của trái tim, đó là mặt tình cảm;
còn trí năng là mặt trí tuệ, là những phẩm chất của tinh thần. Nếu có mặt tình
cảm phát triển, mà mặt trí tuệ bị xem nhẹ thì người ta sẽ trở thành một kẻ khờ
dại tốt bụng. Trái lại, nếu chỉ phát triển về mặt trí tuệ mà xem thường mặt tình
cảm thì người ta sẽ trở thành một kẻ trí thức khô héo, không hề có tình cảm
với người khác. Sự hoàn thiện đòi hỏi cả hai mặt ấy đều được phát triển như
nhau.
Hành vi đạo đức dựa vào yêu thương và đồng cảm gồm ba nhân tố của
Bát chính đạo là nói đúng, hành động đúng, và những phương tiện kiếm sống
đúng.
Nói đúng nghĩa là không nói dối, nói xấu, vu khống và không nói mọi
lời nói có thể gây ra căm ghét, hiềm khích, chia rẽ, bất hoà giữa các cá nhân
hay các nhóm người; không nói lời nói khắc nghiệt, thô bạo, vô lễ, ác ý hay
lăng nhục và cuối cùng là không ba hoa nhàn rỗi vô ích và ngớ ngẩn. Khi
không phạm vào tất cả các hình thức nói sai lạc và có hại ấy, người ta phải nói
sự thật, phải dùng từ ngữ thân thiện và hảo ý, dễ chịu và hiền lành, những từ
ngữ có ý nghĩa và có ích. Không bao giờ được nói cẩu thả, mà phải nói vào
lúc và vào nơi thích hợp. Nếu chẳng có ích gì để nói ra cả, phải giữ một sự
“im lặng cao quý”.
15
Hành động đúng nhằm đề xướng một hành vi đạo đức, đáng trọng và
hoà bình. Chúng ta phải tự nhủ đừng phá huỷ sự sống, đừng ăn cắp, đừng
buôn bán bất lương, đừng có những quan hệ tính dục không chính đáng và
phải giúp người khác sống một cuộc sống yên lành và đáng trọng theo con
đường đúng đắn.
nhược, phiền muộn, hoài nghi bị đẩy ra, nhưng những tình cảm vui mừng,
hạnh phúc cũng như những hoạt động tinh thần nào đó được giữ lại. Vào giai
đoạn hai, tất cả mọi hoạt động tinh thần đều biến mất, còn sự thanh thản và sự
“cố định thống nhất” của tinh thần thì phát triển lên; trong giai đoạn thứ ba,
tình cảm vui mừng, một cảm giác tích cực cũng biến đi, còn tư thế hạnh phúc
với một sự bình thản có ý thức thì vẫn được duy trì. Cuối cùng, vào giai đoạn
thứ tư, mọi cảm giác, ngay cả hạnh phúc hay đau khổ, vui hay buồn đều biến
đi, chỉ còn lại sự thanh thản và sự chú ý thuần tuý. Như vậy, tinh thần được
nỗ lực đúng, chủ tâm đúng, tập trung đúng, rèn luyện khép vào kỷ luật và phát
huy.
Tứ diệu đế là nội dung cốt lõi của Phật giáo. Phật Thích ca đã nói: “Ta
chỉ dạy một điều: Khổ và diệt khổ”. Cuộc đời là khổ, nguyên nhân của nỗi
khổ triền miên trong cảnh luân hồi được cụ thể hoá bằng thập nhị nhân duyên.
Luật mười hai nhân duyên.
Xét dưới góc độ phổ cập, luật mười hai nhân duyên mô tả cuộc sống
qua những thời kỳ kế tiếp nhau trong cuộc đời.
Cuộc sống quá khứ.
1. Vô minh (Avidya) - Việc một người nào đó không tìm được khát
muốn của mình, không hiểu cái gì cần phải làm, cái gì không, muốn sống
trong vòng xoáy của cuộc đời - được gọi là lầm lạc hay vô minh. Vì vô minh
mà các yếu tố kết hợp lại tạo ra con người và cái mà con người đó xúc cảm.
17
Vì vô minh mà các yếu tố trên không thể an lạc được mà tiếp tục dao động,
tiếp tục liên kết tạo thành vật chất cho việc hình thành một cá thể ở thời điểm
hiện tại, sự dao động không ngừng các yếu tố của cuộc sống đã qua, như vậy
là do sự tồn tại tiếp theo.
2. Hành (Sanskara, Karma) - Đó là cái hình mẫu mà người đó đã sống
qua tức đã hoạt động, đã nói, đã suy nghĩ theo, hay nói cách khác tức là
những ''hành vi'' của người đó ở cuộc sống đã qua, sẽ ảnh hưởng đến các uẩn
8. Ái ('Trisna) - Chỉ đến tuổi 16, 17 người ta bắt đầu được kích thích
bởi một yếu tố mới - dục cảm hay khát dục.
9. Thủ (Upadana) - Vào khoảng thời gian đó, ở con người bắt đầu có
những khát vọng nhất định đến những mục đích này khác. Con người đó trở
thành người lớn và đã bước vào cuộc sống với đầy đủ ý nghĩa của từ đó.
10. Hữu (Bhava) - Thời kỳ này là sự phát triển của cuộc đời: thực sự là
những yếu tố mới không xuất hiện, nhưng vào thời điểm này con người bắt
đầu sống tích cực hơn. Trong suốt cả cuộc đời, cho đến lúc chết, con người ta
càng chìm sâu vào dòng xoáy sinh tồn. Ngoài ra bằng những hành động của
mình, con người ta lại tạo ra trong mình một đặc điểm nhất định. Sự việc tồn
tại và hình thức của nó là hai yếu trùng hợp với sự phát triển của cuộc sống và
là bước chuyển tiếp sang cuộc sống tiếp theo.
Cuộc sống tương lai.
11. Sinh (Jati) - Sinh thể ''sinh ra''. Sự sinh này không phải là cái gì
khác mà như là thời điểm đầu tiên của sự thụ thai, tức là thời điểm đầu tiên
khi nhận thức được thức tỉnh. Thành phần thứ 11 này phù hợp với kỳ thứ ba
''Vijnana'' của cuộc sống trước.
12. Lão, tử (Jara - marana) - Sinh thể bắt đầu già từ thời điểm sinh.
Như vậy, lão tử bao trùm toàn bộ cuộc đời mà trong suốt nấc cuối cùng của
19
cuộc đời đó, năng lực lại tích tụ lại để hiện tồn; một lần nữa, tạo ra sự tổng
hợp các ''hành động'' ("Kama") để lại đến với cuộc sống mới. Cứ như thế sinh:
trụ, dị, diệt với mọi khổ đau cứ lặp lại trong vòng sinh hoá bất tận. Tìm được
lối thoát khỏi vòng sinh hoá bất tận là mục đích của Phật pháp.
Phật giáo chủ trương mỗi người phải tự giải thoát cho mình. Người
được giải thoát, theo Phật giáo, là người đã giác ngộ, tức là đã đạt đến trạng
thái Niết bàn. Từ Niết bàn (Nirvana) gồm hai phần: "Nir" là không, mang tính
phủ định. "Vana" là ái dục. “Gọi là niết bàn vì đây là sự dứt bỏ, sự tách rời
khỏi ái dục, tách rời khỏi sự thèm khát ái dục” [24, tr. 459]. Ngày nào con
hướng Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu từ phía Bắc. Tuy nhiên về sau, các
nhà sư Ấn Độ sang Việt Nam truyền đạo không nhiều và vai trò của các nhà
truyền giáo Ấn Độ cũng giảm dần. Bởi vậy, Phật giáo truyền vào nước ta chủ
yếu là Phật giáo Đại thừa với cả ba tông phái là Tịnh Độ Tông, Mật Tông và
Thiền Tông.
Mật Tông (Chân Ngôn Tông) do một số nhà sư Ấn Độ khai lập khoảng
thế kỷ II sau Công nguyên. Mật Tông được hình thành trên nền tảng tư tưởng
của Phật giáo Đại thừa, nhưng cách tổ chức, tu tập lại mang màu sắc của Ấn
Độ giáo có tính chất huyền bí, nặng về ẩn chú phù phép, lễ thức thờ phụng
tương đối phức tạp. Mật Tông đề cao vai trò của người xuất gia tu hành. Dù
được truyền vào Việt Nam rất sớm, nhưng Mật Tông vẫn không tồn tại với tư
cách một giáo phái độc lập. Tuy vậy, Mật Tông đã ảnh hưởng lớn đến Phật
giáo Việt Nam, nhất là thời nhà Lý (thế kỷ XI). Phật giáo Mật Tông đáp ứng
được nhu cầu tâm linh luôn đặt niềm tin vào sự che chở của thánh thần, cầu
mong có những bùa phép để chế ngự ma quỷ, đem lại yên bình cho cuộc sống
của người dân Việt Nam lúc đó.
21
Tịnh Độ Tông do nhà sư Tuệ Viễn sáng lập ở Trung Quốc vào cuối thế
kỷ IV. Tịnh Độ Tông chủ trương thờ Tam bảo (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại
Thế Chí) và niệm Phật, dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu. Đây là tông
phái mang tính phổ quát, dân giã nên thu hút đông đảo tín đồ. Cũng như Mật
Tông, Tịnh Độ Tông có những nét rất gần gũi với người dân lao động. Với
trình độ tư duy có hạn, người dân không thấu hiểu được sự cao siêu của giáo
lý Phật giáo, bằng tấm lòng thành kính, họ mong được Phật chứng giám để
phù hộ che chở, giúp họ có được sức mạnh, niềm tin để có thể chiến thắng
được trở ngại trong cuộc sống trần thế, dắt họ vào cõi cực lạc.
Thiền Tông vào nước ta từ những thế kỷ đầu công nguyên, nhưng mãi
đến thế kỷ VI vai trò của nó mới thể hiện rõ và phát triển thành các hệ phái:
Tỳ-ni-đa-lưu-chi do thiền sư Tỳ-ny-đa-lưu-chi đến Việt Nam lập ra năm 580.
mình.
Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, với nhân dân. Nhân dân
thực sự là nguồn lực, là sức sống của Phật giáo Việt Nam. Nếu tăng ni, phật
tử thoát khỏi truyền thống tu hành gắn liền với tấm lòng yêu nước thì chuốc
lấy sự thờ ơ, lạnh nhạt của nhân dân, uy tín của Phật giáo sẽ giảm sút. Trong
thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ xây dựng đất nước, Phật giáo
Việt Nam luôn giữ được phương châm "tốt đời đẹp đạo" và thực hiện "đạo
pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Đặc trưng này đã làm cho Phật giáo Việt
Nam khác với Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, tuy rằng nó có chịu ảnh hưởng
lớn về nhiều mặt, cả về giáo lý cũng như cách tu hành.
Phật giáo Việt Nam không rập khuôn theo con đường Phật giáo của các
nước, kể cả các nước láng giềng đang coi đạo Phật là quốc giáo. Phật giáo
Việt Nam không ham chuộng sự bay bổng hoặc thực tiễn thái quá như Phật
giáo Ấn Độ và cũng không duy lý, nặng tính thần bí, mê tín như Phật giáo
23
Trung Quốc, Mông Cổ. Phật giáo Việt Nam gắn liền với dân tộc, với làng quê
và thôn xóm. Đó là tâm linh, tín ngưỡng của số đông các tầng lớp trong xã hội
không có phân biệt giàu nghèo, giai cấp thống trị hay bị trị. Phật giáo Việt
Nam chung sống hoà đồng với các đạo khác như đạo Nho, đạo Lão và các
hình thức tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam.
Trước khi Phật giáo du nhập, ở Việt Nam đã có tín ngưỡng dân gian
như thờ cúng tổ tiên, thần linh Cùng với quá trình tiếp thu và phát triển Phật
giáo, nhân dân ta đã kết hợp để cùng phát triển với tín ngưỡng dân gian và
phù hợp với đời sống tâm linh của dân tộc mình. Phật giáo và tín ngưỡng dân
gian nương tựa vào nhau cùng phát triển. Tục thờ mẫu gắn liền với chùa làng,
nhiều chùa có ban thờ mẫu để tiện cho các tín đồ và đông đảo người ngưỡng
mộ vừa có thể đi chùa, vừa đi lễ phủ. Các nhân thần Việt Nam cũng được thờ
trong một số chùa. Không ít người quy y Phật khi qua đời cũng được để ảnh
hoặc bài vị ở một khu thờ riêng trong chùa.
là tu tập kiên trì để đạt tới cõi Niết bàn không còn đau khổ và bất công. Phật
giáo Việt Nam nhấn mạnh nguyên nhân của nỗi khổ là do chính con người và
xã hội nên Phật giáo Việt Nam thường coi việc đạo chính là cuộc đời. Con
đường thoát khổ là con đường đấu tranh diệt ác, tu nhân tích đức thành người
lương thiện và khuyến khích con người làm việc thiện dưới nhiều hình thức
phù hợp với hoàn cảnh của mỗi người. Những việc ích nước lợi dân, những
vấn đề quan hệ tới quốc gia, dân tộc thì Phật giáo Việt Nam không bao giờ
đứng ngoài cuộc. Phật giáo Việt Nam coi trọng tâm, đức phù hợp với giá trị
đạo đức truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam.